Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây chè (Camellia sinensis (L.) O. Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nóng ẩm, giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Mặc dù Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản lượng chè, nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đứng thứ 10. Khoảng 90% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở dạng bán thành phẩm thô, khiến giá bán bình quân chỉ bằng khoảng 70% giá bán bình quân của thị trường thế giới. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều, chủng loại sản phẩm chưa đa dạng, mẫu mã chưa thu hút và năng lực cạnh tranh còn hạn chế trước các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm khắt khe trong thời kỳ hội nhập.

Để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành chè, việc định hướng sản xuất các dòng sản phẩm cao cấp như bột chè xanh Matcha từ nguồn nguyên liệu nội địa là yêu cầu cấp thiết. Cây chè có đặc tính sinh thái ưa ánh sáng tán xạ; khi gặp điều kiện nhiệt độ cao trên 35°C–40°C và nắng gắt kéo dài, búp chè dễ bị xám nắng, cằn cỗi và xơ hóa. Các phương pháp che bóng truyền thống bằng cây lâm nghiệp xen canh (như muồng đen, tràm lá nhọn) tuy tạo được ánh sáng tán xạ nhưng bộc lộ nhiều hạn chế như cạnh tranh dinh dưỡng và nước với cây chè, gây khó khăn cho việc đưa máy móc vào thu hái, và lá cây che bóng rụng làm lẫn tạp chất vào nguyên liệu. Do đó, việc nghiên cứu kỹ thuật che sáng nhân tạo bằng lưới đen trước khi thu hoạch nhằm điều tiết quá trình sinh trưởng và tích lũy hoạt chất sinh hóa của búp chè là hướng tiếp cận có ý nghĩa thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu xác định kỹ thuật che phủ vườn chè thích hợp (về chiều cao dàn che và thời gian che phủ trước khi hái) nhằm sản xuất nguyên liệu chế biến chè Matcha chất lượng cao ở vụ Xuân và vụ Hè từ giống chè LCT1 tại Phú Hộ - Phú Thọ, góp phần xây dựng quy trình canh tác đạt năng suất cao và phẩm cấp tốt.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Theo dõi và đánh giá ảnh hưởng của các mức chiều cao che phủ đến tốc độ sinh trưởng búp, năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng nguyên liệu và mức độ phát sinh sâu hại chính trên giống chè LCT1.
  2. Theo dõi và đánh giá ảnh hưởng của thời gian che phủ trước khi thu hái đến sinh trưởng búp, năng suất, phẩm cấp cơ giới, thành phần sinh hóa và điểm thử nếm cảm quan của nguyên liệu chè giống LCT1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống chè LCT1 ở giai đoạn tuổi 5. Đây là giống chè được lai tạo từ tổ hợp lai giữa dòng chè Shan Cù Dề Phùng (cây mẹ) và giống chè Trung Du (cây bố) từ năm 1985 tại Viện Nghiên cứu Chè (nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc), đã được Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống sản xuất thử theo Quyết định số 52/QĐ-TT-CCN ngày 28/02/2019.
  • Phạm vi không gian: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đóng tại Khu 9, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi thời gian: Thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện qua hai mùa vụ chính trong năm là vụ Xuân và vụ Hè năm 2021 (từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và khung khoa học

Nghiên cứu dựa trên các nguyên lý sinh lý học thực vật và hóa sinh chè. Cây chè là cây trung tính, giai đoạn kiến thiết ưa bóng râm và trưởng thành ưa ánh sáng tán xạ. Cường độ ánh sáng và nhiệt độ môi trường tác động trực tiếp đến cường độ quang hợp cũng như cơ chế tổng hợp các hợp chất hữu cơ trong lá chè non:

  • Biến đổi sinh hóa dưới điều kiện che sáng: Hạn chế bức xạ mặt trời trực tiếp làm giảm tốc độ quang hợp phân giải amino acid, thúc đẩy sự tích lũy L-theanine và caffeine, đồng thời ức chế quá trình chuyển hóa amino acid thành polyphenol/catechin (như EGCG), từ đó giảm vị chát đắng và tăng vị ngọt dịu (vị umami) đặc trưng cho nguyên liệu chế biến Matcha. Che bớt ánh sáng còn kích thích tế bào lá tăng cường tổng hợp sắc tố diệp lục (chlorophyll a và b), giúp búp và lá có màu xanh đậm tự nhiên.
  • Quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật viện dẫn:
    • Tiêu chuẩn ngành TCVN 1053-71 về phân loại phẩm cấp chè đọt tươi (loại A, B, C, D dựa trên tỷ lệ lá bánh tẻ).
    • Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-28:2010/BNNPTNT về quy trình xác định tỷ lệ bánh tẻ của búp chè bằng phương pháp bấm bẻ cơ học.
    • Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-38:2010/BNNPTNT về phương pháp điều tra và đánh giá mức độ gây hại của các loài sâu bệnh hại chè.
    • Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 3218–2012 về phương pháp thử nếm cảm quan chất lượng chè xanh.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) trên nương chè giống LCT1 tuổi 5, gồm 2 nội dung độc lập:

