Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học 1. Cơ sở khoa học về việc sử dụng phân bón lá Cây trồng hấp thu dinh dưỡng qua bộ rễ để nuôi cây nhưng trong đất hàm lượng dinh dưỡng cung cấp cho cây không đủ, lượng chất khoáng vào lá phụ thuộc vào tốc độ khô của dinh dưỡng, khả năng tan của muối, tốc độ xâm nhập ion.
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp bón phân bằng cách phun phân lên lá để trực tiếp hấp thu chất dinh dưỡng qua các lỗ khí khổng đã thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Tác dụng của phân bón qua lá cung cấp nhanh và kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng cần thiết cho cây, đặc biệt tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Phân bón lá gồm 3 thành phần chính: nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng. Ngoài ra còn một số chất kích thích sinh trưởng.
Để tăng khả năng đậu hoa, quả cần phun các chất dinh dưỡng lên lá vào giai đoạn trước khi hình thành nụ, và lúc tàn hoa nhằm bổ sung kịp thời dinh dưỡng cho cây, giảm bớt rụng quả sinh lý. Cơ sở khoa học về vật liệu bao quả Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những nước có nhiều loại trái cây phong phú và đa dạng. Các sản phẩm trái cây của nước ta không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn trở thành mặt hàng xuất khẩu được nhiều nước ưa chuộng. Hàng năm nước ta thu về hàng trăm triệu USD từ việc xuất khẩu trái cây.
Tuy nhiên, việc xuất khẩu vẫn có nhiều hạn chế, mà nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng hư hỏng của trái cây trước và sau khi thu hoạch còn rất cao, chiếm tới hơn 20% tổng sản lượng. Đây là một tổn thất đáng kể với người nông dân vì vậy sử dụng vật liệu bao quả phù hợp để chống lại sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất e 6 thuận để từ đó góp phần tăng năng suất chất lượng quả. Hiện nay có nhiều loại vật liệu bao quả chuyên dụng hay túi lưới dùng cho bao quả có giá thành khá phù hợp với khả năng đầu tư của người dân. Sử dụng hợp lý các loại vật liệu bao quả thân thiện với môi trường, có khả năng tự phân hủy khi chôn vùi vào đất hoặc không thải ra các chất độc hại khi phân hủy bằng nhiệt.
Không sử dụng các vật liệu bao quả có chứa chất trong hạng mục cấm sử dụng, tẩm hóa chất độc hại để tránh nhiễm độc vào quả, cây, gây hại cho người và gia súc khi ăn phải. Hướng tới một nền nông nghiệp xanh, nông thôn bền vững. Cơ sở khoa học về việc sử dụng chế phẩm thảo mộc Chế phẩm thảo mộc chiết xuất từ các loại cây cỏ, thảo mộc. ức chế quá trình phát triển của sâu bệnh được coi là một xu hướng sản xuất sạch.
Ít độc hại với người và môi trường, bản chất của chế phẩm thảo mộc là thuốc có nguồn gốc thảo mộc, không tạo nên tính kháng của dịch hại, không ảnh hưởng đến thiên địch và không để lại dư lượng trên cây trồng. Chế phẩm chứa hàm lượng axit của các loại củ, quả như: ớt, tỏi, hành, gừng. khi phun sẽ có tác động đến các bộ phận như mắt, da, gây sự ngán ăn, xua đuổi, ngăn sự lột xác của côn trùng cũng như ngăn cản sự đẻ trứng là giảm khả năng sinh sản. Do ít độc với các loài thiên địch nên chế phẩm thảo mộc bảo vệ được sự cân bằng sinh học trong tự nhiên (cân bằng giữa thiên địch và sâu hại), ít gây tình trạng bùng phát sâu hại.
