Luận án tiến sĩ: Biện pháp kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt tại miền Đông Nam Bộ

Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu biện pháp kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt Garcinia mangostana L tại miền Đông Nam Bộ.

Chuyên ngành

Khoa học Cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

229
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm tạ

Tóm tắt/ Summary

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình, đồ thị

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về cây măng cụt

1.2. Nguồn gốc, công dụng, tình hình sản xuất và tiêu thụ măng cụt

1.3. Đặc điểm thực vật cây măng cụt

1.4. Yêu cầu sinh thái cây măng cụt

1.5. Các nghiên cứu về kỹ thuật canh tác cây măng cụt

1.6. Những hạn chế về kỹ thuật canh tác cây măng cụt chưa khắc phục được

1.7. Tổng quan vùng nghiên cứu miền Đông Nam Bộ

1.8. Khí hậu, thời tiết

1.9. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa măng cụt

1.9.1. Yếu tố nội sinh

1.9.1.1. Chất dinh dưỡng và chất đồng hóa (hay tỷ số C/N)
1.9.1.2. Chất điều hòa sinh trưởng nội sinh

1.9.2. Yếu tố ngoại sinh

1.9.2.1. Yếu tố môi trường
1.9.2.2. Biện pháp canh tác

1.10. Kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho măng cụt

1.10.1. Tạo lá mới nhiều và sớm cho cây măng cụt

1.10.1.1. Sự ra hoa của măng cụt phụ thuộc vào sự hình thành lá mới trước đó
1.10.1.2. Vai trò kích thích ra chồi lá của GA3
1.10.1.3. Vai trò kích thích ra chồi lá của BAP
1.10.1.4. Vai trò kích thích ra chồi lá của Urea

1.10.2. Thúc đẩy phân hóa mầm hoa cho cây măng cụt

1.10.2.1. Thúc đẩy phân hóa mầm hoa bằng cách tạo khô hạn
1.10.2.2. Thúc đẩy phân hóa mầm hoa bằng cách phun hóa chất
1.10.2.3. Thúc đẩy phân hóa mầm hoa bằng cách tưới hóa chất

1.10.3. Kích thích cây ra hoa

1.10.3.1. Kích thích cây ra hoa bằng biện pháp tưới nước
1.10.3.2. Kích thích cây ra hoa bằng biện pháp phun Nitrate kali (KNO3)

2. Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Nội dung 1: Thí nghiệm 1 - Ảnh hưởng của GA3, BAP và Urea đến sự ra lá mới trên cây măng cụt

2.2.2. Nội dung 2: Thí nghiệm 2 - Ảnh hưởng của thời gian ngưng tưới nước và một số hóa chất phun lá (Paclobutrazol, MKP, Ethephon, KClO3) đến sự phân hóa mầm hoa và ra hoa măng cụt trong điều kiện xử lý ra hoa sớm

2.2.3. Nội dung 3: Thí nghiệm 3 - Ảnh hưởng của thời gian ngưng tưới nước và một số hóa chất tưới gốc (Paclobutrazol, KClO3) đến sự phân hóa mầm hoa và ra hoa măng cụt trong điều kiện xử lý ra hoa sớm

2.2.4. Nội dung 4: Thí nghiệm 4 - Ảnh hưởng của một số hóa chất phân hóa mầm hoa (Paclobutrazol, Ethephon, KClO3 và MKP) và nồng độ phun KNO3 đến khả năng ra hoa măng cụt trong điều kiện xử lý ra hoa sớm

2.2.5. Nội dung 5: Mô hình xử lý ra hoa sớm cây măng cụt

2.3. Phương pháp thu thập số liệu

2.4. Phương pháp xử lý số liệu

3. Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nội dung 1: Thí nghiệm 1 - Ảnh hưởng của GA3, BAP và Urea đến sự ra lá mới trên cây măng cụt

