Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây chè (Camellia sinensis (L.) O. Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Do chu kỳ khai thác kinh tế của cây chè kéo dài từ 40 đến 50 năm với chi phí đầu tư ban đầu cao, cơ cấu giống chè đóng vai trò quyết định lâu dài đối với năng suất và chất lượng sản phẩm. Tỉnh Thái Nguyên là vùng sản xuất chè trọng điểm của cả nước với các chỉ dẫn địa lý và thương hiệu chè xanh truyền thống đã được bảo hộ. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất chè tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế: tỷ lệ diện tích các nương chè già cỗi, cằn cỗi còn lớn; cơ cấu giống nghèo nàn, chủ yếu vẫn là các giống chè Trung du gieo từ hạt qua nhiều năm dẫn đến hiện tượng thoái hóa giống, phân ly tính trạng mạnh, độ đồng đều thấp, năng suất và phẩm cấp búp chỉ dừng lại ở mức trung bình.
Trước yêu cầu ổn định diện tích và thay thế các nương chè cũ bằng các dòng chè nhân vô tính có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ chế biến chè xanh cao cấp, việc nhập nội và khảo nghiệm các giống chè mới nhằm xác định mức độ thích nghi sinh thái tại địa phương là nhiệm vụ cấp thiết.
Khóa luận xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè mới ở thời kỳ kiến thiết cơ bản.
- Đánh giá được tình hình sâu hại chính phát sinh trên các giống chè thí nghiệm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 05 giống chè, bao gồm giống đối chứng LDP1 và 04 giống chè mới nhập nội gồm Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích và Yabukita.
- Phạm vi không gian: Thí nghiệm đồng ruộng được triển khai tại Khu mô hình cây trồng thuộc Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành theo dõi trong năm 2014 (thu thập số liệu khí tượng và chỉ tiêu sinh trưởng từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014) trên nương chè đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên các luận cứ phân loại thực vật học và sinh lý sinh thái học cây chè. Cây chè thuộc chi Camellia, họ Theaceae, bộ Theales. Theo hệ thống phân loại của Cohen Stuart (1919), chè được chia thành 4 thứ: chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var. bohea), chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. macrophylla), chè Ấn Độ (Camellia sinensis var. assamica) và chè Shan (Camellia sinensis var. shan). Chu kỳ phát dục cá thể của cây chè gồm 5 giai đoạn: phôi thai, cây con (1 - 2 năm), cây non (2 - 3 năm), cây kinh doanh (30 - 40 năm) và già cỗi; chu kỳ phát triển hàng năm phân chia thành sinh trưởng sinh dưỡng (búp, cành, rễ) và sinh thực (hoa, quả, hạt). Nghiên cứu kế thừa các kết luận lý thuyết của Carr (1970, 1979, 1992) về ngưỡng nhiệt độ sinh trưởng (tối thiểu 13 - 14°C, tối thích 18 - 30°C, lượng mưa cần đạt tối thiểu 150 mm/tháng hoặc 1.800 mm/năm), quan điểm của Nguyễn Ngọc Kính (1979) về quy luật hình thành đợt sinh trưởng búp và tương quan năng suất với mật độ và khối lượng búp, cùng nghiên cứu của K.M. Djemukhatde (1948) khẳng định tương quan chặt giữa số lượng búp trên đơn vị diện tích với năng suất ($r = 0,965 \pm 0,004$). Cơ sở pháp lý và văn bản quy chuẩn bao gồm: Quyết định số 43/1979/QĐ-TTg của Chính phủ về nhập nội giống; quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây chè do Bộ Nông nghiệp ban hành năm 2011; Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 745:2006 về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống chè.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng:
- Bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp thí nghiệm cây công nghiệp dài ngày của Phạm Chí Thành (1986). Thí nghiệm thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Completely Block Design) gồm 5 công thức giống và 3 lần nhắc lại, tổng số 15 ô thí nghiệm. Diện tích mỗi ô là 18 m² ($3\text{ m} \times 6\text{ m}$), xung quanh có dải bảo vệ cách ly, bố trí trên dải đất có độ dốc đồng đều.
- Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Giống LDP1 (tổ hợp lai Đại Bạch Trà $\times$ PH1).
- Công thức 2 (CT2): Giống Kim Tuyên (nhập nội Đài Loan).
- Công thức 3 (CT3): Giống Phúc Vân Tiên (nhập nội Trung Quốc).
