Đặt vấn đề Cây chè (Camellia sinensis (L) O. Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có lịch sử phát triển từ rất lâu đời (khoảng 5000 năm), nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm. Tuy nhiên, nhờ những đặc tính hữu ích và có giá trị lớn đối với sức khỏe con người mà cây chè đã trở thành cây trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển.
Cây chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của nước nhà, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành Nông nghiệp Việt Nam. Sản xuất chè cho thu nhập, ổn định, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc. Sản xuất chè Việt Nam có nhiều lợi thế như đa dạng và phong phú về nguồn giống, đất đai, khí hậu phù hợp, có nhiều mô hình năng suất cao, nhiều vùng chè có chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng). Các giống chè Shan bản địa năng suất cao, chất lượng tốt có thể chế biến chè vàng, chè Phổ Nhĩ và sản xuất chè hữu cơ giá trị cao.
Có một nghịch lý là sản lượng chè của Việt Nam đứng thứ 5 thế giới nhưng giá trị xuất khẩu lại đứng thứ 10. Tuy có nhiều tiềm năng nhưng ngành chè của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Thứ nhất, khoảng 90% sản lượng chè xuất khẩu của nước ta vẫn ở dạng bán thành phẩm nên giá trị tăng thấp. Thứ hai, chất lượng của sản phẩm chè chưa cao, mặt hàng chưa đa dạng, do đó giá trị xuất khẩu thấp hơn so với mặt bằng chung của thế giới.
Thứ ba, thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới có thể giúp cho việc xuất khẩu trở nên dễ dàng hơn do các hàng rào thuế quan dần được gỡ bỏ, nhưng việc xuất khẩu phải tuân thủ theo 1 những yêu cầu khắt khe hơn về vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là tính đa dạng và chất lượng cao của sản phẩm chè. Đến nay, năng suất chè Việt Nam tương đương năng suất chè thế giới. Tuy nhiên, sản xuất chè chưa phát huy tiềm năng cây chè Việt Nam, giá bán bình quân sản phẩm chè Việt Nam chỉ bằng 70% giá bán bình quân của sản phẩm chè thế giới, do sản phẩm chè Việt Nam chưa đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã sản phẩm chưa thu hút và sức cạnh tranh thấp, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn an toàn. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho ngành chè Việt Nam để sản xuất ra các mặt hàng chè chất lượng cao, đa dạng hóa sản phẩm và có cạnh tranh với các mặt hàng chè khác của các nước trên thế giới thì sản xuất nguyên liệu là một trong các khâu có vai trò rất quan trọng.
Để giải quyết vấn đề đó ngoài việc nghiên cứu để tạo ra các giống chè mới có chất lượng cao thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt tạo nên năng suất cao và nâng cao chất lượng nguyên liệu là cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật che phủ vườn chè trước khi hái để sản xuất nguyên liêụ chế biến chè Matcha chất lượng cao ở vụ Xuân và vụ Hè từ giống chè LCT1 tại Phú Hộ - Phú Thọ. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu kỹ thuật che phủ vườn chè trước khi hái để sản xuất nguyên liêụ chế biến chè Matcha chất lượng cao ở vụ Xuân và vụ Hè từ giống chè LCT1 tại Phú Hộ - Phú Thọ từ đó góp phần xây dựng quy trình canh tác chè đạt năng suất cao và chất lượng tốt. Yêu cầu của đề tài Theo dõi và nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao che phủ và thời gian che phủ trước khi hái đến năng suất, chất lượng và sâu bệnh hại của giống chè LCT1.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài xác định biện pháp kỹ thuật che phủ vườn chè thích hợp cho giống chè LCT1 làm cơ sở để nghiên cứu đối với những giống chè khác, góp phần làm tăng chất lượng nguyên liệu và tăng giá trị sản phẩm chè. - Góp phần làm tài liệu cho cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học về chè. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài thành công sẽ đưa ra được biện pháp kỹ thuật che sáng thích hợp áp dụng trên giống chè LCT1 góp phần nâng cao chất lượng nguyên liệu chè.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là cơ sở để bổ sung và hoàn thiện biện pháp kỹ thuật canh tác đối với giống chè LCT1 nói riêng và các giống chè khác nói chung. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái trong điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Hiện nay, do diễn biến bất thường của thời tiết, có những thời điểm nhiệt độ thường xuyên lên đến 38-40oC, nắng nóng kéo dài nhiều ngày ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng Nhiệt độ không khí có lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây chè là 22-28oC, cây chè sinh trưởng chậm ở 15-18oC, dưới 10oC cây chè ngừng sinh trưởng.
Trên 30oC cây chè mọc chậm và trên 40oC cây chè sẽ bị khô xám nắng ở bộ phận non. Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm, lớn lên ưa ánh sáng. Ở Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản trong kỹ thuật trồng chè không nói đến cây che bóng. Trái lại Ấn Độ, Srilanka, Đông Phi đều trồng cây bóng mát cho chè ở những vùng thấp nắng nóng.
