MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Chăn nuôi là một ngành chính trong sản xuất nông nghiệp. Sản phẩm chăn nuôi không chỉ phục vụ trực tiếp nhu cầu hàng ngày của con ngƣời về thịt, trứng, sữa. mà còn có thể xuất khẩu, đem lại nguồn thu lớn.
Với ngành chăn nuôi thì chăn nuôi trâu bò giữ một vị trí quan trọng, ngoài cung cấp sức cày kéo và phân bón còn cung cấp thực phẩm quí cho xã hội (thịt, sữa). Khi đời sống của ngƣời dân càng cao thì nhu cầu về thịt, sữa ngày càng tăng thúc đẩy chăn nuôi trâu bò ngày càng phát triển. Để phát triển đàn bò, bên cạnh giải pháp giống thì vấn đề đáp ứng đầy đủ lƣợng thức ăn thô quanh năm và cân đối dinh dƣỡng là vấn đề quyết định. Với huyện Nguyên Bình, là một huyện miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng, diện tích đất tự nhiên chủ yếu là đồi núi thì chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, dê) là một trong những thế mạnh của huyện.
Trong những năm gần đây chƣơng trình phát triển nhằm tăng số lƣợng và chất lƣợng đàn bò đƣợc triển khai rộng khắp, nhƣng nguồn thức ăn thô xanh chính cung cấp cho đàn bò chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên. Bên cạnh đó, huyện cũng chủ trƣơng thực hiện giao đất giao rừng cho hộ nông dân làm cho diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp lại và chất lƣợng đồng cỏ càng ngày càng giảm do không đƣợc cải tạo và chăn thả nặng , đặc biệt thiếu cỏ vào vụ Đông Xuân. Để chƣơng trình phát triển đàn bò đi vào thực chất cần phải nâng cao diện tích trồng cỏ , chế biến cỏ và tận thu sản phẩm phụ nô ng nghiệp làm thức ăn thông qua các giải pháp chế biến, bảo quản, dự trữ thức ăn cho vụ đông thực sự là vấn đề cấp bách. Xã Thành Công thuộc huyện Nguyên Bình , tỉnh Cao Bằng là một xã có truyền thống chế biến sản phẩm tinh bột dong riềng.
Hàng năm lƣợng sản phẩm phụ của nghề chế biến tinh bột dong là bã dong riềng rất lớn (4.115 tấn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Trong số đó chỉ có một lƣợng nhỏ bã dong riềng đƣợc ngƣời dân sử dụng chăn nuôi lợn, phần lớn lƣợng bã còn lại bị thải bỏ do thối mốc làm ô nhiễm môi trƣờng sống trong khi vào vụ chế biến tinh bột dong riềng cũng là lúc chăn nuôi trâu bò gặp nhiều khó khăn về nguồn thức ăn thô xanh. Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng bã dong riềng làm thức ăn nuôi trâu bò trở thành vấn đề có tính thực tế rất cao trong hoàn cảnh địa phƣơng huyện Nguyên Bình vì không chỉ góp phần giải quyết tình trạng căng thẳng về thiếu thức ăn cho bò vụ Đông Xuân mà còn góp phần bảo vệ môi trƣờng, tạo điều kiện hỗ trợ thúc đẩy kinh tế xã hội địa phƣơng phát triển đồng bộ. Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên , chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sử dụng bã dong riềng làm thức ăn bổ sung nuôi bò thịt tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá chất lƣợng bã dong riềng trƣớc và sau khi chế biến. - Thử nghiệm giải pháp chế biến , bảo quản bã dong riềng có bổ sung urê để sử dụng làm thức ăn cho bò thị t. - Xác định đƣợc hiệu quả và khả năng sử dụng bã dong sau khi chế biến làm thức ăn bổ sung cho bò đang sinh trƣởng và bò già thải loại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
CƠ SỞ KHOA HỌC Bò Cao Bằng, bò Thanh Hóa, bò Lạng Sơn, bò Nghệ An, bò Mèo (Hà Giang), bò Phú Yên. hầu hết đều có lông, da màu vàng và đƣợc gọi chung là bò Vàng Việt Nam. Bò Vàng Việt Nam có thể xuất phát từ Châu Á, có u (Bos indicus). Bò đƣợc nuôi để lấy thịt, cày kéo và lấy phân.