3.1.1. Thời điểm xuất hiện lá mới

3.1.2. Số chồi có lá mới hình thành/m2 diện tích bề mặt tán cây

3.1.3. Hàm lượng C, N và tỷ số C/N trong chồi thuần thục trước ra hoa

3.1.4. Số hoa hình thành

3.2. Nội dung 2: Thí nghiệm 2 - Ảnh hưởng của thời gian ngưng tưới nước và một số hóa chất phun lá (Paclobutrazol, MKP, Ethephon, KClO3) đến sự phân hóa mầm hoa và ra hoa măng cụt trong điều kiện xử lý ra hoa sớm

3.2.1. Thời điểm ra hoa

3.2.2. Số hoa hình thành/m2 diện tích bề mặt tán cây

3.2.3. Thời điểm thu hoạch

3.2.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.2.5. Chất lượng quả

3.2.6. Hiệu quả kinh tế

3.3. Nội dung 3: Thí nghiệm 3 - Ảnh hưởng của thời gian ngưng tưới nước và một số hóa chất tưới gốc (Paclobutrazol, KClO3) đến sự phân hóa mầm hoa và ra hoa măng cụt trong điều kiện xử lý ra hoa sớm

3.3.1. Thời điểm ra hoa

3.3.2. Số hoa hình thành/m2 diện tích bề mặt tán cây

3.3.3. Thời điểm thu hoạch

3.3.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.3.5. Chất lượng quả

3.3.6. Ảnh hưởng của biện pháp xử lý đến sinh trưởng rễ

3.3.7. Hiệu quả kinh tế

3.4. Nội dung 4: Thí nghiệm 4 - Ảnh hưởng của một số hóa chất phân hóa mầm hoa (Paclobutrazol, Ethephon, KClO3 và MKP) và nồng độ phun KNO3 đến khả năng ra hoa măng cụt trong điều kiện xử lý ra hoa sớm

3.4.1. Hàm lượng gibberellin trong chồi thuần thục

3.4.2. Hàm lượng C, N và tỷ số C/N trong chồi thuần thục

3.4.3. Hàm lượng diệp lục tố trong lá thuần thục

3.4.4. Thời điểm ra hoa

3.4.5. Số hoa hình thành/m2 diện tích bề mặt tán cây

3.4.6. Tỷ lệ hoa đậu quả

3.4.7. Thời điểm thu hoạch

3.4.8. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.4.9. Chất lượng quả

3.4.10. Hiệu quả kinh tế

3.5. Nội dung 5: Kết quả mô hình xử lý ra hoa sớm cây măng cụt

3.5.1. Thời điểm ra hoa và khoảng thời gian ra hoa

3.5.2. Số hoa hình thành

3.5.3. Tỷ lệ hoa đậu quả

3.5.4. Thời điểm thu hoạch và khoảng thời gian thu hoạch

3.5.5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.5.6. Chất lượng quả

3.5.7. Hiệu quả kinh tế xử lý ra hoa sớm

3.5.8. Quy trình kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt (Garcinia mangostana L.) ở miền Đông Nam Bộ

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Kỹ thuật xử lý ra hoa sớm

Nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụtmiền Đông Nam Bộ. Các biện pháp bao gồm sử dụng hóa chất như BAP, GA3, và Urea để kích thích ra lá mới, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra hoa. Kết quả cho thấy việc phun BAP (20 ppm) hoặc GA3 (50 ppm) giúp cây hình thành nhiều lá mới hơn so với đối chứng, từ đó tăng tỷ lệ C/N trong chồi và số hoa hình thành.

1.1. Ảnh hưởng của hóa chất

Các hóa chất như BAP, GA3, và Urea được sử dụng để kích thích ra lá mới. Phun BAP (20 ppm) hoặc GA3 (50 ppm) giúp cây hình thành 3 đợt lá mới trong vụ, so với 2 đợt ở đối chứng. Điều này làm tăng tỷ lệ C/N trong chồi và số hoa hình thành, với phương trình hồi quy Số hoa = 1,5926 (C/N) – 12,016 tại Cẩm Mỹ và Số hoa = 1,7516 (C/N) – 13,729 tại Dầu Tiếng.