- Công thức 4 (CT4): Giống Keo Am Tích (nhập nội An Khê, Phúc Kiến, Trung Quốc).
- Công thức 5 (CT5): Giống Yabukita (nhập nội Nhật Bản - hệ vô tính).
- Phương pháp điều tra chỉ tiêu:
- Chiều cao cây: Đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng cao nhất (chu kỳ 10 ngày/lần).
- Đường kính gốc: Đo bằng thước kẹp panme hai chiều vuông góc tại vị trí cách cổ rễ 5 cm.
- Độ rộng tán: Đo 5 cây đại diện/ô theo hai hướng vuông góc bằng thước 60 cm (định kỳ 1 tháng/lần).
- Kích thước lá và diện tích lá: Đo chiều dài, chiều rộng lá và tính diện tích theo công thức $S = \text{Dài} \times \text{Rộng} \times 0,7$.
- Các yếu tố cấu thành năng suất: Thời gian sinh trưởng (ngày), số lứa hái, chiều dài búp (cm), khối lượng búp 1 tôm 2 lá (cân ngẫu nhiên 100 g búp để tính khối lượng trung bình/búp), mật độ búp (búp/m²), tỷ lệ búp mù xòe và búp có tôm (%).
- Sâu hại chính: Điều tra định kỳ 10 ngày/lần trên các đối tượng bọ cánh tơ (con/búp), nhện đỏ (con/lá) và rầy xanh theo phương pháp điều tra bảo vệ thực vật chuyên ngành.
- Nguồn dữ liệu và xử lý thống kê: Số liệu khí hậu năm 2014 thu thập từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Nguyên; số liệu thực nghiệm nông học được tính toán trung bình số học bằng phần mềm Microsoft Excel và phân tích phương sai sinh học qua phần mềm IRRISTAT 5.0, so sánh sai khác thông qua hệ số biến động ($CV%$) và sai biệt nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác suất 95% ($LSD_{05}$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả phân tích vị trí kinh tế của cây chè trong sản xuất nông nghiệp thế giới và Việt Nam, nhấn mạnh vai trò nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho khu vực trung du miền núi. Tác giả chỉ rõ yêu cầu chuyển đổi cơ cấu giống từ chè hạt sang chè vô tính thâm canh cao tại Thái Nguyên, đặt ra mục tiêu khảo nghiệm các giống nhập nội và xác lập ý nghĩa học thuật lẫn thực tiễn sản xuất của đề tài.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Tổng hợp tình hình nghiên cứu và sản xuất chè trên thế giới và tại Việt Nam:
- Trên thế giới: Thống kê sản xuất chè toàn cầu giai đoạn 2005 - 2013 dựa trên dữ liệu FAOSTAT. Đến năm 2013, diện tích chè thế giới đạt 352,122 vạn ha, năng suất 151,809 tạ/ha, sản lượng đạt 534,552 nghìn tấn. Trung Quốc dẫn đầu sản lượng năm 2012 với 1.714,90 nghìn tấn, tiếp theo là Ấn Độ; Việt Nam đứng vị trí thứ 6 về sản lượng trong nhóm 10 nước sản xuất chè hàng đầu thế giới.
- Tại Việt Nam: Diện tích chè cả nước tăng từ 97,70 nghìn ha (năm 2005) lên 121,64 nghìn ha (năm 2012, 2013); năng suất tăng từ 13,56 tấn/ha lên 17,61 tấn/ha (năm 2013); sản lượng búp tươi đạt 214,30 nghìn tấn năm 2013. Tác giả điểm lại lịch sử chọn tạo giống tại Trạm Phú Hộ từ năm 1918, các đợt công nhận giống quốc gia như PH1 (1986, 2 vạn ha), TRI777 (1997, 500 ha), LDP1 (2002, 1,5 vạn ha) và các giống khảo nghiệm như Kim Tuyên (1.000 ha), Bát Tiên (800 ha), Thúy Ngọc (400 ha), Keo Am Tích (10 ha), Phúc Vân Tiên (10 ha).
- Cơ sở sinh học: Tổng thuật các kết quả nghiên cứu về quy luật phát triển búp, nhiệt độ, ẩm độ và dinh dưỡng chi phối quá trình tích lũy vật chất khô của cây chè.
Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày lý lịch nông học của 5 giống chè thí nghiệm (LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Yabukita); mô tả sơ đồ khối thí nghiệm RCBD 15 ô; chuẩn hóa phương pháp đo đếm 14 chỉ tiêu hình thái học, cấu thành năng suất búp và phương pháp điều tra mật độ sâu hại theo Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 745:2006.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung này trình bày các số liệu quan trắc khí hậu và kết quả sinh trưởng, năng suất, sâu bệnh của các giống chè:
Diễn biến khí tượng thời tiết năm 2014:
Số liệu từ tháng 8 đến tháng 12/2014 tại Thái Nguyên cho thấy nhiệt độ trung bình dao động từ 16,5°C (tháng 12) đến 28,4°C (tháng 9); lượng mưa biến động không đều từ 12,2 mm (tháng 12) đến 329,5 mm (tháng 8); độ ẩm không khí đạt 70 - 85%; số giờ nắng dao động từ 93 giờ (tháng 11) đến 171 giờ (tháng 10). Lượng mưa thấp các tháng cuối năm đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp tưới ẩm và tủ gốc cho nương chè non.
Chỉ tiêu sinh trưởng thân cành:
Quá trình sinh trưởng thân lá qua 3 lần đo được thể hiện qua các thông số:
- Chiều cao cây: Giống LDP1 đạt cao nhất qua 3 lần đo (64,67 cm $\rightarrow$ 74,13 cm $\rightarrow$ 80,43 cm); Kim Tuyên (59,90 cm $\rightarrow$ 66,63 cm $\rightarrow$ 71,10 cm); Keo Am Tích (58,57 cm $\rightarrow$ 65,13 cm $\rightarrow$ 71,03 cm); Phúc Vân Tiên (56,93 cm $\rightarrow$ 63,63 cm $\rightarrow$ 68,90 cm); thấp nhất là Yabukita (55,10 cm $\rightarrow$ 62,10 cm $\rightarrow$ 67,73 cm).
- Đường kính gốc: LDP1 lớn nhất ở lần đo 3 đạt 1,31 cm; Keo Am Tích đạt 1,25 cm; Kim Tuyên đạt 1,14 cm; Phúc Vân Tiên đạt 1,11 cm; Yabukita nhỏ nhất đạt 1,08 cm.
- Độ rộng tán: Sau 3 lần đo, LDP1 mở tán lớn nhất (46,06 cm); Phúc Vân Tiên (45,43 cm); Yabukita (45,44 cm); Kim Tuyên (41,43 cm); Keo Am Tích tán hẹp nhất (40,53 cm).
- Độ cao phân cành và số cành cấp 1: Phúc Vân Tiên phân cành cao nhất (7,45 cm), tiếp đến là Kim Tuyên (7,13 cm), LDP1 (6,50 cm), Keo Am Tích (5,20 cm) và Yabukita phân cành thấp nhất (4,10 cm). Số cành cấp 1 cao nhất ở giống LDP1 (6,40 cành/cây) và Phúc Vân Tiên (6,13 cành/cây); Kim Tuyên đạt 5,47 cành/cây; Keo Am Tích đạt 4,47 cành/cây; Yabukita đạt 4,13 cành/cây.
Đặc điểm hình thái lá và búp chè:
| Tên giống |
Màu sắc lá |
Dạng lá |
Răng cưa |
Phiến lá |
Dài lá (cm) |
Rộng lá (cm) |
Diện tích lá (cm²) |
Số đôi gân chính |
Mức độ lông tuyết |
| LDP1 (đ/c) |
Xanh vàng |
Thuôn dài |
Thưa, sâu |
Phẳng |
8,4 |
4,8 |
28,22 |
5,4 |
Ít tuyết |
| Kim Tuyên |
Xanh vàng |
Thuôn dài |
Thưa, sâu |
Gồ ghề |
7,9 |
4,4 |
24,33 |
5,8 |
Ít tuyết |
| Phúc Vân Tiên |
Xanh đậm |
Bầu dục |
Thưa, nông |
Phẳng |
7,8 |
4,6 |
25,12 |
4,9 |
Ít tuyết |
| Keo Am Tích |
Xanh đậm |
Bầu dục |
Dày, nông |
Gồ ghề |
8,7 |
4,7 |
28,62 |
5,4 |
Nhiều tuyết |
| Yabukita |
Xanh đậm |
Bầu dục |
Dày, nông |
Phẳng |
6,2 |
3,9 |
16,93 |
4,6 |
Ít tuyết |
Chỉ tiêu cấu thành năng suất và phẩm cấp búp:
- Chu kỳ sinh trưởng và lứa hái: Các giống LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên có thời gian nảy búp ngắn (35 ngày/đợt sinh trưởng), đạt 4 lứa hái; hai giống Keo Am Tích và Yabukita có thời gian sinh trưởng dài hơn (40 ngày/đợt sinh trưởng), đạt 3 lứa hái.
- Kích thước, khối lượng và mật độ búp: LDP1 dẫn đầu về chiều dài búp (8,0 cm), khối lượng búp 1 tôm 2 lá (0,58 g/búp) và mật độ búp (205 búp/m²). Tiếp theo là Kim Tuyên (7,4 cm; 0,52 g/búp; 190 búp/m²); Phúc Vân Tiên (6,1 cm; 0,51 g/búp; 195 búp/m²); Keo Am Tích (5,7 cm; 0,50 g/búp; 180 búp/m²); Yabukita thấp nhất (5,6 cm; 0,49 g/búp; 175 búp/m²).
- Phẩm cấp búp chè tươi: Kim Tuyên đạt tổng số búp cao nhất (20,2 búp/cây/lứa), búp có tôm là 17,4 búp (86,1%), nhưng búp mù xòe cao nhất (2,8 búp, tương ứng 13,9%). Phúc Vân Tiên đạt tổng số 13,5 búp/cây/lứa, búp có tôm đạt 12,9 búp (tỷ lệ búp có tôm cao nhất: 95,6%), tỷ lệ búp mù xòe thấp nhất (0,6 búp, tương ứng 4,4%). Giống đối chứng LDP1 đạt 17,5 búp/cây/lứa với 90,9% búp có tôm (1,6 búp mù xòe, chiếm 9,1%). Keo Am Tích đạt 12,5 búp/cây/lứa (92,8% búp có tôm; 7,2% mù xòe). Yabukita đạt tổng búp thấp nhất với 9,4 búp/cây/lứa (91,5% búp có tôm; 8,5% mù xòe).
Diễn biến sâu hại chính:
- Bọ cánh tơ: Mật độ trung bình dao động từ 0,54 đến 0,67 con/búp. Mật độ cao nhất xuất hiện trên giống Keo Am Tích (trung bình 0,67 con/búp; đỉnh điểm đạt 0,87 con/búp ở lần đo 3); Yabukita đạt 0,60 con/búp; LDP1 và Kim Tuyên cùng đạt 0,55 con/búp; Phúc Vân Tiên có mật độ thấp nhất (0,54 con/búp).
- Nhện đỏ: Mật độ trung bình dao động từ 0,97 đến 1,27 con/lá. Giống Phúc Vân Tiên bị nhiễm nặng nhất (trung bình 1,27 con/lá; các lần đo 1, 3, 4 đều vượt 1,27 - 1,33 con/lá); Keo Am Tích và Yabukita cùng đạt trung bình 1,07 con/lá; LDP1 đạt 1,02 con/lá; giống Kim Tuyên có mật độ nhện đỏ thấp nhất (trung bình 0,97 con/lá).
- Rầy xanh: Tác giả ghi nhận triệu chứng chích hút nhựa bằng vòi kim chích tại búp và lá non dọc các đường gân, làm búp non cong queo, khô mép lá khi gặp nhiệt độ cao, kìm hãm sinh trưởng của nương chè thời kỳ kiến thiết cơ bản.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các phát hiện thực nghiệm định lượng cụ thể trên tập đoàn 5 giống chè thời kỳ kiến thiết cơ bản năm 2014 tại Thái Nguyên:
- Về sinh trưởng sinh dưỡng: Giống đối chứng LDP1 thể hiện ưu thế vượt trội về chiều cao cây (80,43 cm), đường kính gốc (1,31 cm), tán rộng (46,06 cm) và số cành cấp 1 (6,40 cành/cây). Trong nhóm giống mới, Phúc Vân Tiên có ưu thế phát triển khung tán tốt (tán rộng 45,43 cm, 6,13 cành cấp 1, phân cành cao 7,45 cm); Keo Am Tích có đường kính thân lớn (1,25 cm) và diện tích lá lớn nhất (28,62 cm²); Yabukita sinh trưởng chậm nhất (chiều cao 67,73 cm, gốc 1,08 cm, số cành cấp 1 đạt 4,13 cành/cây).