Trong một thí nghiệm nhỏ của Ấn Độ trồng cây che bóng giảm 30% ánh sáng, tăng sản lượng chè được 34%. Ở Việt Nam, cây che bóng cho chè vùng Bảo Lộc - Lâm Đồng nhất là Pleiku là cây muồng đen, ở Phú Thọ - Tuyên Quang - Yên Bái. là cây tràm lá nhọn (Nguyễn Văn Hùng & Nguyễn Văn Tạo, 2006). Bên cạnh đó, do chè là cây ưa ánh sáng tán xạ, không chịu ánh nắng trực tiếp nên nắng nóng, nhiệt độ cao sẽ khiến chè khó phát triển.
Vì vậy để giảm bớt tác hại do thời tiết ở các nương chè nên trồng các loại cây che bóng, thường lựa chọn các loại cây có độ che phủ rộng, lá nhỏ như muồng lá kim, xoan vừa tạo độ râm mát đồng thời vẫn đảm bảo ánh sáng cho cây chè sinh trưởng. Cây che bóng có tác dụng tốt nhằm tạo ánh sáng tán xa giúp cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt hơn và cho vùng tiểu sinh thái. Ngoài việc che một 4 phần ánh sáng, cây che bóng còn có tác dụng cải tạo đất, làm giàu dinh dưỡng cho đất, đồng thời có tác dụng kéo lượng nước ở tầng sâu lên tầng mặt nơi bộ rễ chè hoạt động. Việc trồng cây che bóng cho chè mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều vấn đề như tranh chấp chất dinh dưỡng và nước với cây chè, vấn đề bất tiện khi thu hoạch bằng máy, hoặc lá cây che bóng rụng xuống sẽ lẫn với chè.
Vì vậy vấn đề trồng cây che bóng cho nương chè vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Che sáng là một biện pháp làm giảm cường độ ánh sáng cho nương chè bằng hình thức dùng lưới che để giúp cho cây chè sinh trưởng tốt. Cường độ ánh sáng trên nương chè khi che nắng phụ thuộc vào độ cao che nắng và mức độ che khác nhau. Thời gian che nắng dài hay ngắn cho nương chè sẽ tạo khả năng quang hợp tốt hơn, tạo năng suất và chất lượng sản phẩm tốt sẽ là vấn đề cần giải quyết khi nghiên cứu về che bớt ánh sáng cho nương chè.
Vì vậy, việc che sáng bằng hình thức dùng lưới cũng tác đông trực tiếp cho việc tao ra nguyên liệu chất lượng để phục vụ cho quá trình chế biến tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao và đa dạng hóa sản phẩm chè. Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè trên thế giới Che sáng cây chè là biện pháp được sử dụng để sản xuất chè chất lượng cao. Có ba loại chè được trồng trong điều kiện che sáng, trong đó có sự khác nhau về thời gian che và phương pháp sản xuất: Matcha, Gyokuro, và Kabusecha. Ban đầu, che sáng được xem như là giải pháp xử lý để bảo vệ cây chè khỏi tác hại của sương giá.
Người nông dân nhận ra rằng cây chè trồng trong điều kiện che sáng và không che là khác nhau và sự khác biệt giữa 2 loại chè này là chè trồng trong điều kiện che sáng và không che là ở hương vị độc đáo, màu xanh tươi, và mềm mại của lá chè. 5 Che sáng là là biện pháp kỹ thuật trong canh tác cây chè trước thời điểm thu hoạch búp chè. Theo nhóm tác giả Kito & cs. (1968) cho rằng: Cơ sở khoa học của biện pháp che sáng là điều tiết quá trình quang hợp ở mức độ chiếu sáng thích hợp để cây chè tăng cường sự tích lũy thành phần các chất hóa học.
Theo Carr-Squir (1979) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng với sinh trưởng chè, đã chỉ ra rằng: Ở một số vùng chè trên thế giới, nhiệt độ không khí tối thiểu là 13-14oC, nhiệt độ tối thích là 18- 25oC, nhiệt độ tối cao là 30oC, nhiệt độ bề mặt lá chè tối thiểu là 21oC, nếu nhiệt độ trên 30oC sẽ có hiện tượng quang hợp và sinh trưởng của cây chè sẽ giảm nhanh. Cllander & Woodhear dẫn theo Carr (1997) khi nghiên cứu ảnh hưởng của cây che bóng đến sinh trưởng và năng suất chè, cho biết nếu ở điều kiện nương chè có trồng che bóng có thể ngăn chặn được nhiệt độ cao ở lá và sự thiếu hụt bão hoà hơi nước của không khí, do đó năng suất cao hơn. Tuy nhiên theo tác giả việc trồng cây che bóng cho cây chè phải chú ý đến ảnh hưởng trở lại của cây che bóng đối với cây chè. Theo Barbora (1994) Trạm thí nghiệm Chè Tocklai (Ấn Độ) ở vùng Đông Bắc Ấn Độ, khi tán chè còn thưa nên trồng các cây trồng xen và cây che bóng là cần thiết.