1.2. Ngưng tưới nước

Ngưng tưới nước trong 60 ngày kết hợp với phun Paclobutrazol 1.000 ppm cho kết quả tốt nhất về số hoa, số quả và năng suất. Ngưng tưới 40 ngày kết hợp với phun Ethephon 200 ppm giúp giảm tỷ lệ quả bị sượng và thu hoạch sớm hơn 56 ngày so với đối chứng.

II. Điều kiện sinh trưởng

Nghiên cứu xác định các điều kiện sinh trưởng tối ưu cho cây măng cụtmiền Đông Nam Bộ. Các yếu tố như thời gian ngưng tưới nước và sử dụng hóa chất được điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa và ra hoa sớm.

2.1. Thời gian ngưng tưới

Ngưng tưới nước trong 60 ngày kết hợp với tưới Paclobutrazol 2 g a./m ĐKT giúp tăng số hoa hình thành. Ngưng tưới 20 ngày kết hợp với tưới Paclobutrazol 2 g a./m ĐKT cho độ brix thịt quả cao nhất. Ngưng tưới 40 ngày kết hợp với tưới Paclobutrazol 1,5 g a./m ĐKT giúp tăng số quả/cây, năng suất và hiệu quả kinh tế.

2.2. Sử dụng hóa chất

Phun MKP 0,5% kết hợp với phun KNO3 1,5% giúp tăng tỷ lệ đậu quả. Tưới Paclobutrazol 1,5 g a./m ĐKT kết hợp với phun KNO3 1% cho hiệu quả kinh tế cao nhất, giúp măng cụt ra hoa sớm hơn 55 ngày và tăng năng suất 25,48% so với đối chứng.

III. Quy trình xử lý ra hoa sớm

Nghiên cứu đề xuất một quy trình xử lý ra hoa sớm hiệu quả cho cây măng cụtmiền Đông Nam Bộ. Quy trình bao gồm ba bước chính: phun BAP (20 ppm) để kích thích ra lá mới, tưới Paclobutrazol (1,5 g a./m ĐKT) kết hợp ngưng tưới nước 40 ngày để thúc đẩy phân hóa mầm hoa, và phun KNO3 (1%) kết hợp tưới nước trở lại để kích thích ra hoa.

3.1. Bước 1 Kích thích ra lá mới

Phun BAP (20 ppm) giúp kích thích cây ra lá mới, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra hoa. Kết quả cho thấy cây hình thành nhiều lá mới hơn so với đối chứng, từ đó tăng tỷ lệ C/N trong chồi và số hoa hình thành.

3.2. Bước 2 Thúc đẩy phân hóa mầm hoa

Tưới Paclobutrazol (1,5 g a./m ĐKT) kết hợp ngưng tưới nước 40 ngày giúp thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa. Kết quả cho thấy số hoa hình thành tăng đáng kể, giúp cây ra hoa sớm hơn 59 ngày so với đối chứng.

3.3. Bước 3 Kích thích ra hoa

Phun KNO3 (1%) kết hợp tưới nước trở lại giúp kích thích cây ra hoa. Kết quả cho thấy số hoa hình thành tăng 16,68% và năng suất tăng 9,24% so với đối chứng, giúp tăng lợi nhuận lên 124,79 triệu đồng/ha/vụ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu biện pháp kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt garcinia mangostana l ở miền đông nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Măng cụt (Garcinia mangostana L.) là loài cây ăn quả nhiệt đới có phẩm chất ngon và quen thuộc tại Đông Nam Á. Do có yêu cầu sinh thái khắt khe nên trên thế giới chỉ có một số ít nước sản xuất được măng cụt như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam, các quốc gia khác có diện tích măng cụt không đáng kể. Đến nay toàn thế giới có khoảng 105.000 ha măng cụt với sản lượng khoảng 480. Tuy ít nhưng người dân trên khắp thế giới rất ưa chuộng măng cụt.