  1. Nội dung 1 (Thử nghiệm chiều cao che phủ): Gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 100 m² (tổng diện tích 1.200 m²), che phủ trước khi hái cố định 10 ngày:
    • CT1 (Đối chứng): Không che sáng.
    • CT2: Dàn che cách mặt tán chè 80 cm.
    • CT3: Dàn che cách mặt tán chè 120 cm.
    • CT4: Dàn che cách mặt tán chè 150 cm.
  2. Nội dung 2 (Thử nghiệm thời gian che phủ trước hái): Gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô là 100 m² (tổng diện tích 1.200 m²), cố định chiều cao dàn che ở mức 150 cm cách tán chè:
    • CT1 (Đối chứng): Không che trước khi hái.
    • CT2: Che phủ trước khi hái 5 ngày.
    • CT3: Che phủ trước khi hái 10 ngày.
    • CT4: Che phủ trước khi hái 15 ngày.

Vật liệu và chế độ phân bón:

  • Vật liệu che sáng: Sử dụng lưới dệt màu đen của Công ty Cổ phần Thái Việt có khả năng giảm 70% cường độ ánh sáng so với điều kiện tự nhiên ngoài trời.
  • Nền phân bón áp dụng đồng nhất: Mức bón tính theo định mức 40 kg N/tấn sản phẩm (tỷ lệ phối trộn N:P:K = 3:1:2) kết hợp 75 kg MgSO4/ha và 1.000 kg bột đậu tương/ha (quy đổi tương đương 1.000 kg ure/ha, 500 kg lân/ha, 1.000 kg kali/ha), chia làm 4 đợt bón trong năm (tháng 3 bón 30%, tháng 5 bón 20%, tháng 7 bón 30%, tháng 9 bón 20%).

Phương pháp thu thập chỉ tiêu và xử lý dữ liệu:

  • Tốc độ sinh trưởng búp: Đo chiều dài cố định từ gốc búp đến đỉnh sinh trưởng theo chu kỳ 7, 14 và 21 ngày sau khi cây bắt đầu bật mầm.
  • Năng suất và cấu thành năng suất: Xác định mật độ búp bằng khung đo tiêu chuẩn 25 cm x 25 cm trên 30 cây đại diện; khối lượng búp 1 tôm 3 lá cân mẫu 100 g theo phương pháp 5 điểm chéo góc; năng suất thực thu cân toàn bộ diện tích ô thí nghiệm rồi quy đổi ra tấn/ha.
  • Chất lượng nguyên liệu: Tách phân tích thành phần cơ giới (tỷ lệ lá 1, lá 2, lá 3, tôm, cuộng); xác định tỷ lệ búp mù xòe; tỷ lệ bánh tẻ theo phương pháp bấm bẻ mẫu 50 g.
  • Hóa sinh và cảm quan: Đo hàm lượng Chlorophyll (a, b) bằng phương pháp quang học; tanin theo phương pháp Leventhal; chất hòa tan theo phương pháp Vronxov (1946); axit amin theo phương pháp V.; hợp chất thơm theo Kharepbava (1960); điểm thử nếm theo TCVN 3218–2012.
  • Điều tra sâu hại: Mật độ rầy xanh (dùng khay tôn 25 x 25 x 5 cm tráng dầu hỏa đập tán chè); bọ cánh tơ (đếm trực tiếp trên 125 búp); nhện đỏ (đếm trên lá bánh tẻ); bọ xít muỗi (tính tỷ lệ % búp bị chích hút).
  • Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu được phân tích phương sai (ANOVA), tính sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% (LSD0,05) và hệ số biến động (CV%) bằng phần mềm IRRISTAT 5.0 và Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu nghiên cứu (Chương 1)

Chương này tổng kết các luận điểm khoa học và kết quả nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về kỹ thuật che bóng cho cây chè:

  • Khái quát nguồn gốc sinh thái của cây chè vốn thích ứng với điều kiện râm mát vùng cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á; nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng là 22°C–28°C, dưới 10°C cây ngừng phát triển, trên 30°C sinh trưởng suy giảm và trên 40°C bộ phận non bị cháy khô.
  • Lược khảo các tài liệu quốc tế về sản xuất chè có che sáng (Matcha, Gyokuro, Kabusecha tại Nhật Bản; nghiên cứu của Carr-Squir 1979, Barbora 1994, Hideki Horie et al. 2018, Toyomasa Anan et al. 1974, Eiji Kobayashi et al. 2010), chỉ ra rằng việc che bớt ánh sáng giúp hạn chế thâm hụt bão hòa hơi nước trong không khí, tăng nồng độ theanine, caffeine, axit amin (đặc biệt là Arginine, Serine, Asparagine) và giảm tỷ lệ các phân đoạn catechin gây đắng.
  • Tổng kết tình hình nghiên cứu tại Việt Nam (Nguyễn Xuân Cường 2018, Lê Thế Tùng 2018, Dương Trung Dũng & Phan Thị Thu Hằng 2017, Vũ Thị Thiện 2014) về các biện pháp tủ gốc giữ ẩm, trồng cây che bóng (muồng lá nhọn, cốt khí) và bước đầu ứng dụng lưới đen che sáng trước thu hoạch trên các giống chè Kim Tuyên, PH1, PH10, LDP1.
  • Hệ thống hóa đặc điểm hình thái thực vật (thân, cành, mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ, cấu tạo giải phẫu lá, hệ rễ) và động thái các thành phần sinh hóa chủ yếu trong búp chè (nước, tanin, protein, axit amin, pectin, enzyme polyphenoloxidase, hợp chất thơm, vitamin).

Nội dung và phương pháp nghiên cứu (Chương 2)

Trình bày chi tiết đặc điểm nông sinh học của giống chè LCT1: diện tích lá 26,8 cm², búp non có tuyết dày, màu xanh đậm, thời gian sinh trưởng dài (294 ngày/năm với 7 đợt bật mầm), khả năng chịu nhiệt và chống chịu sâu bệnh khá. Thiết lập quy trình bố trí thực nghiệm đồng ruộng, hệ thống hóa công thức tính toán thành phần cơ giới búp, tỷ lệ búp mù xòe, phương pháp bấm bẻ xác định tỷ lệ bánh tẻ theo QCVN 01-28:2010/BNNPTNT, cùng các quy trình phân tích hóa nghiệm và điều tra dịch hại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận (Chương 3)

Chương này công bố và phân tích các số liệu thực nghiệm thu được từ hai thí nghiệm:

  • Tốc độ sinh trưởng búp: Chiều cao che phủ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự vươn dài của búp chè. Tại mốc 21 ngày sau bật mầm, công thức CT4 (che cao 150 cm) đạt tốc độ sinh trưởng cao nhất ở cả 2 vụ (vụ Xuân đạt 6,64 cm; vụ Hè đạt 8,25 cm), tạo sự sai khác có ý nghĩa thống kê so với công thức đối chứng không che CT1 (vụ Xuân đạt 5,22 cm; vụ Hè đạt 7,26 cm).
  • Năng suất và cấu thành năng suất: Công thức CT4 vượt trội về mọi yếu tố cấu thành năng suất ở cả hai mùa vụ:
    • Mật độ búp vụ Xuân đạt 233,07 búp/m² (so với đối chứng 205,87 búp/m²); vụ Hè đạt 248,23 búp/m² (so với đối chứng 214,15 búp/m²).
    • Khối lượng búp 1 tôm 3 lá vụ Xuân đạt 1,17 g/búp (đối chứng 1,00 g/búp); vụ Hè đạt 1,34 g/búp (đối chứng 1,06 g/búp).
    • Chiều dài búp vụ Xuân đạt 6,86 cm (đối chứng 6,16 cm); vụ Hè đạt 7,77 cm (đối chứng 6,79 cm).
    • Năng suất thực thu vụ Xuân của CT4 đạt 2,73 tấn/ha (tăng 32,52% so với CT1 đạt 2,06 tấn/ha); vụ Hè đạt 4,63 tấn/ha (tăng 29,69% so với CT1 đạt 3,57 tấn/ha).
  • Diễn biến mật độ sâu hại chính: Việc che sáng ở độ cao 150 cm tạo tiểu khí hậu thuận lợi cho cây nhưng ức chế mật độ của nhiều loài dịch hại chính so với đối chứng không che:
    • Mật độ rầy xanh vụ Xuân ở CT4 giảm còn 0,98 con/khay (đối chứng là 1,64 con/khay); vụ Hè ở CT4 là 0,93 con/khay (đối chứng là 1,73 con/khay).
    • Bọ cánh tơ vụ Xuân ở CT4 giảm xuống 1,11 con/búp (đối chứng 1,76 con/búp).
    • Mật độ nhện đỏ ở CT4 vụ Xuân là 1,42 con/lá (đối chứng 2,04 con/lá); vụ Hè là 1,22 con/lá (đối chứng 2,11 con/lá).
    • Tỷ lệ bọ xít muỗi gây hại ở các công thức che sáng dao động thấp trong khoảng 0,36%–1,00%.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính

Nghiên cứu đã xác lập các dẫn liệu thực nghiệm về tác động của kỹ thuật che sáng bằng lưới đen (giảm 70% ánh sáng) đến giống chè LCT1 tại Phú Thọ:

Chỉ tiêu theo dõi Thời vụ CT1 (Đối chứng - Không che) CT2 (Che cao 80 cm) CT3 (Che cao 120 cm) CT4 (Che cao 150 cm) LSD0,05
Mật độ búp (búp/m²) Vụ Xuân
Vụ Hè
205,87
214,15
210,60
220,15
220,00
228,13
233,07
248,23
19,82
11,37
Khối lượng búp 1 tôm 3 lá (g/búp) Vụ Xuân
Vụ Hè
1,00
1,06
1,09
1,20
1,05
1,17
1,17
1,34
0,12
0,13
Chiều dài búp (cm) Vụ Xuân
Vụ Hè
6,16
6,79
6,42
7,37
6,26
7,01
6,86
7,77
0,69
0,44
Năng suất thực thu (tấn/ha) Vụ Xuân
Vụ Hè
2,06
3,57
2,30
3,64
2,31
3,78
2,73
4,63
—
—
Tỷ lệ tăng năng suất so với Đ/c (%) Vụ Xuân
Vụ Hè
100,00
100,00
111,65
101,96
112,14
105,88
132,52
129,69
—
—
Mật độ rầy xanh (con/khay) Vụ Xuân
Vụ Hè
1,64
1,73
1,53
1,76
1,47
1,53
0,98
0,93
0,19
0,31
Mật độ nhện đỏ (con/lá) Vụ Xuân
Vụ Hè
2,04
2,11
2,09
1,27
1,84
1,38
1,42
1,22
0,46
0,19

Kết quả tổng hợp chỉ ra rằng che phủ vườn chè bằng lưới đen cách mặt tán chè 150 cm và thời gian che phủ 10 ngày trước khi thu hái là giải pháp kỹ thuật tối ưu, giúp cây chè LCT1 đạt tốc độ sinh trưởng búp nhanh nhất, năng suất cao nhất (vụ Xuân tăng 32,52%, vụ Hè tăng 29,69%), giảm thiểu mật độ rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ và tạo nguồn nguyên liệu có thành phần hóa sinh thích hợp nhất cho chế biến bột chè Matcha.

Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Về mặt khoa học: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về phản ứng nông học, sinh lý búp và diễn biến quần thể dịch hại của giống chè mới LCT1 dưới điều kiện điều tiết cường độ chiếu sáng bằng vật liệu lưới nhân tạo tại vùng Trung du Bắc Bộ; đóng góp tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về cây chè.
  • Về mặt thực tiễn: Xác lập thông số kỹ thuật cụ thể (chiều cao giàn 150 cm, thời gian che 10 ngày trước hái bằng lưới đen giảm 70% ánh sáng) để người sản xuất và doanh nghiệp áp dụng trực tiếp trên giống chè LCT1, giúp nâng cao năng suất, cải thiện phẩm cấp nguyên liệu phục vụ chế biến bột Matcha chất lượng cao, đồng thời khắc phục các nhược điểm của biện pháp trồng cây bóng mát truyền thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các chỉ tiêu thực nghiệm mới chỉ được đánh giá trên giống chè LCT1 ở giai đoạn tuổi 5 trong phạm vi vụ Xuân và vụ Hè năm 2021 tại một địa bàn sinh thái cụ thể (xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ); nghiên cứu chỉ sử dụng một loại lưới cản quang 70% mà chưa so sánh đối chứng với các mức độ giảm sáng khác (như 50% hoặc 90%).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu áp dụng kỹ thuật che phủ lưới đen trên các mùa vụ thu hoạch còn lại trong năm (vụ Thu, vụ Đông) và trên các giống chè triển vọng khác; nghiên cứu tích hợp quy trình chế biến sâu bột Matcha từ nguyên liệu sau thu hái; hạch toán chi tiết chi phí đầu tư giàn lưới và hiệu quả kinh tế dài hạn qua các chu kỳ canh tác.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật, Công nghệ Sau thu hoạch tại các trường đại học nông lâm.
    • Cán bộ nghiên cứu tại các viện, trung tâm nghiên cứu cây công nghiệp và cây chè.
    • Các hợp tác xã, doanh nghiệp và nông hộ trồng chè định hướng sản xuất chè xanh cao cấp và bột Matcha.
  • Nội dung giá trị: Phương pháp bố trí thí nghiệm nông học chuẩn mực (RCBD), quy trình điều tra dịch hại đồng ruộng theo QCVN, kỹ thuật đánh giá phẩm cấp cơ giới búp và hệ thống số liệu thực nghiệm về mối tương quan giữa ánh sáng, mật độ búp và năng suất chè LCT1.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống chè LCT1 sử dụng trong nghiên cứu có nguồn gốc và đặc điểm nổi bật gì?

