Luận văn thạc sĩ nghiên cứu năng suất chất lượng và hiệu quả sử dụng một số cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt

Nghiên cứu năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, góp phần nâng cao sản xuất nông nghiệp.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi động vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ nông nghiệp

2011

167
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG CỦA CỎ HOÀ THẢO

1.1.1. Giới thiệu về cỏ hòa thảo

1.1.2. Đặc tính sinh trưởng của thân và lá

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá

1.1.3.1. Sức nẩy mầm của cỏ (hạt, hom)
1.1.3.2. Nhiệt độ

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu chọn lọc một số cỏ hòa thảo

2.2.2. Thí nghiệm 2: Nghiên cứu khoảng cách cắt thích hợp

2.2.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu liều lượng phân đạm thích hợp

2.2.4. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu bón đạm, lân, kali cùng tăng

2.2.5. Thí nghiệm 5: Xác định khối lượng cỏ ăn được/bò/ngày, tỷ lệ cỏ được sử dụng và tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của cỏ

2.2.6. Thí nghiệm 6: Đánh giá hiệu quả của cỏ trong chăn nuôi bò thịt

2.2.6.1. Thí nghiệm 6a: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ tươi trên bò thịt
2.2.6.2. Thí nghiệm 6b: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ khô trên bò thịt

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu chọn lọc một số cỏ hòa thảo

2.3.2. Thí nghiệm 2: Nghiên cứu khoảng cách cắt thích hợp

2.3.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu liều lượng phân đạm thích hợp

2.3.4. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu bón đạm, lân, kali cùng tăng

2.3.5. Thí nghiệm 5: Xác định khối lượng cỏ ăn được/bò/ngày, tỷ lệ cỏ được sử dụng và tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của cỏ

2.3.6. Xác định khối lượng cỏ tươi bò ăn được trong một ngày đêm

2.3.7. Xác định tỷ lệ cỏ được sử dụng

2.3.8. Tính tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ bằng phương pháp sinh khí in vitro (gas production technique) và tính năng lượng ME

2.3.9. Thí nghiệm 6: Đánh giá hiệu quả của cỏ trong chăn nuôi bò thịt

2.3.9.1. Thí nghiệm 6a: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ tươi trên bò thịt
2.3.9.2. Thí nghiệm 6b: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ khô trên bò thịt

2.3.10. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

2.3.11. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu chọn lọc một số cỏ hòa thảo

3.1.1. Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm

3.1.2. Khí tượng khu vực thí nghiệm từ 2004 - 2009

3.1.3. Tỷ lệ sống của các cỏ thí nghiệm tính theo khóm

3.1.4. Năng suất của cỏ

3.1.5. Thành phần hóa học của cỏ

3.1.6. Sản lượng cỏ tươi, vật chất khô, protein của cỏ thí nghiệm

3.1.7. Ảnh hưởng của mùa vụ đến sản lượng của 6 cỏ thí nghiệm

3.1.8. Nhận xét chung về thí nghiệm 1

3.2. Thí nghiệm 2: Xác định khoảng cách cắt (KCC) thích hợp

3.2.1. Ảnh hưởng của KCC đến năng suất cỏ

3.2.2. Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm ở các KCC khác nhau

3.2.3. Sản lượng cỏ thí nghiệm ở các KCC khác nhau

3.2.4. Ảnh hưởng của KCC khác nhau đến sản lượng cỏ theo mùa

3.2.5. Nhận xét chung về thí nghiệm 2

3.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu liều lượng phân đạm (N) thích hợp

3.3.1. Ảnh hưởng của các mức phân N khác nhau tới năng suất cỏ

3.3.2. Thành phần hóa học của cỏ ở các mức phân N khác nhau

3.3.3. Sản lượng cỏ thí nghiệm ở các mức phân N khác nhau

3.3.4. Ảnh hưởng phân N khác nhau đến sản lượng cỏ theo mùa

3.3.5. Nhận xét chung về kết quả nghiên cứu của thí nghiệm 3

3.4. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu bón đạm, lân, kali (N

3.4.1. Ảnh hưởng của các mức N.K cùng tăng đến năng suất cỏ

3.4.2. Thành phần hóa học của cỏ khi bón N

3.4.3. Sản lượng cỏ thí nghiệm khi bón N

3.4.4. Ảnh hưởng của phân N.K cùng tăng đến sản lượng cỏ theo mùa

3.4.5. Nhận xét chung về kết quả nghiên cứu của thí nghiệm 4

3.5. Thí nghiệm 5: Xác định khối lượng cỏ ăn được/bò/ngày, tỷ lệ cỏ được sử dụng và tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ của cỏ

