Đặt vấn đề Cây bưởi (Citrus grandis) là một trong những loài cây ăn quả có múi được trồng khá phổ biến ở nước ta cũng như các nước khu vực châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia,. Ở Việt Nam, cây bưởi (Citrus grandis) có nhiều ưu điểm nổi bật như: Giá trị cao về dinh dưỡng trong quả, trong quả bưởi trung bình có chứa khoảng 52g calo, 0g chất béo, 0g natri, 0g cholesterol, 13g carbohydrate (bao gồm 8,5g đường và 2g chất xơ) và 1g protein. Theo nghiên cứu, trong 100g bưởi có chứa nhiều vitamin như: Vitamin C: 31,2 mg; Vitamin A: 1150IU; Vitamin E: 0,13 mg; Vitamin B1: 0,043 mg; và một số khoáng chất có lợi (Canxi, sắt, magie,. Ngoài ra, trong bưởi còn có chứa nhiều chất chống oxy hóa mạnh mẽ với Lycopene và Beta-caroten cùng với các dưỡng chất thực vật Limonoids và Naringenin (Theo USA.
Bưởi dễ trồng và chăm sóc. Bưởi có sức đề kháng tốt hơn với một số loài sâu bệnh nguy hại trên các loài cây có múi, quả có thể tồn tại trên cây một thời gian dài; quả bưởi dễ thu hoạch và bảo quản, tương đối thuận lợi trong vận chuyển. Vì thế, việc phát triển bưởi trong sản xuất có tính bền vững hơn so với các loại trái cây có múi khác. Bưởi Sửu là một giống bưởi ngon, có chất lượng cao.
Bưởi Sửu cùng với bưởi Bằng Luân đã được gắn thương hiệu đặc sản “bưởi Đoan Hùng” vào ngày 08/02/2006. Hai giống bưởi quý này được cục sở hữu trí tuệ Việt Nam đăng danh bạ, xuất xứ, tên gọi và được nhà nước bảo hộ thương hiệu trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong sản xuất nông nghiệp, phân bón, bao gồm phân vô cơ và hữu cơ, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy năng suất và chất lượng cây trồng. Tuy nhiên, việc chỉ sử dụng phân vô cơ hoặc phân hữu cơ đều không đạt được 1 tính bền vững trong nông nghiệp.
Việc sử dụng phân vô cơ liên tục trong thời gian dài, dù ở mức độ hợp lý, sẽ dẫn đến thoái hóa đất do đất bị xói mòn quá mức, giảm lượng hữu cơ đất, mất cân đối dinh dưỡng cho cây trồng, gia tăng tích lũy kim loại nặng, phá vỡ cấu trúc đất, tăng mức gây hại của sâu bệnh, ảnh hưởng đến số lượng và hoạt động của nhóm sinh vật hữu cơ hữu ích trong đất; do đó làm giảm năng suất cây trồng. Trong khi đó, phân bón hữu cơ không thể cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây trồng do hàm lượng dinh dưỡng khoáng thấp và đòi hỏi thời gian khoáng hóa hữu cơ để tạo nguồn dinh dưỡng cho cây hấp thụ. Tuy nhiên, sử dụng phân hữu cơ như một loại phân bón đất đã được chứng minh có tác dụng cải thiện độ phì của đất do khả năng cung cấp lượng chất hữu cơ đất cao, tăng khả năng hấp thụ của đất, điều hòa chế độ nước và không khí và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhóm sinh vật đất. Do đó, xu hướng mới trong sản xuất nông nghiệp bền vững là giảm lượng phân vô cơ và tăng lượng phân hữu cơ nhằm giảm chi phí phân bón, nâng cao chất lượng, năng suất, đồng thời duy trì và cải thiện độ phì nhiêu của đất.
Xuất phát từ thực tiễn đó, em tiến hành thực hiện đề tài: “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN KẾT HỢP ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY BƯỞI SỬU TẠI ĐOAN HÙNG PHÚ THỌ” 1. Mục đích của đề tài Trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của việc bón phân kết hợp đến giống bưởi Sửu tại xã Chí Đám huyện Đoan Hùng tỉnh phú Thọ đưa ra lượng phân vô vơ và phân hữu cơ kết hợp cho năng suất và chất lượng cao. Phạm vi nghiên cứu Trên cây bưởi Sửu đang ở giai đoạn kinh doanh (bưởi 5 – 6 năm tuổi). TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về cây bưởi Bưởi là cây đặc sản quý, có giá trị dinh dưỡng cao, ngoài chất đường (8 - 10%, trong đó saccharose là chủ yếu), bưởi đặc biệt rất giàu vitamin C (khoảng 40 mg/100g thịt quả), acid hữu cơ (0,2 - 1,0%), pectin (0,45 - 0,5%) có tác dụng tốt đối với sức khoẻ. Pectin của bưởi có tác dụng chống nhiễm kim loại nặng và nhiễm phóng xạ, chống xơ cứng động mạch và có tác dụng chữa bệnh đường ruột. Bưởi còn là loại quả có tiềm năng kinh tế cao, trọng lượng quả lớn, cây có thể cho thu hoạch quả đạt năng suất cao. Theo Nguyễn Văn Kế (2001), sản lượng bưởi toàn cầu khoảng 5 triệu tấn trên tổng số 65 triệu tấn quả của họ cam quýt.
