MỞ ĐẦU Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có giá trị kinh tế cao, chính vì vậy trong những năm gần đây cây chè được quan tâm và đầu tư phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập cho người sản xuất và kim ngạch xuất khẩu của Nhà nước. Với 3/4 diện tích đất là đồi núi, Việt Nam có tiềm năng canh tác đất dốc rất lớn. Hiện nay, trong điều kiện biến đổi khí hậu đang diễn ra rất mãnh liệt, kèm theo rất nhiều vấn đề như: Nhiệt độ trái đất tăng, nước biển dâng.dẫn đến diện tích đất canh tác ở vùng trũng, đặc biệt là các vùng ven biển bị giảm mạnh. Trước tình trạng trên, vấn đề khai thác hợp lý và bảo vệ đất dốc càng phải được quan tâm.
Canh tác đất dốc, nếu không có các biện pháp canh tác hợp lý sẽ phải đối mặt với các vấn đề như xói mòn, rửa trôi… dẫn đến phá hủy tầng canh tác và làm thoái hóa đất, đồng thời còn gián tiếp gây ra các hiện tượng tự nhiên như lũ lụt, hạn hán. Sản phẩm từ cây chè được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều dạng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống. Người ta uống chè không chỉ để thưởng thức hương vị độc đáo của nó mà còn do uống chè có lợi cho sức khỏe. Các nhà khoa học Nhật Bản khi nghiên cứu các loại thực phẩm chất lượng cao đã xác nhận uống chè có tác dụng bổ dưỡng cho cơ thể, chống phóng xạ, ngăn ngừa và chống bệnh tim mạch, viêm nhiễm… Do chè có những tác dụng tốt lại là thức uống phù hợp với mọi đối tượng nên số người uống chè ngày càng tăng.
Cây chè có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng vùng trung du miền núi Việt Nam. Thời gian qua, sau khi nhà nước có hàng loạt chính sách phát triển các loại cây trồng để nâng cao đời sống đồng bào vùng trung du miền núi, cây chè ngày càng khẳng định được vị thế xứng đáng của nó trong quá trình phát triển kinh tế vùng. Trong những năm gần đây, ngành chè Việt Nam đã đạt được những bước tiến vượt bậc. Đến hết năm 2013, nước ta đã có khoảng 130.000 ha chè, trong đó diện tích chè kinh doanh khoảng 105.000 ha, năng suất bình quân khoảng 7,7 tấn búp tươi/ ha; có trên 455 cơ sở chế biến chè với tổng công suất chế biến trên 450.000 tấn chè khô/năm, sản lượng chè khô khoảng 180.000 tấn; xuất khẩu 145.000 tấn (hơn 2 80%), kim ngạch đạt khoảng 250.000 USD; tiêu thụ trong nước khoảng 35.000 tấn, doanh thu khoảng 3.
Sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đứng vào hàng thứ 6 trên thế giới về sản lượng thứ 5 về xuất khẩu. Khi đưa các giống chè mới vào sản xuất, cần phải nghiên cứu các biện pháp canh tác tổng hợp để khai thác tốt nhất tiềm năng năng suất và chất lượng của giống và sản xuất chè phải hướng tới một nền canh tác bền vững, trong đó mục tiêu của các biện pháp thâm canh là vừa đảm bảo tăng năng suất, chất lượng đồng thời bảo vệ và cải tạo được đất trồng. Nhiều biện pháp đã được áp dụng như: Kỹ thuật đốn, hái, bón phân thích hợp, trồng xen cây che phủ, sử dụng biện pháp che phủ gốc, giữ lại cành đốn cuối năm. trong đó nổi bật là biện pháp che phủ gốc bằng xác thực vật (rơm rạ, tế guột, cỏ dại.) và trồng xen cây họ đậu….
Đây là biện pháp đơn giản, dễ thực hiện và mang lại hiệu quả thiết thực, lâu dài cả về kinh tế và môi trường sinh thái. Vật liệu tủ rất sẵn có tại các vùng chè, nếu người dân chịu bỏ công đi cắt thì không phải mất tiền mua. Mỗi giống chè có đặc điểm sinh trưởng khác nhau, có các phản ứng khác nhau với điều kiện khô hạn hoặc với những biến đổi về nhiệt độ trên bề mặt đất trong điều kiện che phủ…dẫn đến có những động thái sinh trưởng khác nhau. Giống PH10 là giống chè mới có chất lượng tốt, nguyên liệu có thể chế biến các mặt hàng chè xanh chất lượng cao tuy nhiên đây là giống sinh trưởng và phát triển chậm hơn các giống chè khác và đòi hỏi phải có chế độ thâm canh cao.
Trong các biện pháp thâm canh ngoài vấn đề phân bón và các biện pháp kỹ thuật kèm theo, canh tác chè hiện nay vấn đề che phủ cho nương chè KTCB là một biện pháp quan trọng trong canh tác chè bền vững. Vì vậy việc xác định vật liệu thích hợp là cần thiết đối với giống chè này. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của giống chè PH10 tại Phú Thọ”. Mục tiêu của đề tài.
- Xác định vật liệu che phủ thích hợp cho giống chè PH10 giai đoạn kiến thiết cơ bản. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến sinh trưởng của giống chè PH10 giai đoạn chè KTCB. - Đánh giá được ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến một số yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng của giống chè PH10 giai đoạn chè KTCB. - Đánh giá được ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến lý, hoá tính đất, vi sinh vật đất trồng chè.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa vật liệu che phủ đến giống PH10 giai đoạn chè kiến thiết cơ bản. Ý nghĩa khoa học Đề tài đánh giá một cách có cơ sở khoa học về ảnh hưởng của kỹ thuật che phủ đất (loại vật liệu che phủ) đến các chỉ tiêu lý, hóa tính đất, sinh trưởng, năng suất, chất lượng và sâu bệnh của giống chè PH10 giai đoạn chè kiến thiết cơ bản tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc. Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm những tài liệu khoa học nghiên cứu về cây chè phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài thành công sẽ đưa ra được biện pháp kỹ thuật che phủ hợp lý, áp dụng cho giống chè PH10 giai đoạn chè kiến thiết cơ bản.
Góp phần bảo vệ đất, phát triển bền vững nương chè giai đoạn kiến thiết cơ bản, nâng cao năng suất, chất lượng chè. Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là cơ sở để bổ sung và hoàn thiện quy trình kỹ thuật chăm sóc cây chè giai đoạn kiến thiết cơ bản. 4 PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học Nương chè giai đoạn kiến thiết cơ bản do cây chè chưa khép tán để lại khoảng đất trống rất lớn giữa hai hàng chè.
Dưới tác động của các điều kiện về nhiệt độ, ánh sáng làm cho lượng nước trong đất bị bốc hơi nhiều dẫn đến độ ẩm đất bị suy giảm, đặc biệt trong điều kiện khô hạn. Mặt khác, đất trống tạo điều kiện rất tốt cho các loài cỏ dại phát triển, cạnh tranh dinh dưỡng với cây chè, làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón. Đặc biệt ở những nương chè có độ dốc lớn, việc tạo những khoảng đất trống rất dễ gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi dưới tác động cơ học của nước mưa. Biện pháp che phủ cho nương chè giai đoạn kiến thiết cơ bản, đặc biệt che phủ bằng các loại vật liệu là tàn dư thực có ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì độ ẩm đất (nhất là trong giai đoạn khô hạn), hạn chế cỏ dại phát triển và giảm xói mòn rửa trôi (ở những vùng đất có độ dốc lớn).
Mặt khác, các tàn dư thực vật tủ trên đất trồng chè còn có tác dụng cải thiện lý, hóa tính đất do hoạt động của các vi sinh vật phân giải, làm tăng độ xốp, tăng hàm lượng mùn của đất, đồng thời bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây từ nguồn dinh dưỡng sẵn có trong các tàn dư thực vật sau khi bị phân hủy. Yêu cầu sinh thái của cây chè So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: Đất tốt, nhiều mùn và thoát nước. Độ PH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường.
Quan hệ giữa đất và chất lượng chè rất phức tạp. Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp. Song trong những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất. Kinh nghiệm của 5 Trung Quốc cho thấy chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh, mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt.
Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng và nước có màu vàng. Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít (Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Văn Ngọc, 1998 [17]. Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica. Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét.
Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước. Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ. Vì vậy vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết. Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè.
Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã gây hại cho cây chè. Bởi thế người ta không dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ khi đất có độ pH quá thấp, dưới 4 (Đỗ Ngọc Quỹ, 1989) [14]. Nghiên cứu ảnh hưởng của kĩ thuật che phủ đất đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng búp và sâu hại trên chè. Các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đều cho thấy được tác dụng rất tốt của việc che phủ đất tới sinh trưởng phát triển cây chè, làm tăng năng suất và giảm sâu bệnh hại trên chè.