MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trƣởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, cây chè đƣợc trồng ở nơi khá xa với nguyên sản của nó. Cây chè đƣợc phát hiện và sử dụng đầu tiên ở Trung Quốc.
Đến nay, ngành chè có bƣớc phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nƣớc Châu Á và Châu Phi. Sản phẩm từ cây chè đang đƣợc sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dƣới nhiều công dụng khác nhau nhƣng phổ biến nhất vẫn là đồ uống. Từ xa xƣa, cây chè đã trở nên rất đỗi thân quen với ngƣời dân Việt Nam. Chè có mặt ngay trong những gánh hàng nƣớc giản dị chốn thôn quê, trong câu ca dao chan chứa tình yêu thƣơng của bà, của mẹ, hay những lúc luận bàn chính sự.
Ngƣời ta ƣa thích nƣớc chè không chỉ vì hƣơng thơm độc đáo của nó, mà còn do uống nƣớc chè rất có lợi cho sức khỏe. Uống chè chống đƣợc lạnh, khắc phục dƣợc sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ƣơng, kích thích vỏ đại não, làm tinh thần minh mẫn, sảng khoái và hƣng phấn (do cafein) trong những thời gian lao động căng thẳng trí óc và chân tay. Chè còn có tác dụng bảo vệ sức khỏe: chữa các bệnh đƣờng ruột (nhờ tanin), lợi tiểu (nhờ teofilin, teobromin), kích thích tiêu hóa mỡ, chống béo phì, chống đƣợc sâu răng và bệnh hôi miệng. Theo các nhà khoa học Nhật Bản khẳng định, chè là một sản phẩm với nhiều thành phần giá trị cao và tác dụng tốt nhƣ A, B1, B2, B6, C… Đây chính là nguồn gốc sức mạnh tuyệt n 2 vời giúp con ngƣời chống lại một số bệnh tật nhƣ: Ung thƣ, các bệnh về tim mạch, viêm xƣơng… Các hội nghị Quốc tế về chè và sức khỏe con ngƣời tại Calcuta (1993), Thƣợng Hải (1995), Bắc Kinh (1996), Shizuoka (1996) đã thông báo tác dụng của chè xanh về chức năng điều hòa sinh lý con ngƣời, ngoài giá trị đặc biệt về dinh dƣỡng và hƣơng vị đặc biệt của thành phẩm, chất cafein trong chè xanh còn có chức năng phòng ngừa ung thƣ bằng cách củng cố hệ thống miễn dịch, phòng ngừa bệnh huyết áp cao hay bệnh đái đƣờng, ngăn ngừa cholesterol tăng cao trong máu, chống lão hóa.
Có thể uống chè là biện pháp hữu hiệu phòng bệnh từ xa. Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trƣởng, phát triển. Sản xuất chè giữ vài trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam.
Do vậy, Việt Nam có chủ trƣơng phát triển chè trên cả hai hƣớng: Ổn định diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các giống chè chọn lọc, trồng các nƣơng chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lƣợng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trƣờng tiêu thụ. Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lƣợng và chất lƣợng sản phẩm. Giống đƣợc coi là tiền đề của sản xuất, là tƣ liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Đối với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh tăng năng suất, chất lƣợng sản phẩm.
Chè là cây lâu năm, trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, trong thời gian dài từ 40-50 năm, đầu tƣ trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác. Không thể phá đi trồng lại hàng năm đƣợc. Mọi quyết định đúng đắn hay sai lầm về n 3 giống chè sẽ có ảnh hƣởng đến sự phát triển của vƣờn chè trong thời gian rất dài. Do vậy ở tất cả các nƣớc trồng chè, giống chè tốt là biện pháp đƣợc quan tâm hàng đầu, đƣợc coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lƣợng và chất lƣợng chè.