3.5.1. Xác định khối lượng cỏ ăn được/1 bò/ngày

3.5.2. Xác định tỷ lệ cỏ được sử dụng ở các tuổi cắt khác nhau

3.5.3. Kết quả xác định tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ

3.6. Thí nghiệm 6: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ trên bò thịt

3.6.1. Thí nghiệm 6a: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ tươi trên bò thịt

3.6.1.1. Khối lượng bò qua các kỳ cân
3.6.1.2. Tăng khối lượng trung bình của bò qua các giai đoạn
3.6.1.3. Tiêu thụ VCK/1 bò và tiêu tốn VCK cho 1 kg tăng khối lượng
3.6.1.4. Ước tính khả năng sản xuất thịt hơi của 1 ha cỏ/năm

3.6.2. Thí nghiệm 6b: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ khô trên bò thịt

3.6.2.1. Khối lượng của bò ở các kỳ cân
3.6.2.2. Tăng khối lượng của bò ở các giai đoạn
3.6.2.3. Tiêu thụ VCK/1 bò, tiêu tốn thức ăn của bò ăn cỏ khô
3.6.2.4. Nhận xét chung về kết quả nghiên cứu của thí nghiệm 6 (6a và 6b)

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cỏ hòa thảo

Cỏ hòa thảo là một họ thực vật quan trọng trong nguồn thức ăn xanh cho gia súc, chiếm 95-98% trong thảm cỏ tự nhiên. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá năng suất, chất lượng, và hiệu quả sử dụng của một số loại cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt. Các loại cỏ này được chọn lọc và nghiên cứu để đảm bảo phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai tại vùng trung du - miền núi phía Bắc. Mục tiêu chính là tìm ra các giống cỏ có năng suất cao, giá trị dinh dưỡng tốt, và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.

1.1. Đặc tính sinh trưởng của cỏ hòa thảo

Cỏ hòa thảo trải qua ba giai đoạn sinh trưởng chính: giai đoạn I (sinh trưởng chậm), giai đoạn II (sinh trưởng nhanh), và giai đoạn III (sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn). Giai đoạn I xảy ra sau khi cắt hoặc chăn thả, cây cỏ phụ thuộc vào năng lượng dự trữ từ rễ. Giai đoạn II là thời kỳ phát triển mạnh nhất, với lá chứa nhiều protein và năng lượng. Giai đoạn III, cây cỏ già đi, lá chết dần, và giá trị dinh dưỡng giảm. Việc xác định thời điểm cắt cỏ hợp lý là yếu tố quan trọng để duy trì năng suấtchất lượng cỏ.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng

Sinh trưởng của cỏ hòa thảo chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, nước, và chất dinh dưỡng trong đất. Nhiệt độ tối ưu cho cỏ nhiệt đới là 25-35°C, trong khi cỏ ôn đới thích hợp ở 15-20°C. Ngoài ra, phân bónkhoảng cách cắt cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cỏchất lượng dinh dưỡng.

II. Nghiên cứu năng suất và chất lượng cỏ

Nghiên cứu này đã tiến hành các thí nghiệm để đánh giá năng suất cỏ, thành phần hóa học, và giá trị dinh dưỡng của các loại cỏ hòa thảo nhập nội. Kết quả cho thấy, các loại cỏ như Paspalum atratum, Brachiaria brizantha, và Setaria splendidanăng suất caochất lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai tại Thái Nguyên.

2.1. Ảnh hưởng của khoảng cách cắt

Khoảng cách cắt (KCC) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cỏ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, khoảng cách cắt 30-45 ngày giúp duy trì năng suất cỏ ổn định và đảm bảo chất lượng dinh dưỡng. Cắt quá sớm hoặc quá muộn đều làm giảm năng suấtgiá trị dinh dưỡng của cỏ.

2.2. Ảnh hưởng của phân bón

Phân bón, đặc biệt là phân đạm, có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cỏhàm lượng protein. Nghiên cứu cho thấy, bón phân đạm với liều lượng 150-200 kg/ha giúp tăng năng suất cỏ lên đáng kể. Ngoài ra, việc kết hợp phân lânphân kali cũng cải thiện chất lượng cỏ và khả năng tái sinh.

III. Hiệu quả sử dụng cỏ trong chăn nuôi bò thịt

Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ trong chăn nuôi bò thịt thông qua các thí nghiệm về khối lượng cỏ ăn được, tỷ lệ tiêu hóa, và tăng trọng của bò. Kết quả cho thấy, các loại cỏ hòa thảo nhập nội có giá trị dinh dưỡng cao, giúp tăng khối lượng bò và giảm chi phí thức ăn.

