Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây thanh long (Hylocereus undatus / Hylocereus polyrhizus) là cây ăn quả nhiệt đới thuộc họ xương rồng (Cactaceae), có nguồn gốc từ vùng sa mạc thuộc Mexico, Colombia và Trung Mỹ. Trong các nhóm giống thanh long thương phẩm, thanh long ruột đỏ được đánh giá cao nhờ hàm lượng dinh dưỡng và giá trị thương phẩm vượt trội so với giống ruột trắng. Quả thanh long ruột đỏ có khối lượng trung bình từ 300 – 400 g, vỏ đỏ, thịt quả đỏ thẫm, độ ngọt đạt 18 – 20% tổng chất rắn hòa tan và chứa nhiều hợp chất sinh học có lợi cho sức khỏe như carotene, vitamin C, nhóm vitamin B cùng các khoáng chất (canxi, sắt, photpho).

Tại Việt Nam, cây thanh long là loại trái cây xuất khẩu chủ lực, đứng đầu về lợi thế cạnh tranh trong 11 loại trái cây của cả nước, được canh tác tập trung quy mô lớn tại các tỉnh phía Nam như Bình Thuận, Tiền Giang và Long An với diện tích hàng chục nghìn hecta. Ở miền Bắc, cây thanh long ruột đỏ đã được đưa vào khảo nghiệm và phát triển tại một số địa phương (Vĩnh Phúc, Hà Tây cũ, Hải Dương, Hưng Yên) mang lại hiệu quả kinh tế cao; điển hình như mô hình tại huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) đạt năng suất 15 – 20 kg/trụ/năm, mang lại lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng/ha/năm.

Tuy nhiên, tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, thanh long ruột đỏ chủ yếu được trồng rải rác. Do đặc thù khí hậu phân mùa rõ rệt cùng tập quán canh tác chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh, cây thanh long tại địa phương này bộc lộ nhiều hạn chế: tỷ lệ ra hoa cao nhưng tỷ lệ đậu quả thấp, hiện tượng rụng nụ nhiều, kích thước và khối lượng quả không đồng đều, năng suất và phẩm chất quả chưa đạt yêu cầu thương phẩm. Nguyên nhân kỹ thuật chính được xác định là do quy trình đốn tỉa, tạo tán chưa được chuẩn hóa, dẫn đến tán cây rậm rạp, ánh sáng phân bố kém, cành vô hiệu cạnh tranh dinh dưỡng và tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh. Đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại cắt tỉa đến năng suất, chất lượng thanh long ruột đỏ tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng" được thực hiện nhằm giải quyết các rào cản kỹ thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Xác định được phương pháp cắt tỉa thích hợp tác động tích cực đến sinh trưởng, phát triển, nâng cao năng suất và chất lượng quả cho cây thanh long ruột đỏ tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Nhiệm vụ nghiên cứu (theo văn bản):

  1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp cắt tỉa đến sinh trưởng lộc, năng suất và chất lượng quả thanh long ruột đỏ.
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp cắt tỉa đến khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính trên cây thanh long ruột đỏ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống thanh long ruột đỏ H14.
  • Phạm vi không gian: Vườn thực nghiệm hộ gia đình bác Ma Văn Lê tại xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Theo dõi và thu thập số liệu thực nghiệm liên tục từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở sinh học và lý thuyết cắt tỉa cây ăn quả

Cơ sở khoa học của việc cắt tỉa dựa trên các nguyên lý sinh lý học thực vật về cân đối tỷ lệ Carbon/Nitơ (C/N), sự phân bố ánh sáng và ưu thế ngọn. Thanh long là cây ưa sáng ngày dài, phân cành theo từng lớp trên đầu trụ đỡ. Khi không được cắt tỉa, tán cây phát triển rậm rạp làm các cành phía trong bị che sáng dưới điểm bão hòa ánh sáng, làm suy giảm hiệu suất quang hợp đồng hóa $CO_2$. Việc tỉa bỏ các cành già, cành sâu bệnh, cành tăm và khống chế mật độ cành hợp lý sẽ tập trung nguồn nước và chất dinh dưỡng nuôi các điểm sinh trưởng hữu hiệu, kích thích phân hóa mầm hoa, cải thiện tỷ lệ đậu quả và hạn chế môi trường trú ngụ của dịch hại.