Khối lƣợng trƣởng thành: con đực nặng 250 - 280kg, con cái 160 - 180kg và có khoảng 20% có khối lƣợng lớn hơn 200kg. Khả năng sinh sản tƣơng đối tốt: tuổi đẻ lứa đầu khá sớm (30 - 32 tháng), nhịp đẻ khá mau (13 - 15 tháng/lứa). Sản lƣợng sữa thấp (300 - 400kg/chu kỳ), tỷ lệ mỡ sữa cao (5,5%). Tốc độ sinh trƣởng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp (45%) (Dƣơng Mạnh Hùng, 2007) [13].
Bò là đối tƣợng vật nuôi quan trọng bậc nhất trong nhóm gia súc nhai lại do chúng có những đặc điểm sinh lý khác biệt. Đặc điểm tiêu hóa ở gia súc nhai lại Đƣờng tiêu hoá của bò cũng tƣơng tự nhƣ các gia súc nhai lại khác, là một ống thông từ miệng đến hậu môn. Chức năng cơ bản của từng bộ phận trong đƣờng tiêu hoá ở bò cũng tƣơng tự nhƣ ở gia súc dạ đơn, nhƣng đồng thời có những nét đặc thù riêng của gia súc nhai lại. Hệ thống tiêu hóa của gia súc nhai lại đƣợc đặc trƣng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi: Ba túi trƣớc (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) gọi là dạ dày trƣớc, không có tuyến tiêu hóa riêng.
Túi thứ tƣ là dạ múi khế, tƣơng tự nhƣ dạ dày của của động vật dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hóa phát triển. Tính đặc thù của đƣờng tiêu hoá ở gia súc nhai lại là kết quả của quá trình tiến hoá theo hƣớng tiêu hoá cỏ và thức ăn thô nhờ sự cộng sinh của vi sinh vật tại dạ cỏ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Dạ cỏ là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, chiếm 85 - 90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đƣờng tiêu hóa. Dạ cỏ có tác dụng tích trữ, nhào trộn và lên men phân giải thức ăn.
Thức ăn sau khi nuốt xuống dạ cỏ, phần lớn đƣợc lên men bởi hệ VSV cộng sinh ở đây. Ngoài chức năng lên men, dạ cỏ còn có vai trò hấp thu. Các ABBH sinh ra từ quá trình lên men VSV đƣợc hấp thu qua vách dạ cỏ vào máu và trở thành nguồn năng lƣợng cho vật chủ (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2005) [37]. Dạ cỏ có môi trƣờng thuận lợi cho VSV lên men yếm khí, dinh dƣỡng đƣợc bổ sung đều đặn từ thức ăn (Nguyễn Trọng Tiến và cs, 1996, 2001) [30] [31].
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006 [33] cho biết dạ cỏ hội đủ các điều kiện thuận lợi cho hoạt động lên men yếm khí của quần thể VSV sống cộng sinh đó là: Độ pH gần nhƣ trung tính và tƣơng đối ổn định nhờ tác dụng đệm của muối photphat và bicacbonat của nƣớc bọt. Nhiệt độ dạ cỏ khá ổn định, dao động trong khoảng 38 - 42oC, không phụ thuộc vào thức ăn. Đây là khung nhiệt độ tối thích hợp cho sự lên men VSV. Môi trƣờng dạ cỏ là môi trƣờng yếm khí, nồng độ O2 thấp hơn 1%, nồng độ CO2 cao lên tới 50 - 70% và phần còn lại là CH4.