Riêng tại Việt Nam, vùng Nam Bộ có khoảng 2000 ha trồng cây ăn quả họ có múi. Theo FAO (Tổ chức an toàn lương thực thế giới, 2002) thì diện tích trồng cam quýt và bưởi trên toàn thế giới khoảng 7,330,000 ha với sản lượng 103,300,000 tấn/năm, mang lại giá trị khoảng 3 tỷ USD. Và cũng theo dự báo của FAO trong thời kỳ 2001 đến 2010, nhu cầu tiêu thụ cây cam quýt tăng cao hơn tốc độ tăng sản lượng, theo đó nhu cầu thị trường tiêu thụ tăng bình quân 3,6%/năm, Trong khi sản lượng chỉ đạt 2,8%/năm (Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, 2001). Ngoài ăn tươi, quả bưởi còn có thể chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế như các loại nước giải khát, lấy tinh dầu từ vỏ và hạt.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trên thế giới - Về xuất khẩu Bưởi: Nước xuất khẩu Bưởi lớn nhất thế giới là Nam Phi với khoảng 202 nghìn tấn/năm, tiếp đến khu vực nam bán cầu với khoảng 6,7 nghìn tấn/năm (chủ yếu 3 là các nước Chile (1,1 nghìn tấn/năm), Peru (1,6 nghìn tấn/năm); Mozambique (1,2 nghìn tấn/năm); Zimbabwe với khoảng 2,6 nghìn tấn/năm, những năm gần đây Úc cũng là một trong những nước xuất khẩu Bưởi lớn nhất thế giới khoảng 1,1 nghìn tấn/năm (xem bảng 2.Tình hình xuất khẩu trên thế giới Năm 2012 2013 2014 2015 2016 Southern Hemisphere 221,5 189,1 261,4 224,9 210,9 Argentina 2,4 1,6 1 0,5 0,5 Australia 0,5 0,7 0,2 0,2 1,1 South Africa 213,7 180,2 252,9 217,6 202,5 Others, Southern Hemisphere 4,8 6,5 7,4 6,7 6,7 Zimbabwe 2,4 3,1 3,2 2,6 2,6 Chile 1,4 1,4 1,1 0,9 1,1 Peru 0,8 0,9 1,1 1,5 1,6 Mozambique 0,3 1 1,8 0,5 1,2 Uruguay 0 0,1 0,2 1,2 0,2 (Nguồn: FAOSTAT - 2016) - Về sản xuất Bưởi: Hàng năm, trên thế giới sản xuất khoảng 7-8 triệu tấn bưởi. Bưởi được trồng chủ yếu tập trung ở các nước: Mỹ (khoảng 735 nghìn tấn/năm); China- Mainland (khoảng 4,300 nghìn tấn/năm), vùng địa trung hải (khoảng 600 nghìn tấn/năm), Thailand (khoảng 500 nghìn tấn/năm), Việt Nam (khoảng 450 nghìn tấn/năm), Mexico (khoảng 400 nghìn tấn/năm), vùng Caribbean (khoảng 134 nghìn tấn/năm), còn lại là các nước khác (Xem bảng 2. Sản lượng Bưởi trên thế giới Năm 2012 2013 2014 2015 2016 WORLD 7 759,5 7 699,4 8 659,2 8 550,1 8 321,6 Northern Hemisphere 6 995,8 7 029,2 7 824,3 7 774,8 7 631,6 USA 1 153,0 1 204,0 1 053,0 807 735 Mediterranean Region 611,6 641,6 678 635,4 625,1 Cyprus 20,8 19,8 20,4 24,5 22,3 Greece 6,3 5,3 4,5 5,2 5 Italy 7,5 7,8 5,4 5 5,8 Spain 56,6 59 78 68 68 Egypt 2,7 2,6 2,5 2,1 1,9 Tunisia 96 96,3 98,9 99,5 101,3 Israel 183,7 210,7 227,1 185 169 Lebanon 8,1 8,2 8,2 6,8 6,1 Turkey 226,7 228,8 229,6 236 242,1 Others, Mediterranean 3,2 3,1 3,3 3,4 3,6 Algeria 1,7 1,9 2,2 2,3 2,4 Morocco 0,8 0,5 0,5 0,5 0,5 State of Palestine 0,6 0,6 0,6 0,6 0,7 Caribbean