MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của đề tài. Mục tiêu của đề tài. Ý nghĩa của đề tài.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
Cơ sở khoa học. Cơ sở thực tiễn. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới.
Tình hình nghiên cứu chè trong nước .Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới .4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam .3 Định hướng phát triển ngành chè. Nhận định tổng quát về tình hình sản xuất, nghiên cứu chè và điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng cây chè. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Vật liệu nghiên cứu.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu. Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu đến khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống chè mới. Nghiên cứu ảnh hưởng của sâu đến khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống chè mới.
Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp bố trí và sơ đồ thí nghiệm. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên.
Vị trí địa lý. Điều kiện đất đai. Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu thời tiết. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè mới tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Đặc điểm hình thái cây chè. Tình hình sâu hại. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ. 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
34 n DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 Thống kê các giống chè mới và diện tích đã áp dụng trong sản xuất.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2005-2012.3: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước. 14 có sản lượng chè cao từ năm 2005-2012.4 Diện tích năng suất, sản lượng chè tại Việt Nam .5: Xuất khẩu chè Việt Nam phân theo thị trường.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2014 .2 Chiều cao cây .3 Đường kính gốc.5 Độ cao phân cành .6 Diễn biến mật độ bọ cánh tơ trên các giống chè nghiên cứu .7 Diễn biến mật độ nhện đỏ. Tính cấp thiết của đề tài Chè (Camellia Sinensis (L) O. Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm.
Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, ngành chè thế giới có bước phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi. Sản phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống. Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển. Sản xuất chè giữ vài trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng.
Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam. Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát triển chè trên cả hai hướng: Ổn định diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các giống chè chọn lọc, trồng các nương chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lượng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ. Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm. Giống được coi là tiền đề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp.
Đối với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Chè là cây lâu năm, trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, trong thời gian dài từ 40-50 năm, đầu tư trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác. Không thể phá đi trồng lại hàng năm được. Mọi quyết định đúng đắn hay sai lầm về giống chè sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của vườn chè trong thời gian rất dài.
Do vậy ở tất cả các nước trồng chè, giống chè tốt là biện pháp được quan tâm hàng đầu, được coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng chè. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm”. Bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống chè mới phù hợp với điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất. Mục tiêu của đề tài Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè.
Đánh giá được tình hình sâu hại chính. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu.
Có kết luận một cách chính xác về khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống chè. Theo đó đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho người trồng chè và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đánh giá, lựa chọn giống chè phù hợp điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất tại Thái Nguyên. n 3 Phần 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermac) lớp hai lá mầm (Dicotyledonae) bộ chè (Theales), họ chè (Thease), chi chè (Camellia), loài (Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O. Kuntze, được phân làm 4 thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919). Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var.
Assamica) và chè Shan (Camellia Sinensis var. Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái: Thân, cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lượng khác nhau, có yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau. Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản. Chè được trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833, Xrilanca 1837 - 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dương) năm 1940.
Cơ sở thực tiễn Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm đã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4%. Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa khi kết quả có từ 1 - 4 hạt.
Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa, đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng. Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ. Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì người ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành. Ưu điểm của phương pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính n 4 tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến.
Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống, Thời vụ giâm cành (điều kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 1. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 1.
Những kết quả nghiên cứu về giống chè Công tác chọn tạo giống trong chè có vai trò rất quan trọng. Việc chọn lọc, lai tạo giống mới không chỉ quyết định tới khả năng cho năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng tới khả năng mở rộng địa bàn, chính vì vậy công tác nghiên cứu chè được quan tâm từ rất sớm. Năm 1905, trạm nghiên cứu chè đầu tiên được thành lập trên đảo Java (Indonexia). Đến năm 1913, Cohen Suart đã phân biệt các giống chè dựa trên hình thái, nghiên cứu sinh lý của sự ra hoa, kết quả, xác định được những dấu hiệu đầu tiên của sự lựa chọn với những tương quan cơ bản của các yếu tố cấu thành năng suất.[2] Các nước có thành tựu nổi bật trong việc lựa chọn giống mới là: Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [18]: In donexia bắt đầu trồng chè vào năm 1864 nhưng không thành công, đến năm 1872 mới thành công trên giống Asam nhập từ Srilanka.
Đến nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích trồng chè lớn trên thế giới, 20 năm trở lại đây họ đã tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đã có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5 có sản lượng cao. Ấn Độ là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích chè nhưng lại là nước đứng đầu thế giới về sản lượng chè. Có được thành tích trên do Ấn Độ luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới vào sản xuất. Theo PGS Đỗ Ngọc Quý và cs (2000) [14] thì từ những năm 50 của thế kỷ 20 Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt trong đó có n 5 102 giống chè được nhân giống bằng phương pháp vô tính.