Độ ẩm trong dạ cỏ cao ở trạng thái bão hòa hơi nƣớc và khá ổn định nhờ vào vai trò điều hòa của nƣớc bọt và nƣớc uống, nƣớc trong thức ăn đi vào thƣờng xuyên. Nhu động dạ cỏ yếu nên thức ăn lƣu lại lâu, tạo điều kiện lên men VSV. Các sản phẩm của quá trình lên men thƣờng xuyên đƣợc trao đổi qua thành dạ cỏ, đã tạo ra sự chênh lệch nồng độ cơ chất luôn luôn thích hợp cho quá trình lên men VSV (Brancroft và cs, 1994) [41]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
Hệ vi sinh vật dạ cỏ Hệ VSV dạ cỏ rất phức tạp phụ thuộc nhiều vào khẩu phần ăn của gia súc. Khi khẩu phần ăn của gia súc giàu thức ăn tinh thì mật độ VSV cao và khẩu phần ăn giàu thức ăn xơ thì mật độ này giảm (Hobson, 1988) [48] (Preston và Leng, 1991) [26]. Hệ VSV dạ cỏ gồm 3 nhóm chính: vi khuẩn (Bacteria), động vật nguyên sinh (Protozoa) và nấm (Fungi). Số lƣợng VSV dạ cỏ rất lớn vào khoảng 10 9 - 1011 VSV/gam chất chứa, chúng sinh sản rất nhanh từ 4 - 6 thế hệ trong vòng 24 giờ.
Vì thế sự tăng sinh khối VSV trong dạ cỏ rất nhanh tới 300 g protein VSV/ngày đêm ở bò vàng (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [33]. Vi Khuẩn (bacteria): Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ động vật nhai lại ở lứa tuổi còn non. Thông thƣờng vi khuẩn chiếm số lƣợng lớn trong VSV dạ cỏ và đóng vai trò chính trong quá trình tiêu hóa xơ. Trong dạ cỏ vi khuẩn ở thể tự do (trôi nổi trong dịch dạ cỏ) chiếm khoảng 30%, còn phần lớn (70%) bám vào các mẩu thức ăn hoặc trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô bám vào protozoa (Preston và Leng, 1991) [26], Bùi Văn Chính và cs, 1995 [6]).
Thức ăn liên tục chuyển khỏi dạ cỏ và phần lớn vi khuẩn bám vào thức ăn cũng nhƣ một phần VSV trôi nổi trong dịch dạ cỏ sẽ đƣợc tiêu hóa ở ruột. Do đó số lƣợng VSV ở dạng tự do còn lại trong dịch dạ cỏ rất quan trọng trong việc tiếp tục sinh sôi phát triển và lên men thức ăn. Tốc độ sinh sản của chúng rất nhanh, vì vậy mặc dù luôn có một lƣợng lớn Bacteria bám vào thức ăn bị tiêu hóa ở dạ múi khế và ruột, song số lƣợng của chúng trong dạ cỏ không bị giảm đi (Từ Quang Hiển, 2002) [11]. Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ và thành phần vi khuẩn, trong đó khẩu phần ăn là yếu tố quan trọng nhất (Preston và Leng (1991) [26]).
Vi khuẩn phân giải cellulose: vi khuẩn nhóm này có khả năng sản sinh ra enzym cellulaza thủy phân cellulose tự nhiên. Vi khuẩn phân giải cellulose Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 có số lƣợng rất lớn trong dạ cỏ của những loài gia súc ăn khẩu phần giàu cellulose. Những loài vi khuẩn phân giải cellulose quan trọng nhất là Bacteroides succinogenes, Butyvibrio fibrisolvens, Ruminococcus flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium cellulosovens (Dehority, 1993) [44], (Pell và Schofeild, 1993) [62]. Vi khuẩn phân giải hemicellulose: Những vi khuẩn có khả năng thủy phân cellulose cũng có khả năn sử dụng hemicellulose.
Ngƣợc lại, không phải tất cả các loài sử dụng đƣợc hemicellulose đều có khả năng thủy phân cellulose. Các loài phân giải hemicellulose điển hình là Butyvibrio fibrisolvens, Lachnospira multiparus và Bacteroides ruminicola (White và cs, 1993) [71]. Vi khuẩn phân giải protein: Sự phân giải protein và acid amin để sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về phƣơng diện tiết kiệm nitơ cũng nhƣ nguy cơ dƣ thừa amoniac.