Region 171,6 150,2 134 134,8 137,5 Cuba 84,7 64 41,4 42,9 43,2 Others, Caribbean 86,8 86,2 92,5 91,9 94,3 Dominican Republic 13,9 10,8 14,5 14,4 14,8 Haiti 20,4 22,4 24,7 24,5 25,1 Jamaica 44,3 44,5 44,6 44,3 45,5 Puerto Rico 6,7 7,1 7,4 7,4 7,6 Trinidad and Tobago 1,6 1,5 1,3 1,3 1,3 Mexico 415,5 425,4 424,7 387 330 China, Mainland 3 370,3 3 370,0 4 064,2 4 367,9 4 300,0 India 322,5 285,3 248,5 290,9 291,8 Islamic Republic of Iran 82,4 86,9 93,7 97,6 98,6 (Nguồn: FAOSTAT– 2016) 5 - Về tiêu thụ Bưởi: Bắc Bán Cầu vẫn là một thị trường lớn nhất cho việc tiêu thụ bưởi trên thế giới (khoảng 92 nghìn tấn/năm), trong đó Nam Phi đứng thứ nhất với khoảng 33 nghìn tấn/năm, thứ nhì là Hàn Quốc (khoảng 23 nghìn tấn/năm), tiếp đến là Qatar (khoảng 6,300 tấn/năm), Singapore (5 nghìn tấn/năm), Belarus (khoảng 6,000 tấn/năm) cũng là nước tiêu thụ nhiều Bưởi trên thế giới.
Nam Bán Cầu tiêu thụ khoảng 8,3 nghìn tấn/năm, trong đó Nam Phi khoảng 4 nghìn tấn/năm, tiếp đến Argentina khoảng 2,4 nghìn tấn/năm, Australia khoảng 1 nghìn tấn/năm. Sản lượng tiêu thụ Bưởi trên thế giới Năm 2012 2013 2014 2015 2016 Others, Northern Hemisphere 62,5 96,2 93,9 95,3 91,2 Armenia 1,2 1,2 1,3 1 1,3 Azerbaijan 0,5 0,1 0 0,1 0 Belarus 4,5 8,3 8,5 7 5,9 Estonia 1,5 1,5 1,4 1,5 1,6 Georgia 0,9 1 0,8 0,9 1 Guatemala 0,2 0,2 0,1 0,1 0,1 Iceland 0,2 0,1 0,2 0,2 0,2 Indonesia 0,3 0,1 0,2 0,1 0,1 Jordan 0,6 0,8 1,3 0,9 0,9 Kazakhstan 1,3 1,5 1,1 1,3 1,2 Kuwait 0 2,4 2,9 2,6 2,6 Macedonia 1,2 1,1 1,5 1,3 1,3 Malaysia 1,3 0,9 1,3 1,7 1,6 Mexico 8,3 2,2 1,7 2,6 1,9 (Nguồn: FAOSTAT- 2016) 6 Tìm hiểu về thực hành nông nghiệp tốt (GAP) trên thế giới Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về thực phẩm, đặc biệt là rau quả ngày càng tăng. Để đánh giá và xác định chất lượng sản phẩm rau quả, mỗi nước đã xây dựng tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP) của mình theo tiêu chuẩn Quốc tế. Hiện nay, có USGAP (Mỹ), EUREPGAP (Liên minh Châu Âu), ASEANGAP (Liên hiệp các nước Đông Nam Á), hệ thống SALM của Malaysia, INDON GAP của Indonesia, VF GAP của Singapore, QThái của Thái Lan và VietGAP của Việt Nam,… Nguồn gốc thực hành nông nghiệp tốt (GAP) là sáng kiến của những nhà bán lẻ Châu Âu (Euro –Retailer Produce Working Group) đưa ra từ những năm 90 nhằm giải quyết mối quan hệ bình đẳng giữa người sản xuất nông nghiệp và khách hàng của họ.
Thực hành nông nghiệp tốt (Good Agriculture Practices – GAP) là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, hàm lượng nitrat), đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng. Các dự án về thực hành nông nghiệp tốt (GAP) ở Đông Nam Á nhìn chung đã đạt kết quả có ý nghĩa về cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và an toàn thực phẩm.