Giống chè LCT1 là con lai giữa giống chè Shan Cù Dề Phùng (mẹ) và chè Trung Du (bố), được tạo lập từ năm 1985 và được Cục Trồng trọt công nhận sản xuất thử theo Quyết định số 52/QĐ-TT-CCN ngày 28/02/2019. Giống có lá hình trứng màu xanh sáng, búp non nhiều lông tuyết màu xanh đậm, thời gian sinh trưởng dài (294 ngày/năm), năng suất trung bình tuổi 15 đạt 18,60 tấn/ha, hàm lượng tannin 29,73%, axit amin 2,84% và có khả năng chịu nóng, chịu rét tốt.

2. Loại lưới che và nền phân bón được áp dụng trong thí nghiệm như thế nào?

Thí nghiệm sử dụng lưới dệt màu đen do Công ty Cổ phần Thái Việt sản xuất, có khả năng làm giảm 70% cường độ ánh sáng tự nhiên. Nền phân bón áp dụng chung gồm: 40 kg N/tấn sản phẩm (tỷ lệ N:P:K = 3:1:2), kết hợp 75 kg MgSO4/ha và 1.000 kg bột đậu tương/ha (tương ứng 1.000 kg ure, 500 kg lân, 1.000 kg kali), chia bón 4 lần vào các tháng 3, 5, 7 và 9.

3. Chiều cao và thời gian che phủ nào mang lại hiệu quả tốt nhất cho giống chè LCT1?

Công thức che phủ cách mặt tán chè 150 cm (CT4) và thời gian che phủ 10 ngày trước khi thu hái mang lại hiệu quả cao nhất về tốc độ sinh trưởng búp, năng suất thực thu, hạn chế sâu hại và đảm bảo chất lượng nguyên liệu chế biến chè Matcha.

4. Mức tăng năng suất thực thu của công thức tối ưu (CT4) so với đối chứng là bao nhiêu?

Ở công thức che sáng 150 cm (CT4), năng suất thực thu vụ Xuân đạt 2,73 tấn/ha (tăng 32,52% so với đối chứng đạt 2,06 tấn/ha); vụ Hè đạt 4,63 tấn/ha (tăng 29,69% so với đối chứng đạt 3,57 tấn/ha).

5. Kỹ thuật che sáng ở chiều cao 150 cm tác động như thế nào đến mật độ rầy xanh và nhện đỏ?

Công thức che cao 150 cm (CT4) giúp làm giảm đáng kể mật độ sâu hại so với đối chứng không che: mật độ rầy xanh ở vụ Xuân giảm từ 1,64 xuống 0,98 con/khay, vụ Hè giảm từ 1,73 xuống 0,93 con/khay; mật độ nhện đỏ ở vụ Xuân giảm từ 2,04 xuống 1,42 con/lá, vụ Hè giảm từ 2,11 xuống 1,22 con/lá.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thu Hà đã giải quyết trọn vẹn vấn đề kỹ thuật che phủ vườn chè phục vụ sản xuất nguyên liệu chế biến Matcha chất lượng cao từ giống chè LCT1 tại vùng Phú Hộ - Phú Thọ. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc sử dụng lưới đen giảm 70% ánh sáng ở chiều cao 150 cm cách tán chè trong thời gian 10 ngày trước thu hái giúp búp chè sinh trưởng vượt trội, tăng năng suất thực thu xấp xỉ 30%–32% ở cả vụ Xuân và vụ Hè, đồng thời kiểm soát hiệu quả các đối tượng sâu hại chính. Đây là công trình thực nghiệm nông học có giá trị tham khảo cao, cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn quan trọng nhằm hoàn thiện quy trình canh tác chè đặc sản giá trị gia tăng tại Việt Nam.