Thái Nguyên đƣợc biết đến không những là cái nôi của chiến khu Việt Bắc mà còn nổi tiếng với những dòng chè nhƣ Tân Cƣơng, Sông Cầu, Đại Từ… Ngày nay, sản phẩm chè Thái Nguyên đã có thƣơng hiệu chính thống, đƣợc nhà nƣớc bảo hộ. Tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI đã chỉ rõ cây chè là mũi nhọn để phát triển kinh tế, xây dựng đề án phát triển sản xuất, chế biến tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nhu cầu mở rộng diện tích chè của Thái Nguyên còn rất lớn. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành chè Thái Nguyên là: Xác định đƣợc cơ cấu Giống chè hợp lý, trong đó có các giống chè thích hợp cho chế biến chè xanh.
Tuy nhiên việc đầu tƣ cho sản xuất chè ở Thái Nguyên nới riêng và cả nƣớc nói chung còn chƣa cao, cơ cấu giống chè chƣa hợp lí, làm cho năng suất, chất lƣợng chè mới chỉ dừng lại ở mức trung bình. Mặt khác, diện tích các đồi chè già, chè cằn cỗi còn rất lớn, nên tìm đƣợc những giống mới có triển vọng thay thế vẫn còn là một vấn đề nan giải và cấp thiết. Để có cơ sở vững chắc cho việc phát triển chè ở Thái Nguyên trong tƣơng lai, đồng thời giải quyết đƣợc vấn đè hạn chế của sản xuất chè ở Thái Nguyên hiện nay: Cơ cấu giống chè nghèo nàn, chủ yếu là các giống chè Trung du trồng bằng hạt nên lẫn tạp và thoái hóa nhiều, năng suất và chất lƣợng thấp. Do đó, việc tiến hành nghiên cứu những đặc điểm sinh trƣởng của các giống chè mới có phù hợp với điều kiện tự nhiên khí hậu của tỉnh Thái Nguyên hay không là một vấn đề cần thiết, nó vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc hoạch định và phát triển cây chè.
Những năm gần đây, Chính phủ đã cho nhập nội một số giống chè từ Trung Quốc, Inđonesia, Nhật Bản… Viện nghiên cứu chè Việt Nam đã tiến n 4 hành khảo nghiệm trên các vùng sinh thái sinh thái khác nhau để tìm ra những giống chè tốt phục vụ cho ngành chè phát triển bền vững. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiến đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài Đánh giá đƣợc đặc điểm sinh trƣởng, phát triển của một số giống chè. Đánh giá đƣợc tình hình sâu hại chính trên các giống chè.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu. Có kết luận một cách chính xác về khả năng sinh trƣởng phát triển của một số giống chè.
Theo đó đề tài cũng xem nhƣ là một tài liệu tham khảo cho ngƣời trồng chè và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đánh giá, lựa chọn giống chè phù hợp điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất tại Thái Nguyên. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermac) lớp hai lá mầm (Dicotyledonae) bộ chè (Theales), họ chè (Thease), chi chè (Camellia), loài (Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O. Kuntze, đƣợc phân làm 4 thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919). Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var. Assamica) và chè Shan (Camellia Sinensis var.
Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái: Thân, cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lƣợng khác nhau, có yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau. Hiện nay chè đƣợc phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản. Chè đƣợc trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833, Xrilanca 1837 - 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dƣơng) năm 1940. Cơ sở thực tiễn Chè là cây lâu năm gồm 2 chu kì phát triển: Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm.
Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm đã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhƣng tỷ lệ đậu quả rất thấp, thƣờng chỉ đạt từ 2 - 4%. Hoa chè là hoa lƣỡng tính, mỗi hoa khi kết quả có từ 1 - 4 hạt. Mặc dù là hoa lƣỡng tính nhƣng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa, đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lƣợng.
Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ. n 6 Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì ngƣời ta có thể nhân giống chè bằng phƣơng pháp nhân giống vô tính nhƣ phƣơng pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành. Ƣu điểm của phƣơng pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ đƣợc những đặc tính tốt của cây mẹ, vƣờn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến. Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam, các giống chè thƣờng đƣợc nhân giống bằng phƣơng pháp giâm cành.
Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣng trong đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống, Thời vụ giâm cành (điều kiện môi trƣờng ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vƣờn ƣơm. Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài.