MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đến năm 2008 tổng diện tích chè cả nước 131.478 ha, năng suất búp trung bình 7,15 tấn/ha/năm (tăng 12% so năm 2005), sản lượng trên 165 ngàn tấn khô, xuất khẩu đạt 133,150 triệu USD/ năm (tăng 37,428% so năm 2005). Giải quyết công việc cho 400.000 hộ sản xuất của 35 tỉnh trong cả nước [11]. Sản xuất chè Việt Nam có nhiều lợi thế như đa dạng phong phú về nguồn giống, đất đai khí hậu phù hợp.
Đến nay, năng suất chè Việt Nam tương đương năng suất chè thế giới. Tuy vậy sản xuất chè chưa phát huy tiềm năng cây chè Việt Nam, giá bình quân sản phẩm chè Việt Nam chỉ bằng 70% giá bán bình quân của sản phẩm chè thế giới [11]. Để nâng cao giá bán của sản phẩm chè Việt Nam, con đường nhanh và hiệu quả là phát triển các giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốt thay thế cho các vườn chè giống cũ kém chất lượng. Qua 5 năm (2001 – 2005), nhờ công tác chọn tạo giống đã tạo ra các giống chè mới Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Hùng Đỉnh Bạch, PT95, Bát Tiên, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Shan Chất Tiền, Shan Tham Vè.
Đó là các giống chè có chất lượng cao, năng suất búp cao. Đặc biệt, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, Keo Am Tích và Shan Chất Tiền là bốn giống chè đang được ngành chè có chủ trương phát triển rộng trong những năm tới. Trong đó, nhóm giống chè có nguồn gốc Trung Quốc: Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, Keo Am Tích có chất lượng cao chế biến theo hướng chế biến chè xanh đặc sản và chè Ôlong có giá trị cao. Giống chè Shan chế biến các loại chè xanh, vàng, chè Phổ Nhĩ có giá trị độc đáo của các giống cây trồng bản địa quí [10].
Tuy nhiên, để các giống này phát huy ưu thế, tiềm năng của giống cần phải nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật trồng trọt. Trong kỹ thuật trồng chè, mật độ là một trong những yếu tố quyết định nhất đến sản lượng vườn chè. Ở Việt Nam hiện nay chưa xác định được mật độ trồng thích hợp cho từng giống, mật độ đang giao động khoảng 1,8 vạn cây/ha [7]. Nếu không xác định được mật độ, khoảng cách trồng phù hợp sẽ gây lãng phí tiền đầu tư về giống và công lao động.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 Việc tìm ra mật độ trồng thích hợp cho từng giống chè để nâng cao năng suất, sản lượng chè là rất cần thiết. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống chè giai đoạn 3 – 6 tuổi” 2. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng búp chè trên một số giống chè mới giai đoạn 3 - 6 tuổi, làm cơ sở khoa học cho việc tác động các biện pháp kỹ thuật canh tác, nhằm đáp ứng yêu cầu của sản xuất là năng suất cao và hiệu quả kinh tế. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được mật độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của chè.
- Đánh giá được mật độ ảnh hưởng đến sản lượng, năng suất chè. - Đánh giá được mật độ ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu chè búp 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Thấy được mối liên hệ giữa mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất cây chè ở từng độ tuổi. - Đề tài có ý nghĩa thực tế, nhằm giúp nâng cao năng suất chè, tránh gây lãng phí về đầu tư về giống và công lao động.
- Báo cáo kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ kỹ thuật, giáo viên, sinh viên, học viên trong các trường về nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Nguồn gốc và phân loại cây chè 1. Nguồn gốc Nguyên sản của cây chè là ở Châu Á, nhưng vùng xuất xứ của cây chè ở Châu Á vẫn không nhất quán giữa các nhà khoa học trong một thời gian dài.
Năm 1753 khi xuất bản cuốn sách về các loại cây và lập ra danh mục tất cả các loài thực vật đã biết, Linne cho rằng có hai giống Thea và Camellia gồm những cây dùng pha chè và theo ông giống Thea chỉ có một loài Thea sinensis. Năm 1762 ông lại cho rằng có hai loài, một để chế biến chè xanh và một để chế biến chè đen (Thea viridis và Thea bohea). Tới lúc này, người ta vẫn chỉ hiểu rằng quê hương của cây chè là ở Trung Quốc. Nó là một loại cây nhỏ, lá nhỏ như những cây bụi.
Năm 1823, một học giả người Anh tên là Bruce đã phát hiện ra những cây chè dại cao 17 – 20m ở vùng Sadiya thuộc bang Assam - Ấn Độ. Từ đó có ý kiến cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn Độ. Tiếp sau đó lần lượt các rừng chè dại được tìm thấy ở Miến Điện, Việt Nam, Lào, thượng nguồn sông Mê Kông và Vân Nam – Trung Quốc. Do đó có ý kiến cho rằng những rừng chè mới tìm thấy chỉ là do con người trồng và bỏ hoang, nhưng quan niệm này vẫn không được mọi người chấp nhận [3].
Với công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 - 1977) [4] về sự tiến hóa hóa sinh của cây chè từ các vùng khác nhau và giữa chè trồng với chè hoang dại. Ông đã đi đến kết luận rằng nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam. Thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Assam Ấn Độ sang Miến Điện, Vân Nam – Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan. Từ đó chia làm hai nhánh, một đi xuống phía Nam, và một đi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam – Trung Quốc.
Điều kiện khí hậu ở đây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm [3]. Phân loại Trong hệ thống phân loại thực vật, cây chè được xếp như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Ngành: Hạt kín (Angiospermae) Lớp: Hai lá mầm (Dicotyledonae) Bộ: Chè (Theales) Họ: Chè (Theaceae) Chi: Chè (Camellia) (Thea) Loài: Camellia (Thea) sinensis Cây chè được chia làm nhiều thứ (varieties), hiện nay cách phân loại của Cohen Stuart (1916) đang được nhiều người công nhận. Ông chia cây chè làm 4 thứ: - Chè Trung Quốc lá nhỏ: Camellia sinensis var. - Chè Trung Quốc lá to: Camellia sinensis var.
- Chè Shan: Camellia sinensis var. Shan - Chè Ấn Độ: Camellia sinensis var. Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng của cây chè * Ánh sáng: Cây chè vốn có nguồn gốc là một cây rừng mọc trong những điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam á. Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm, lớn lên là cây ưa ánh sáng.
* Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí thuận lợi nhất cho sinh trưởng của cây chè là 22-280C, búp chè sẽ sinh trưởng chậm ở 15-180C, nếu nhiệt độ dưới 100C mầm mọc rất chậm. Nhiệt độ trên 300C chè mọc chậm và nếu trên 400C chè sẽ bị khô và xém lá non. Nghiên cứu về vấn đề này Carr – Squir [17] chỉ ra rằng: ở một số vùng chè trên thế giới, nhiệt độ không khí tối thiểu cho chè là 13-140C, nhiệt độ tối thích là 18- 250C, nhiệt độ tối cao là 300C, nhiệt độ bề mặt lá chè tối thiểu là 210C, nếu trên 300C thì quang hợp và sinh trưởng của cây chè sẽ giảm nhanh. Số giờ chiếu sáng càng dài càng có lợi cho sinh trưởng của cây chè, cây chè sẽ ngừng sinh trưởng khi độ dài ngày dưới 11 giờ 15 phút/ ngày.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 * Nƣớc: Nhu cầu nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn vườn ươm và giai đoạn chè kiến thiết cơ bản nhất là đối với những nơi trồng chè bằng cành giâm. Trong giai đoạn chè sản xuất kinh doanh, nước đặc biệt quan trọng nhất là vào những thời kỳ khô hạn. Nước quyết định năng suất và chất lượng của cây chè. Theo nghiên cứu của Carr- Stephen [18] thì hầu hết các vùng chè có lượng mưa 150mm/tháng cây chè sinh trưởng tốt và sẽ cho sản lượng liên tục.
Tổng lượng mưa cả năm là 1.800 mm, nếu lượng mưa dưới 1.150mm, không tưới nước, cây chè sẽ phát triển kém. * Dinh dƣỡng: Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Ngọc Oanh [13] trong búp chè non có 4,5%N, 1,5% P2O5 và 1,2%-1,5% K2O. Hàng năm cây chè có thể cho thu hái 5-20 tấn búp tươi/ha và đốn một lượng cành thân lá lớn. Với chè trong giai đoạn kiến thiết cơ bản (chè mới trồng) yêu cầu về dinh dưỡng ít hơn chè giai đoạn kinh doanh, vì lúc này cây chè mới trồng chưa cần nhiều chất dinh dưỡng nuôi cây.
Cơ sở khoa học của mật độ trồng Mật độ trồng chè có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh doanh vườn chè. Mật độ trồng chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố: - Giống: đối với giống tán nhỏ trồng dày, tán lớn trồng thưa. - Đất: độ dốc lớn trồng với mật độ dày, độ dốc nhỏ trồng vừa phải. - Canh tác: canh tác thủ công có thể trồng dày, dùng cơ giới hóa cần chọn mật độ phù hợp với tính năng kỹ thuật của máy.
- Đầu tư: đầu tư phân bón cao, có tưới nước thì trồng mật độ vừa phải. - Chu kỳ kinh doanh: nếu chu kỳ kinh doanh theo hướng nhanh thu hồi vốn thì có thể trồng với mật độ dày [2]. Trong các yếu tố trên thì yếu tố giống yêu cầu mật độ thích hợp là quan trọng nhất. Mỗi giống chè có đặc điểm hình thái, sinh trưởng khác nhau; đặc biệt là sinh trưởng thân cành và rễ chè.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 *Thân cây chè: Sinh trưởng theo thế đơn trục, có một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành. Do đặc điểm sinh trưởng và do hình dạng phân cành khác nhau, người ta chia thân chè thành ba loại: - Thân gỗ: là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao. - Thân bụi: là loại hình không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng thấp, vị trí phân cành sát mặt đất, phân cành nhiều. - Thân gỗ nhỡ: là dạng trung gian giữa thân bụi và thân gỗ.
Cây có thân chính tương đối rõ, vị trí phân cành thường cao 20 – 30 cm ở phía trên cổ rễ.