3.1. Khối lượng cỏ ăn được và tỷ lệ tiêu hóa

Nghiên cứu xác định rằng, khối lượng cỏ tươi mà bò ăn được trong một ngày đêm dao động từ 30-40 kg, tùy thuộc vào loại cỏ và tuổi cắt. Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của cỏ được đánh giá thông qua phương pháp sinh khí in vitro, cho thấy các loại cỏ hòa thảo có tỷ lệ tiêu hóa cao, đặc biệt là ở giai đoạn II của sinh trưởng.

3.2. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

Sử dụng cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt giúp tăng khối lượng bò trung bình từ 0,8-1,2 kg/ngày. Nghiên cứu cũng ước tính rằng, 1 ha cỏ có thể sản xuất được 500-700 kg thịt hơi/năm, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG CỦA CỎ HOÀ THẢO 1. Giới thiệu về cỏ hòa thảo Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28 họ phụ, 563 giống, 6802 loài. Ở nước ta, cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong nguồn thức ăn xanh của gia súc ăn cỏ, vì nó chiếm 95 - 98 % trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển và CS, 2002) [32].

Hanson, (1972) [120] cho biết, có gần 75 % cỏ được trồng ở vùng đất trồng cỏ là loài hòa thảo. Cỏ hòa thảo chiếm phần lớn trong đồng cỏ tự nhiên. Riêng ở Mỹ có gần 1500 loài hòa thảo. Cỏ hòa thảo trồng nói chung, là những loại cỏ đã được nghiên cứu lai tạo hay tuyển chọn từ tự nhiên, với mục đích tạo ra các giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích nghi với điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác ở một vùng hay khu vực nào đó.

Theo David và CS, (1993) [108] thì hiệu quả của cỏ là biến đổi năng lượng mặt trời thành lá xanh để động vật có khả năng thu nhận năng lượng này. Tuy nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của cây. Các cỏ nói chung và cỏ hòa thảo nói riêng, sinh trưởng và tái sinh đều trải qua ba giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng như sau: Giai đoạn I (sinh trưởng chậm): xảy ra sau khi cây cỏ mới bị chăn thả, thu cắt hay mới gieo trồng. Sau khi thu cắt, lá mất đi nên cây không có khả năng thu nhận ánh sáng mặt trời.

Trong khi đó, cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển. Vì vậy, để bù lại sự thiếu hụt đó, năng lượng được huy động từ rễ. Rễ trở nên nhỏ đi và yếu hơn, vì năng lượng được sử dụng để phát triển lá. Chính vì vậy, khi cây bị ngập úng vào giai đoạn này, cỏ sẽ rất dễ chết, do lá để thoát hơi nước không có, còn rễ thì yếu nên dễ bị tổn thương dẫn đến thối rễ.

Cây cỏ ở trong giai đoạn I sinh trưởng rất chậm, năng suất thấp, nhưng lá mềm, ngon miệng và có giá trị dinh dưỡng cao. Giai đoạn II (sinh trưởng nhanh): là giai đoạn từ sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay sau chăn thả từ 10 - 15 ngày trở đi. Khi tái sinh đạt tới 1/4 hay 1/3 kích thước của cây trưởng thành, năng lượng được hấp thu đủ qua quá trình quang hợp để cung cấp cho sự phát triển và bắt đầu bổ sung cho rễ. Đây là thời gian cỏ phát triển nhanh nhất.

Trong giai đoạn này, lá chứa đủ protein và n 4 năng lượng thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc và cỏ có chất lượng dinh dưỡng cao. Giai đoạn III (sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn): Là giai đoạn từ sau khi gieo trồng hoặc sau khi chăn thả, sau khi cắt cỏ khoảng 40 - 70 ngày (Đoàn Ẩn và Võ Văn Trị, 1976) [2]. Cây tiếp tục phát triển, nhưng lá ngày càng trở nên nhạt dần, lá ở phần gốc chết đi và bị phân huỷ. Lá sử dụng nhiều năng lượng để hô hấp hơn là chúng có thể tạo ra từ quang hợp.

Ở giai đoạn 3, cỏ có phần thân chiếm đa số và nhiều xơ. Năng suất và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cỏ cao, tuy nhiên, tỷ lệ cỏ được sử dụng (gia súc ăn) và khả năng tiêu hoá của gia súc đối với lá và thân cây giai đoạn này thấp dần. Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống theo từng giai đoạn để chúng ta định ra thời gian chăm sóc và thu cắt hợp lý. Giai đoạn I và đầu giai đoạn II, cần chăm sóc, xới xáo, diệt cỏ dại và bón thúc phân cho cỏ.