Ngoài ăn tươi, loại quả này còn là nguyên liệu có giá trị cho ngành sản xuất dược liệu. Vì vậy mà măng cụt được xem là loại quả hiếm và có giá trị thương mại cao. Măng cụt cũng là loại quả dễ tồn trữ sau thu hoạch, có thể vận chuyển xa nên ngoài tiêu thụ nội địa, măng cụt còn có nhiều cơ hội xuất khẩu với thị trường rộng và sức cầu rất lớn. Có thể nói sản xuất măng cụt mang lại hiệu quả kinh tế cao nếu quá trình canh tác thuận lợi.

Do thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên tại Việt Nam măng cụt chỉ trồng được ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, một số rất ít được trồng ở miền Trung (từ Huế trở vào) và không thấy trồng ở miền Bắc. Măng cụt được xếp vào loại quả đặc sản của Quốc gia với diện tích 6.328 ha tập trung ở Nam Bộ, trong đó miền Đông Nam Bộ có khoảng 2. Hiện nay nhà vườn đang gặp một số trở ngại trong canh tác măng cụt. Những trở ngại chính gồm số hoa hình thành ít và không ổn định dẫn đến năng suất thấp; mùa vụ thu hoạch tập trung dẫn đến giá bán thấp và bị động trong tiêu thụ.

Từ đó dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Trong mùa thuận, măng cụt thu hoạch vào mùa mưa (khoảng tháng 6 – 7 dương lịch) có tỷ lệ quả bị sượng khá cao, nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân hiện tượng này là do quả trải qua quá trình chín trong mùa 2 mưa, cây ra lá non cạnh tranh dinh dưỡng với quả nên làm quả bị sượng. Việc xử lý ra hoa sớm hơn so với vụ thuận 1 – 1,5 tháng để thu hoạch trước mùa mưa sẽ góp phần quan trọng làm giảm tỷ lệ quả sượng. Vì vậy việc đề xuất quy trình xử lý ra hoa với số hoa hình thành nhiều và sớm cho măng cụt là rất cần thiết.

Thái Lan và Malaysia đã có nhiều công nghệ mới trong sản xuất măng cụt, đặc biệt là công nghệ xử lý ra hoa đã được ứng dụng. Ở Việt Nam, các viện nghiên cứu và trường đại học phía Nam đã có một số nghiên cứu về cây măng cụt nhưng chủ yếu ở mức điều tra khảo sát và thực hiện những thí nghiệm đơn lẻ về cắt tỉa cành, xử lý ra lá mới, xử lý tăng tỷ lệ ra hoa trong vụ thuận. Các nghiên cứu này cũng tập trung chủ yếu ở vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long và rất ít nghiên cứu thực hiện ở Đông Nam Bộ, trong khi Đông Nam Bộ là khu vực có những đặc thù riêng về khí hậu và đất đai so với các vùng khác nên kỹ thuật canh tác măng cụt ở đây cũng có tính khác biệt và cần có một quy trình riêng cho vùng sinh thái này. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa măng cụt như tuổi cây, tuổi lá, số lá trên chồi, nhiệt độ, phân bón, ẩm độ đất, chế độ tưới nước và hóa chất (Yaacob, 1995).

Tuy nhiên việc giúp cây ra lá mới sớm và nhiều, kiểm soát chế độ tưới nước và tác động hóa chất đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình xử lý ra hoa. Để làm rõ hơn các biện pháp xử lý ra hoa sớm cho măng cụt ở Đông Nam Bộ, đề tài “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt (Garcinia mangostana L.) ở miền Đông Nam Bộ” đã được thực hiện. Mục tiêu đề tài Đề xuất được biện pháp kỹ thuật xử lý ra hoa sớm nhằm cải thiện năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế sản xuất măng cụt cho vùng sinh thái Đông Nam Bộ, cây ra hoa và thu hoạch sớm hơn khoảng 1,5 tháng so với măng cụt ra hoa tự nhiên trong vụ thuận. Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thời điểm ra hoa, số hoa hình thành, thời điểm thu hoạch, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế sản xuất măng cụt trên vùng đất đỏ và đất phù sa ở miền Đông Nam Bộ.