Tổng quan các nghiên cứu trong nước (Vũ Mạnh Hải trên cây nhãn; Nguyễn Văn Dũng, Hoàng Chúng Lầm, Nguyễn Thế Huấn trên cây vải và nhãn) và quốc tế (Menzel, Stern, Norlia Yunus) đều khẳng định việc can thiệp cắt tỉa hợp lý làm tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu, tăng năng suất từ 15 – 40% và nâng cao phẩm chất quả thương phẩm so với đối chứng không cắt tỉa.

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm đồng ruộng được thiết lập theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) gồm 4 công thức, mỗi công thức được nhắc lại 3 lần:

  • Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Không tiến hành cắt tỉa, cây sinh trưởng tự nhiên.
  • Công thức 2 (CT2 - Tỉa đau): Tiến hành sau thu hoạch hoặc trước đợt thu quả cuối cùng; cắt toàn bộ cành già, cành ốm yếu, khuyết tật, cành khuất trong tán; giữ lại khoảng 50 cành/đầu trụ; dùng dao/liềm chặt bỏ 3/4 chiều dài toàn bộ các cành già phía dưới để lộc mới nảy ra từ phần gốc cành giữ lại.
  • Công thức 3 (CT3 - Tỉa lựa): Tiến hành sau thu hoạch hoặc trước đợt thu quả cuối cùng; cắt tỉa toàn bộ các cành già, cành sâu bệnh, cành khuất tán cùng một lúc và dùng liềm cán dài giật đứt dọn sạch khỏi cây.
  • Công thức 4 (CT4 - Tỉa sửa cành): Thực hiện nhằm kiểm soát số lượng cành con trên cành mẹ (cành sừng trâu); chỉ giữ lại 1 – 3 cành con mập khỏe, phân bố đều trên cành mẹ để tránh lệch tán; tỉa bỏ các cành mọc lòa xòa ra lối đi.

Chỉ tiêu theo dõi và nguồn dữ liệu thực nghiệm

Dữ liệu được thu thập trực tiếp tại thực địa theo các quy chuẩn điều tra nông học:

  • Chỉ tiêu sinh trưởng lộc: Số lượng lộc/trụ; thời gian bắt đầu ra lộc (10% cành bật lộc), rộ (70% cành bật lộc), kết thúc (80 – 90% cành bật lộc); chiều dài và đường kính cành lộc thành thục (đo ngẫu nhiên 4 cành/trụ theo 4 hướng, mỗi cành đo 2 lộc).
  • Chỉ tiêu ra hoa, đậu quả: Thời gian xuất hiện nụ, nở hoa (10%), nở rộ (70 – 75%), kết thúc nở (90%); tổng số nụ xuất hiện/trụ; số nụ trước nở; tỷ lệ rụng nụ (%); tổng số hoa/trụ; tỷ lệ đậu quả (%); số quả thu hoạch/trụ.
  • Chỉ tiêu cấu thành năng suất: Khối lượng trung bình quả (g), khối lượng vỏ và khối lượng thịt quả (g), kích thước quả (chiều dài, đường kính đo định kỳ 2 tuần/lần), độ dày vỏ và độ dày thịt quả (cm), năng suất thực thu (kg/trụ).
  • Chỉ tiêu chất lượng quả: Độ Brix (°Brix) đo bằng khúc xạ kế cầm tay, tỷ lệ phần ăn được (%), tỷ lệ quả bị nứt (%).
  • Chỉ tiêu sâu bệnh hại: Điều tra thành phần và tần suất xuất hiện sâu bệnh theo phương pháp 5 điểm đường chéo góc với chu kỳ 10 ngày/lần; tính toán tỷ lệ quả bị bệnh hại (%) và tỷ lệ quả bị ruồi đục quả (%).