Cuối giai đoạn II, đầu giai đoạn III, cần nhanh chóng thu cắt hoặc chăn thả, vì lúc này năng lượng thu được từ đồng cỏ là cao nhất. Nếu không thu hoạch ngay, cỏ sẽ già, lá mất mầu dần, hiệu suất quang hợp kém nên giá trị dinh dưỡng giảm dần, ảnh hưởng đến khả năng tái sinh lần sau và giảm số lứa cắt hay số lần chăn thả trên năm. Còn nếu thu hoạch non, năng suất sẽ thấp, đồng thời nếu thu hoạch quá nhiều lứa trên năm, thì dự trữ các chất dinh dưỡng và khoáng ở phần gốc và rễ để phát triển cành lá sẽ bị cạn kiệt, đồng cỏ chóng bị tàn lụi. Vì vậy, cần có thời gian nghỉ (khoảng cách cắt hoặc chăn thả) hợp lý để duy trì nhiệm kỳ sử dụng cỏ lâu dài.

Không cho động vật gặm hay cắt cỏ quá thấp để tránh cỏ bị quay lại giai đoạn I và tồn tại ở giai đoạn này lâu, do tái sinh rất chậm nên sẽ làm giảm tổng sản lượng cỏ. Đặc tính sinh trưởng của thân và lá Sau khi nẩy mầm, khối lượng vật chất khô (VCK) của hạt sẽ giảm dần, do chất dự trữ ở hạt được sử dụng cho quá trình nẩy mầm. Sinh trưởng lúc này chậm. Khi lá xanh xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng bắt đầu tăng dần.

Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi ở giai đoạn này khối lượng VCK của cây bị giảm đi. Lá non của cỏ non phát triển từ lá chồi mầm tạo ra ở đỉnh mô phân sinh. Hầu hết các tế bào của lá được cấu tạo trong khi lá còn rất nhỏ trong chồi (Langer, n 5 1972) [141]. Kết quả sinh trưởng của lá là sự mở rộng của kích cỡ tế bào (Esau, 1960) [112] và tăng khối lượng (Coyne và CS, 1995) [104].

Lá mới sinh lấy cacbohydrate từ rễ, thân hay từ lá già cho tới khi chúng hoàn thiện và do đòi hỏi phải sinh trưởng, nên chúng đồng hóa các sản phẩm dự trữ được từ rễ, lá, gốc để hình thành lá mới (Coyne và CS, 1995) [104], (Langer, 1972) [141]. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cỏ như giá trị của phẩm giống hay các yếu tố khí hậu, thời tiết, đất đai. Trong các yếu tố đó, thì ánh sáng, nhiệt độ, nước và chất dinh dưỡng có trong đất là các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới đời sống của cỏ. Sức nẩy mầm của cỏ (hạt, hom) Sự sinh trưởng của cỏ phụ thuộc vào sức nẩy mầm của hạt, hạt có sức nầy mầm cao sẽ tạo điều kiện tốt cho sinh trưởng sau này.

Sức nẩy mầm của giống không những phụ thuộc vào bản thân hạt, mà còn phụ thuộc vào sự chuẩn bị giống của con người, điều kiện đất đai và khí hậu. Đối với các giống cỏ dùng hom cũng vậy, những đoạn hom đầu có tỷ lệ nẩy mầm cao nhất, khi tăng số đốt của hom sẽ tăng tỷ lệ nẩy mầm, tuy nhiên từ đốt thứ 3 trở đi thì tỷ lệ nẩy mầm giảm xuống đột ngột. Trong thời kỳ nẩy mầm của hạt giống, thì phạm vi nhiệt độ của đất và không khí từ 15 - 350C là thuận lợi cho cỏ sinh trưởng và phát dục. Nhìn chung, khi nhiệt độ tăng lên làm rút ngắn rất nhiều thời gian từ khi gieo hạt tới khi mọc mầm, tuy nhiên, tăng hoặc giảm thấp quá ngưỡng chịu đựng của cây, có thể làm cây non đói ăn tạm thời và ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng về sau.

Nhiệt độ Tất cả quá trình sinh lý thực vật đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ (Salisbury và Ros, 1969) [175]. Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng (nằm trong nhiệt độ tới hạn) thì sinh trưởng tăng và khi nhiệt độ giảm thì sinh trưởng chậm lại. Nếu tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) [82]. Theo Bogdan, (1977) [95] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nẩy mầm là 15 - 200C và tối ưu là 25 - 350C.

Nhiệt độ tối ưu cho cỏ ôn đới quang hợp là 15 - 200C và cỏ nhiệt đới là 30 - 400C. Sự hình thành diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 150C. Cây thức ăn gia súc sinh trưởng tốt nhất trong biên độ nhiệt độ ban ngày hẹp từ 7,2 C đến 350C. Nhiệt độ thích hợp cho đẻ nhánh con của cỏ nhiệt đới thường 0 n 6 nhỏ hơn nhiệt độ thích hợp cho nhánh sinh trưởng (Cooper và Taiton, 1968) [13].

Ở nhiệt độ thấp dưới 100C cây cỏ nhiệt đới có hiện tượng úa vàng, sau đó chết, do diệp lục bị phá hủy. Chính vì vậy, ở các vùng núi cao và xa xích đạo, thì giá lạnh và sương muối là yếu tố giới hạn đối với các giống cây thức ăn có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới (McWilliam, 1978) [153]. Hầu hết cỏ hòa thảo có nhiệt độ tối thích hợp cho sinh trưởng khoảng 200C, nhưng vẫn có thể sinh trưởng ở nhiệt độ thấp hơn (Cooper và Taiton, 1968) [103]. Giới hạn về nhiệt độ của các loài thực vật khác nhau là khác nhau.

Trong khoảng nhiệt độ từ 0 - 350C, nhiệt độ không khí cứ tăng lên 100C có thể làm cho quá trình sống của thực vật tăng 1 - 2 lần. Khi nhiệt độ tăng quá 350C, quá trình sống giảm yếu đi hoặc ngừng hẳn, còn khi nhiệt độ từ 40 - 500C, quá trình sống ngừng hoàn toàn. Dưới ảnh hưởng lâu dài của nhiệt độ cao (chưa vượt qua ngưỡng cao nhất) thực vật phát dục rất nhanh và phát dục này là không bình thường. Nếu ảnh hưởng đúng vào thời kỳ sinh trưởng thì thực vật còi cọc, khí quan dinh dưỡng phát triển không tốt, hoa nở sớm, sản lượng thấp.

Nhìn chung, khi nhiệt độ giảm xuống hay tăng lên quá nhiều thì thực vật bắt đầu chết từng bộ phận hay chết hoàn toàn; Ở nhiệt độ thích hợp nhất, thực vật sinh trưởng vừa nhanh lại vừa tốt. Nếu nhiệt độ tăng, tỷ lệ tiêu hóa được của cỏ và tỷ lệ cacbohydrate phi cấu trúc giảm, nhưng thường thì tỷ lệ chất khoáng và protein tăng (Smith, 1970) [186]. Vì vậy, nhiệt độ hay thời gian thu hoạch cỏ trong năm sẽ ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng của thức ăn (Harris, 1978) [122]; (Marten, 1970) [150]. Nước Nước là yếu tố cần thiết không thể thay thế cho sự sinh trưởng của cây.

Cây sinh trưởng mạnh nhất khi tế bào bão hòa nước. Giảm mức độ bão hòa thì tốc độ sinh trưởng chậm lại. Vì vậy, mùa mưa lượng nước được đảm bảo nên cỏ sinh trưởng mạnh, còn mùa khô thì ngược lại, do lượng nước trong đất là nhân tố hạn chế nhất trong mùa này. Vì vậy, cần tưới nước cho cỏ trong mùa khô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc đánh giá tiềm năng của cỏ hòa thảo nhập nội trong việc nâng cao năng suất và chất lượng chăn nuôi bò thịt. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cỏ mà còn đánh giá hiệu quả kinh tế khi áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, nông dân và chuyên gia trong lĩnh vực chăn nuôi, giúp họ tối ưu hóa nguồn thức ăn và cải thiện chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp chăn nuôi bền vững, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn đánh giá tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn Ba Vì, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về quản lý chất thải trong chăn nuôi. Ngoài ra, Luận văn đánh giá thực trạng ô nhiễm của trang trại chăn nuôi lợn tập trung tại Yên Giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động môi trường và các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm. Cuối cùng, Luận văn đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt của dê lai Boer x Bách Thảo mang đến góc nhìn so sánh về hiệu quả chăn nuôi giữa các giống vật nuôi khác nhau.

Các tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn đa chiều về các vấn đề liên quan đến chăn nuôi và quản lý nông nghiệp bền vững.