3 - Phạm vi nghiên cứu: Các thí nghiệm được tiến hành qua 1 vụ quả từ năm 2013 đến năm 2016. Cây măng cụt được chọn làm thí nghiệm trong độ tuổi 10 – 15 năm sau khi trồng. Các thí nghiệm ngoài đồng được triển khai trên 2 vùng đất đại diện cho vùng măng cụt ở Đông Nam Bộ là đất đỏ và đất phù sa. - Giới hạn nghiên cứu: Do thời gian có hạn, các thí nghiệm được tiến hành qua 1 vụ nên đề tài chưa đánh giá được mức độ lưu tồn trong đất cũng như ảnh hưởng qua nhiều năm của các hóa chất được nghiên cứu.

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên cây măng cụt có độ tuổi từ 10 đến 15 năm, do độ tuổi này là phổ biến nhất tại miền Đông Nam Bộ. Măng cụt được trồng trên nhiều loại đất nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên 2 loại đất đang được trồng măng cụt phổ biến nhất là đất đỏ và đất phù sa. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Đánh giá được vai trò của BAP, GA3, Urea, Paclobutrazol, MKP, Ethephon, KClO3 và KNO3 trong việc xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ. Phân tích được hàm lượng gibberellin, C, N, tỷ số C/N trong chồi và hàm lượng diệp lục tố trong lá của cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ, là cơ sở khoa học quan trọng góp phần giải thích cơ chế ra hoa trên cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ.

- Đề xuất được quy trình xử lý ra hoa sớm cho măng cụt ở miền Đông Nam Bộ, góp phần nâng cao chất lượng, năng suất; thu hoạch sớm để chủ động trong tiêu thụ; từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trồng măng cụt tại miền Đông Nam Bộ. Những đóng góp mới của luận án 1. Đánh giá được vai trò của BAP, GA3, Urea, Paclobutrazol, MKP, Ethephon, KClO3 và KNO3 trong việc xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ. - Phun BAP 20 ppm sau thu hoạch giúp măng cụt hình thành lá mới sớm nhất và nhiều nhất so với các nghiệm thức còn lại.

Phương trình hồi qui của Số hoa hình thành và Tỷ số C/N trong chồi là Số hoa = 1,5926 (C/N) – 12,016 với R2 = 0,947 tại Cẩm Mỹ và Số hoa = 1,7516 (C/N) – 13,729 với R2 = 0,9509 tại Dầu Tiếng. 4 - Khi chồi đợt 3 đạt 40 ngày tuổi ở thời điểm 20/11: ngưng tưới nước 60 ngày và phun Paclobutrazol 1.000 ppm có số hoa, số quả và năng suất cao nhất; ngưng tưới nước 40 ngày và phun Ethephon 200 ppm có tỷ lệ quả bị sượng thấp nhất; ngưng tưới nước 40 ngày và phun Paclobutrazol 1.000 ppm có thời gian thu hoạch sớm nhất và cho hiệu quả kinh tế cao nhất, giúp măng cụt ra hoa sớm hơn 52 ngày, thu hoạch sớm hơn 56 ngày, số hoa hình thành tăng 16,97% và năng suất tăng 58,58% so với đối chứng. - Khi chồi đợt 3 đạt 40 ngày tuổi ở thời điểm 16/11: ngưng tưới nước 60 ngày và tưới Paclobutrazol 2 g a./m ĐKT có số hoa nhiều nhất; ngưng tưới nước 20 ngày và tưới Paclobutrazol 2 g a./m ĐKT có độ brix thịt quả cao nhất; ngưng tưới nước 60 ngày và tưới KClO3 40 g a./m ĐKT có tỷ lệ rễ bị chết cao nhất; ngưng tưới nước 40 ngày và tưới Paclobutrazol 1,5 g a./m ĐKT có số quả, năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất, giúp măng cụt ra hoa sớm hơn 44 ngày, thu hoạch sớm hơn 57 ngày, số hoa hình thành tăng 24,92% và năng suất tăng 158,93% so với đối chứng. - Khi chồi đợt 3 đạt 40 ngày tuổi ở thời điểm 4/12: tại Dầu Tiếng, phun MKP và phun nước không có KNO3 có hàm lượng N trong chồi thấp nhất; tại Cẩm Mỹ, phun MKP (0,5%) sau đó phun KNO3 (1,5%) có tỷ lệ đậu quả cao nhất; tưới Paclobutrazol 1,5 g a./m ĐKT sau đó phun KNO3 (1%) cho hiệu quả kinh tế cao nhất, giúp măng cụt ra hoa sớm hơn 55 ngày, thu hoạch sớm hơn 55 ngày, số hoa hình thành tăng 35,89%, năng suất tăng 25,48% so với đối chứng.