Phương pháp xử lý số liệu

Toàn bộ số liệu thô được tổng hợp, phân loại trên phần mềm Microsoft Excel. Các chỉ tiêu thực nghiệm được phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sai khác giữa các giá trị trung bình ở mức ý nghĩa thống kê $P < 0,05$ bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0.


Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày cơ sở khoa học và tính cấp thiết của việc nghiên cứu kỹ thuật cắt tỉa đối với giống thanh long ruột đỏ H14 tại vùng núi cao phía Bắc. Phần này chỉ rõ sự chênh lệch lớn về năng suất giữa các vùng trồng phía Nam và phía Bắc, xác định việc thiếu quy trình kỹ thuật chăm sóc và cắt tỉa phù hợp là nguyên nhân chính khiến cây thanh long tại Nguyên Bình ra hoa nhiều nhưng đậu quả kém. Chương này cũng nêu rõ mục đích, 2 yêu cầu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu nông sinh học và ý nghĩa thực tiễn nhằm gia tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến cây thanh long:

  • Phân loại và sinh thái: Giới thiệu các chi, loài thuộc họ xương rồng (Hylocereus undatus, Hylocereus polyrhizus, Hylocereus costaricensis, Selenicereus megalanthus); các đặc tính nông sinh học về hệ rễ địa sinh/khí sinh, thân cành 3 cánh, hoa lưỡng tính nở về đêm và đặc điểm quả. Nhu cầu sinh thái chuẩn: nhiệt độ thích ứng 21 – 29°C (giới hạn tối đa 38 – 40°C), lượng mưa 800 – 2.000 mm/năm, đất tơi xốp tầng dày 30 – 50 cm, pH 5,5 – 6,5.
  • Tình hình sản xuất và tiêu thụ: Phân tích số liệu diện tích và sản lượng thanh long Việt Nam (năm 2013 cả nước đạt 28.729 ha, sản lượng 517.463,6 tấn; Bình Thuận dẫn đầu với 20.550,6 ha và 388.344 tấn). Đánh giá thị phần xuất khẩu chiếm hơn 50% giá trị xuất khẩu hoa quả tươi của Việt Nam, định hướng sang thị trường châu Á, Mỹ, Nhật Bản, EU. Thống kê sản xuất quả tươi toàn cầu từ nguồn dữ liệu FAOSTAT và tình hình xuất khẩu thanh long của Thái Lan, Đài Loan, Trung Mỹ.
  • Cơ sở và nghiên cứu cắt tỉa: Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm cắt tỉa trên nhãn, vải, xoài, ổi; chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu khi chưa có công trình nào đánh giá cụ thể ảnh hưởng của các kiểu cắt tỉa đến sinh trưởng lộc, năng suất và chất lượng thanh long ruột đỏ tại vùng sinh thái Cao Bằng.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng:

  • Mô tả địa điểm thực nghiệm tại xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng và thời gian nghiên cứu trong năm 2016 trên giống H14.
  • Trình bày sơ đồ bố trí thí nghiệm RCBD với 4 công thức và 3 lần nhắc lại.
  • Thao tác hóa quy trình thực hiện của từng công thức cắt tỉa (tỉa đau, tỉa lựa, tỉa sửa cành, đối chứng).
  • Xây dựng hệ thống công thức tính toán và phương pháp đo đạc chi tiết cho từng chỉ tiêu: tỷ lệ rụng nụ, tỷ lệ đậu quả, các thành phần cấu thành quả, phương pháp đo độ Brix bằng khúc xạ kế và phương pháp điều tra sâu bệnh hại theo 5 điểm chéo góc.
  • Xác định phương pháp phân tích thống kê trên phần mềm IRRISTAT 5.0.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày và thảo luận toàn bộ số liệu thực nghiệm qua 7 bảng biểu chuyên đề:

  • Sinh trưởng lộc: Cây thanh long H14 xuất hiện 4 đợt lộc trong năm (từ tháng 1 đến tháng 5). Các công thức cắt tỉa rút ngắn thời gian sinh trưởng lộc (52 – 57 ngày) so với đối chứng (53 – 59 ngày). Công thức tỉa đau kích thích số lượng lộc/trụ cao nhất (22,40 lộc), kích thước lộc dài nhất (40,98 cm) và đường kính lớn nhất (3,52 cm).
  • Động thái ra hoa: Cây có 9 đợt ra hoa kết quả từ tháng 5 đến tháng 8. Thời gian từ xuất hiện nụ đến thu hoạch ở các công thức cắt tỉa dao động từ 49 – 53 ngày, rút ngắn đáng kể so với đối chứng (51 – 56 ngày).
  • Sự ra hoa, đậu quả và năng suất: Công thức tỉa lựa (CT3) đạt các chỉ tiêu tối ưu nhất: tổng số nụ/trụ đạt 323,0 nụ; tổng số hoa đạt 154,0 hoa/trụ; tỷ lệ rụng nụ thấp nhất (51,90%); tỷ lệ đậu quả cao nhất (51,60%); số quả thu hoạch đạt 79,33 quả/trụ; khối lượng trung bình quả đạt 344,61 g/quả; năng suất thực thu đạt 26,65 kg/trụ (vượt trội so với đối chứng đạt 16,35 kg/trụ).
  • Chất lượng quả và mức độ sâu bệnh: Công thức tỉa lựa (CT3) cho tỷ lệ nứt quả thấp nhất (20,37%), tỷ lệ phần ăn được cao nhất (72,45%), độ Brix cao nhất (13,0%). Đồng thời, tỷ lệ quả bị bệnh hại (30,57%) và tỷ lệ quả bị ruồi đục quả (30,56%) ở CT3 thấp nhất trong các công thức.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết các phát hiện chính của nghiên cứu: khẳng định phương pháp cắt tỉa lựa mang lại hiệu quả toàn diện nhất về rút ngắn chu kỳ sinh trưởng lộc và quả, tăng năng suất thực thu thêm 10,3 kg/trụ so với không cắt tỉa, cải thiện độ ngọt và giảm tỷ lệ sâu bệnh hại. Đề xuất tiếp tục mở rộng nghiên cứu theo dõi trong các năm tiếp theo để đánh giá tính ổn định qua các chu kỳ thời tiết khác nhau.


Kết quả và đóng góp

Tổng hợp các chỉ tiêu thực nghiệm giữa các công thức cắt tỉa

Bảng số liệu dưới đây tổng hợp đầy đủ các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng lộc, động thái ra hoa - đậu quả, năng suất, phẩm chất quả và mức độ dịch hại của giống thanh long H14 trong thí nghiệm:

Chỉ tiêu theo dõi CT1 (Đối chứng) CT2 (Tỉa đau) CT3 (Tỉa lựa) CT4 (Tỉa sửa cành) Mức ý nghĩa ($P < 0,05$)
Số lộc trung bình trên trụ (lộc) 18,33 22,40 20,60 19,85 0,81
Chiều dài lộc (cm) 35,48 40,98 37,64 39,00 1,67
Đường kính lộc (cm) 3,23 3,52 3,30 3,38 0,63
Tổng số nụ mới xuất hiện/trụ (nụ) 303,00 282,67 323,00 314,33 7,44
Tổng số hoa trên trụ (hoa) 128,33 137,00 154,00 143,00 3,99
Tỷ lệ rụng nụ (%) 57,37 52,13 51,90 54,23 3,16
Tỷ lệ đậu quả (%) 45,97 47,93 51,60 48,47 3,04
Số quả thu hoạch trên trụ (quả) 58,67 65,33 79,33 69,33 5,25
Khối lượng trung bình quả (g) 281,89 319,49 344,61 320,12 10,38
Năng suất thực thu (kg/trụ) 16,35 20,47 26,65 22,15 1,27
Tỷ lệ quả bị nứt (%) 24,07 22,22 20,37 23,15 10,48
Tỷ lệ phần ăn được (%) 70,36 72,42 72,45 71,02 1,02
Hàm lượng đường (°Brix) 12,28 12,59 13,00 12,43 0,19
Tỷ lệ quả bị bệnh hại (%) 35,17 31,47 30,57 34,27 13,57
Tỷ lệ quả bị ruồi đục quả (%) 33,34 33,41 30,56 31,48 12,98

Đóng góp khoa học và giải pháp kỹ thuật đề xuất

  1. Hiệu quả sinh trưởng và phân hóa mầm hoa: Biện pháp tỉa lựa (CT3) giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng lộc từ 2 – 3 ngày và rút ngắn thời gian từ ra hoa đến thu hoạch từ 2 – 5 ngày so với đối chứng. Tỉa đau (CT2) kích thích sinh trưởng dinh dưỡng mạnh nhất (chiều dài lộc đạt 40,98 cm, đường kính đạt 3,52 cm, số lộc đạt 22,40 lộc/trụ).
  2. Nâng cao năng suất và chất lượng quả: Biện pháp tỉa lựa (CT3) mang lại hiệu quả vượt trội nhất trên mọi chỉ tiêu kinh tế:
    • Tỷ lệ rụng nụ giảm xuống 51,90% (thấp hơn đối chứng 5,47%).
    • Tỷ lệ đậu quả đạt 51,60% (cao hơn đối chứng 5,63%).
    • Năng suất thực thu đạt 26,65 kg/trụ, cao hơn đối chứng không cắt tỉa 10,30 kg/trụ (tương đương mức tăng trưởng năng suất 63,0%).
    • Cải thiện phẩm chất quả thương phẩm: khối lượng quả đạt 344,61 g/quả, tỷ lệ phần ăn được đạt 72,45%, độ Brix đạt 13,00% và giảm tỷ lệ nứt quả xuống 20,37%.
  3. Hạn chế sâu bệnh: Việc thông thoáng tán thông qua tỉa lựa đã làm giảm tỷ lệ quả bị bệnh hại xuống 30,57% (so với đối chứng 35,17%) và giảm tỷ lệ bị ruồi đục quả xuống 30,56% (so với đối chứng 33,34%).
  4. Đóng góp mới: Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về ảnh hưởng của các phương pháp cắt tỉa chuyên biệt trên giống thanh long H14 tại vùng núi phía Bắc, chứng minh việc áp dụng kỹ thuật tỉa lựa là giải pháp canh tác thích hợp để khắc phục hiện tượng đậu quả kém tại Cao Bằng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Thí nghiệm chỉ được tiến hành trong phạm vi 01 năm (năm 2016), trên một địa bàn thực nghiệm (xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) và giới hạn trên một giống thanh long ruột đỏ (H14). Do đó, các tác động qua lại giữa kỹ thuật cắt tỉa với các biến động khí hậu qua các năm chưa được đánh giá trọn vẹn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề nghị tiếp tục duy trì và theo dõi thí nghiệm trong một số năm tiếp theo nhằm khẳng định tính ổn định và chắc chắn của các công thức cắt tỉa; đồng thời mở rộng nghiên cứu kết hợp giữa cắt tỉa tạo tán với các chế độ phân bón, dinh dưỡng và tưới tiêu hợp lý để xây dựng quy trình canh tác hoàn chỉnh áp dụng mở rộng trên toàn tỉnh Cao Bằng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Cán bộ khuyến nông, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp: Sử dụng làm căn cứ kỹ thuật để hướng dẫn người dân kỹ thuật cắt tỉa cành, tạo tán cho cây thanh long ruột đỏ tại các vùng sinh thái đồi núi phía Bắc.
    • Hộ nông dân, chủ trang trại trồng thanh long: Ứng dụng trực tiếp thao tác kỹ thuật tỉa lựa (cắt cành già, cành khuất tán sau thu hoạch và dùng liềm cán dài dọn sạch cành) nhằm tăng tỷ lệ đậu quả, nâng cao khối lượng quả và tăng năng suất thực thu.
    • Sinh viên, học viên ngành Nông học, Trồng trọt, Bảo vệ thực vật: Tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế thí nghiệm đồng ruộng (RCBD), phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nông sinh học cây họ xương rồng và kỹ năng xử lý thống kê bằng phần mềm IRRISTAT.
  • Nội dung giá trị nhất: Quy trình thao tác 3 kỹ thuật cắt tỉa (Phần 3) và hệ thống bảng số liệu thực nghiệm chi tiết về 4 đợt lộc, 9 đợt hoa cùng các chỉ tiêu phân tích phương sai về năng suất và chất lượng quả (Phần 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài nghiên cứu so sánh những phương pháp cắt tỉa nào trên cây thanh long H14?