Do ít độc với người và mau phân hủy trong tự nhiên, các chế phẩm thảo mộc ít để lại dư lượng độc trên nông sản. Nguồn gốc, phân bố Cây thanh long có tên khoa học Hylocereus ssp. ngoài tên phổ thông là dragon fruit còn có tên như pitahaya. Thanh long thuộc họ xương rồng (Cactaceae), khác với các cây xương rồng có mủ trắng.
Có nguồn gốc ở Nam Mỹ nhưng được phát triển ở các vùng nhiệt đới trên thế giới. Trên thế giới, cây thanh long được xem như là một cây ăn quả mới được phát hiện trong những năm gần đây. Cây thanh long được trồng ở Nicaragoa và vùng khí hậu nhiệt đới ở một số nước, trong đó có Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan [9]. e 7 Theo Peter Lo (2001), thanh long được người Pháp du nhập vào Việt Nam cách đây trên 100 năm nhưng mới được đưa lên thành hàng hóa từ thập niên 1980.
Trước đây thanh long chỉ được trồng dành cho nhà vua và các gia đình quý tộc [13]. Giá trị dinh dưỡng Thanh long là một trong những loại trái cây giàu năng lượng, giàu chất dinh dưỡng như kali, phospho, nhiều vi lượng, đây là loại trái cây cho tất cả các chế độ ăn có bổ sung chất xơ mà rất tốt cho gan, nhuận tràng. Quả Thanh long có nhiều nước, chứa nhiều lycopene - một chất chống oxy hóa tự nhiên có thể chống ung thư, bệnh tim, huyết áp thấp và loại thanh long có thịt màu đỏ tươi chứa nhiều vitamin C có tác dụng chống lão hóa và rất phù hợp với người có tuổi và béo phì [8]. Thành phần dinh dưỡng có trong Thanh long Trung bình trong 100 g ruột ăn được Hylocereus Hylocereus Selenicereus Thành phần undatus polyrhizu megalanthus (Vỏ đỏ, ruột (Vỏ đỏ, ruột (Vỏ vàng, ruột trắng) đỏ) trắng) Nước (g) 89,4 82,5-83 85,4 Protein (g) 0,5 0,159-0,229 0,5 Chất béo (g) 0,1 0,21-0,61 0,1 Chất xơ (g) 0,3 0,7-0,9 0,5 Tro (g) 0,5 0,28 0,4 Calcium (mg) 6 6,3-6,8 10 Phosphor (mg) 19 30,2-36,1 16 Sắt (mg) 0,4 0,55-0,65 0,3 Vitamin A (mg - 0,005-0,0012 - Vitamin B1 (mg) - 0,028-0,043 - Vitamin B2 (mg) - 0,043-0,045 - Vitamin B3(mg 0,2 1,297-1,3 0,2 Vitamin C (mg) 25 8-9 4 Độ Brix 11-19 - - Nguồn: ICBF, 1992 Table de Composicion de Alimentos.
From: EI cultivo de Pitaya y su posicionmiento en el mercardo [21] e 8 1. Một số đặc điểm sinh học của cây thanh long 1. Đặc điểm thực vật học, sinh lý cây thanh long 1. Rễ Cây thanh long có hai loại rễ: địa sinh và khí sinh.
Rễ địa sinh là loại rễ chính phát sinh từ phần lõi của gốc hom, những rễ lớn đạt đường kính từ 1 - 2 cm, có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây, tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt từ 0 - 30 cm. Rễ khí sinh là loại rễ mọc dọc theo đoạn thân cây phần trên mặt đất, có nhiệm vụ giữ cho cây bám chặt và giúp cây leo lên giá đỡ, góp phần vào việc hút nước, chất dinh dưỡng nuôi cây. Những rễ khí sinh mọc gần mặt đất thường đi vào trong đất và trở thành rễ địa sinh [5]. Thân, cành Thân chứa nhiều nước nên có thể chịu hạn trong một thời gian dài.
Thân, cành thanh long bò trên trụ đỡ. Thân cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi bốn cánh. Mỗi cánh chia làm nhiều thùy có chiều dài 3 - 4 cm. Đáy mỗi thùy có từ 3 - 5 gai ngắn.