Xác định được hàm lượng gibberellin, C, N, tỷ số C/N trong chồi và hàm lượng diệp lục tố trong lá của cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ để làm cơ sở khoa học cho việc giải thích cơ chế ra hoa sớm. Cây được phun BAP 20 ppm có lá mới hình thành nhiều, tỷ số C/N trong chồi tăng, do đó số hoa hình thành nhiều hơn so với đối chứng. Cây được tưới Paclobutrazol 1,5 g a./m ĐKT có hàm lượng gibberellin trong chồi giảm, dẫn đến ra hoa nhiều và sớm so với đối chứng. Xây dựng được quy trình xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ.

So với vụ thuận, quy trình giúp măng cụt ra hoa sớm hơn 59 ngày; thu hoạch sớm hơn 56 ngày (kết thúc thu hoạch vào 28/5, trước mùa mưa); số hoa hình thành tăng thêm 18,58%; năng suất tăng 10,54%; tỷ lệ quả bị sượng giảm từ 23,81% xuống còn 13,13%; lợi nhuận tăng thêm 127,56 triệu đồng/ha/vụ. 5 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây măng cụt 1. Nguồn gốc, công dụng, tình hình sản xuất và tiêu thụ măng cụt Măng cụt (Garcinia mangostana L.) thuộc họ Bứa (Guttiferae), tên tiếng Anh là mangosteen, một số tên gọi khác như Giáng Châu, Sơn Trúc Tử, Măng.

Nguồn gốc của măng cụt được cho là từ quần đảo Malay của Indonesia (Nguyễn Văn Kế, 2014). Các nước có trồng nhiều măng cụt gồm Thái Lan (74.250 ha); Việt Nam (6. Ngoài ra còn có Philippines (khoảng 2.410 ha); Myanmar, Campuchia, Ấn Độ, Srilanka, Úc (diện tích mỗi nước không quá 1.1: Biểu đồ diện tích măng cụt (ha) của các nước trên thế giới 6 Tại Việt Nam, măng cụt chỉ được trồng ở Nam Bộ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp kỹ thuật nhằm thúc đẩy quá trình ra hoa sớm cho cây măng cụt, một loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân tối ưu hóa năng suất mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó gia tăng thu nhập. Các phương pháp được đề xuất trong tài liệu có thể áp dụng rộng rãi, mang lại lợi ích cho cả người trồng và thị trường tiêu thụ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các kỹ thuật canh tác cây ăn trái, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá chất kích thích sinh trưởng và tình hình sản xuất bưởi đào tại trang trại bùi huy hạnh xã tái sơn huyện tứ kỳ tỉnh hải dương, nơi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển của cây bưởi. Bên cạnh đó, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp bón phân kết hợp đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cây bưởi sửu tại đoan hùng phú thọ cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp bón phân hiệu quả. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn giải pháp phát triển sản xuất bưởi da xanh theo hướng bền vững trên địa bàn huyện mai sơn tỉnh sơn la, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về phát triển bền vững trong sản xuất cây ăn trái. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn canh tác.