Thí nghiệm so sánh 4 công thức:

  • CT1: Không cắt tỉa (đối chứng).
  • CT2: Tỉa đau (cắt cành già, cành ốm, giữ ~50 cành/trụ, chặt 3/4 chiều dài cành già phía dưới).
  • CT3: Tỉa lựa (cắt cành già, cành sâu bệnh, cành khuất tán rồi dùng liềm cán dài giật đứt khỏi cây).
  • CT4: Tỉa sửa cành (kiểm soát 1 – 3 cành con mập khỏe trên cành mẹ, phân bố đều, tỉa cành lòa xòa).

2. Phương pháp cắt tỉa nào cho năng suất thực thu và khối lượng quả cao nhất?

Phương pháp tỉa lựa (CT3) đạt kết quả cao nhất với khối lượng trung bình quả là 344,61 g/quả và năng suất thực thu đạt 26,65 kg/trụ (vượt trội so với công thức đối chứng chỉ đạt 281,89 g/quả và 16,35 kg/trụ, tương ứng mức chênh lệch 10,30 kg/trụ).

3. Việc cắt tỉa tác động như thế nào đến tỷ lệ rụng nụ và tỷ lệ đậu quả của giống thanh long H14?

Áp dụng công thức tỉa lựa (CT3) giúp giảm tỷ lệ rụng nụ xuống mức thấp nhất là 51,90% (đối chứng không cắt tỉa có tỷ lệ rụng nụ cao nhất là 57,37%, giảm 5,47%). Đồng thời, CT3 nâng tỷ lệ đậu quả lên mức cao nhất là 51,60% (đối chứng đạt 45,97%, tăng 5,63%).

4. Chất lượng quả và tình hình sâu bệnh thay đổi ra sao khi áp dụng phương pháp tỉa lựa?

Ở công thức tỉa lựa (CT3), độ Brix đạt mức cao nhất (13,00%), tỷ lệ phần ăn được cao nhất (72,45%) và tỷ lệ quả bị nứt thấp nhất (20,37%). Về sâu bệnh, CT3 có tỷ lệ quả bị bệnh hại thấp nhất (30,57% so với 35,17% ở đối chứng) và tỷ lệ quả bị ruồi đục thấp nhất (30,56% so với 33,34% ở đối chứng).

5. Thời gian xuất hiện các đợt lộc và các đợt ra hoa của thanh long ruột đỏ tại Nguyên Bình diễn ra vào thời điểm nào?

Trong năm theo dõi 2016, giống thanh long H14 tại huyện Nguyên Bình xuất hiện 4 đợt lộc tập trung từ tháng 1 đến tháng 5 (chu kỳ lộc 52 – 59 ngày) và có 9 đợt ra hoa kết quả kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8 (thời gian từ xuất hiện nụ đến thu hoạch từ 49 – 56 ngày).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đàm Thị Chinh đã xác định được phương pháp tỉa lựa là biện pháp kỹ thuật tối ưu nhất đối với giống thanh long ruột đỏ H14 canh tác tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Biện pháp này giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng của lộc và quả, giảm tỷ lệ rụng nụ, tăng tỷ lệ đậu quả và nâng cao năng suất thực thu lên 26,65 kg/trụ (tăng 10,3 kg/trụ so với không cắt tỉa). Đồng thời, tỉa lựa giúp cải thiện rõ rệt phẩm chất quả (đạt độ Brix 13,00%, tỷ lệ phần ăn được 72,45%) và hạn chế đáng kể mức độ gây hại của sâu bệnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh thanh long ruột đỏ tại các tỉnh miền núi phía Bắc.