Mỗi năm cây có từ 3 - 4 đợt cành, đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế cành xếp từng lớp trên đầu trụ. Khoảng cách giữa hai đợt ra cành là 40 - 50 ngày. Số lượng cành trên cây tăng theo độ tuổi của cây: cây 1 tuổi trung bình có 30 cành, 2 tuổi 70 cành, 3 tuổi 100 cành, 4 tuổi 130 cành, ở cây 5 - 6 tuổi chỉ duy trì 150 - 170 cành [6]. Hoa Sau khi trồng 1 - 2 năm, thanh long bắt đầu ra hoa, Từ năm thứ 3 trở đi, cây ra hoa ổn định.
Hoa mọc từ các đoạn cành trưởng thành, là những cành có thời gian sinh trưởng khoảng 100 ngày tuổi, hoa chủ yếu tập trung ở các mắt đến ngọn cành [5]. Hoa thanh long là hoa lưỡng tính, rất to, cánh hoa màu trắng ngà, có chiều dài trung bình 25 - 35 cm, hoa nở về đêm [2]. Hoa thường nở tập trung từ 20 - 23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn. Thời gian từ hoa nở đến tàn từ 2 - e 9 3 ngày, từ khi xuất hiện nụ đến hoa tàn khoảng 20 ngày [7].
Hoa xuất hiện rộ nhất từ tháng 4 - 9 dương lịch, trung bình có 4 - 6 đợt hoa rộ mỗi năm [3]. Quả Quả thanh long hình thành sau khi hoa được thụ phấn. Trong 10 ngày đầu quả lớn chậm, sau đó quả lớn rất nhanh. Thời gian từ khi hoa thụ phấn đến thu hoạch chỉ từ 22 - 25 ngày.
Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh do phiến hoa còn lại, đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Lúc còn non vỏ màu xanh, khi chín vỏ chuyển sang màu đỏ tím rồi đỏ đậm [7]. Thịt quả màu trắng đục hoặc màu hồng đậm xen những hạt đen như mè, có mùi vị thơm dịu, ngọt vừa phải, ít cung cấp Calo. Vỏ thanh long chiếm 5 - 7% khối lượng quả.
Khối lượng quả trung bình từ 200 - 700 g, hiện nay do bà con nhà vườn thâm canh cao nên có nhiều quả lớn trên 1 kg [3]. Yêu cầu sinh thái cây thanh long 1. Nhiệt độ Thanh long là cây nhiệt đới, chịu hạn giỏi và không chịu được giá lạnh, không chịu úng vì thế thanh long thích hợp với nhiệt độ từ 210C - 290C và giới hạn tối đa là 38 - 400C [8]. Độ dài ngày Cây thanh long nở hoa trong điều kiện ngày dài.
Cây không đủ ánh sáng ban ngày phát triển kém, thân yếu và cây không cho trái. Chúng thích hợp khi trồng ở những nơi có cường độ ánh sáng mạnh [7]. Nước Cây có khả năng chịu hạn nhưng không chịu được úng. Cung cấp đầy đủ nước cây tăng trưởng và phát triển tốt, cho nhiều quả.
Nước đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu ra hoa, nở rộ và giai đoạn hình thành trái. Nhu cầu về lượng mưa trung bình từ 600 - 2.000 mm/năm, nếu vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng hoa và thối trái. Đất Thanh long mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu, đất phèn hoặc đất đỏ latosol… ngoài ra cây còn có khả năng thích ứng với các độ chua (pH) của đất rất khác nhau. Tuy nhiên để trồng thanh long đạt hiệu quả cao nên chọn các chân đất có tầng canh tác dày tối thiểu 30 - 50 cm, đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, đất phèn nhẹ hoặc đất phù sa phủ trên nền phèn có PH từ 5,5 - 6,5.