- Về năng suất búp và phẩm cấp: LDP1, Kim Tuyên và Phúc Vân Tiên có thời gian nảy búp nhanh (35 ngày/đợt), đạt 4 lứa hái trong kỳ theo dõi, trong khi Keo Am Tích và Yabukita cần 40 ngày/đợt và chỉ đạt 3 lứa hái. Giống Kim Tuyên có tổng số búp/cây/lứa cao nhất (20,2 búp) nhưng tỷ lệ búp mù xòe cao (13,9%). Giống Phúc Vân Tiên đạt phẩm cấp búp tươi tốt nhất với tỷ lệ búp có tôm đạt 95,6% (búp mù xòe chỉ 4,4%).
- Về phản ứng với sâu hại: Các giống có sự phân hóa rõ rệt đối với từng loài sâu hại; Keo Am Tích nhiễm bọ cánh tơ cao nhất (0,67 con/búp); Phúc Vân Tiên nhiễm nhện đỏ cao nhất (1,27 con/lá); Kim Tuyên có tính chống chịu nhện đỏ tốt nhất (0,97 con/lá).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Cần chú trọng các biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp đối với nương chè kiến thiết cơ bản: cày xới, làm cỏ, che phủ đất và tủ gốc giữ ẩm vào các tháng mùa khô (tháng 10 - 12 khi lượng mưa giảm sâu dưới 50 mm/tháng).
- Thiết kế hệ thống cây che bóng mát nhằm giảm bớt cường độ ánh sáng trực xạ trong những tháng có số giờ nắng cao (trên 170 giờ/tháng), giúp phiến lá chè mềm, duy trì độ ẩm và hạn chế hiện tượng khô lá.
- Định kỳ theo dõi diễn biến phát sinh của bọ cánh tơ và nhện đỏ để phun phòng trừ kịp thời, đặc biệt chú ý kiểm soát bọ cánh tơ trên giống Keo Am Tích và nhện đỏ trên giống Phúc Vân Tiên.
Đóng góp của khóa luận: Cung cấp hệ thống số liệu khảo nghiệm sinh học đồng ruộng thực tế đầu tiên về các chỉ tiêu hình thái, chu kỳ nảy búp và mức độ nhiễm sâu hại chính của 4 giống chè mới (Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Yabukita) so sánh với giống chuẩn LDP1 trong giai đoạn kiến thiết cơ bản tại mô hình Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tạo luận cứ cho công tác tuyển chọn giống chè xanh tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thời gian theo dõi thực nghiệm đồng ruộng ngắn, chỉ tập trung trong các tháng cuối năm 2014 (từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ khí hậu 12 tháng đầy đủ qua các mùa xuân và hè.
- Nghiên cứu mới dừng lại ở thời kỳ kiến thiết cơ bản (giai đoạn cây non định hình khung tán), chưa thể theo dõi và đánh giá năng suất búp thương phẩm ổn định, chỉ tiêu sản lượng thực tế cũng như phẩm cấp nguyên liệu khi bước vào thời kỳ kinh doanh (sau 3 - 4 năm trồng).
- Khóa luận chưa thực hiện các phân tích hóa sinh búp chè (hàm lượng tanin, cafein, chất hòa tan) và đánh giá cảm quan chất lượng nước chè thành phẩm sau chế biến; phạm vi khảo nghiệm mới bố trí tại một điểm sinh thái đơn nhất tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi quá trình sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi của 5 giống chè khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh ổn định.
- Đánh giá năng suất búp tươi, năng suất chè búp khô, chỉ tiêu sinh hóa búp và tiến hành chế biến thử nghiệm chè xanh để kiểm định chất lượng thử nếm cảm quan (màu nước, hương thơm, vị đượm) của các giống mới tại Thái Nguyên.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Nông học, Trồng trọt, Khoa học cây trồng và Khuyến nông tham khảo về phương pháp thiết kế khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) đối với cây công nghiệp dài ngày, cùng quy trình điều tra các chỉ tiêu hình thái, năng suất và sâu bệnh hại theo Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 745:2006.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp tại các trung tâm khuyến nông, phòng nông nghiệp vùng Trung du và miền núi phía Bắc tham khảo các đặc tính sinh trưởng, chu kỳ nảy búp và độ mẫn cảm sâu hại của các giống chè Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Yabukita so với LDP1 để tư vấn cơ cấu giống chè xanh.
- Các trang trại và hộ gia đình sản xuất chè tại Thái Nguyên có cơ sở số liệu thực tiễn để lựa chọn giống phù hợp với điều kiện đầu tư, thâm canh và áp dụng biện pháp phòng trừ bọ cánh tơ, nhện đỏ thích hợp trong giai đoạn kiến thiết cơ bản.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong số các giống khảo nghiệm, giống chè nào đạt phẩm cấp búp tươi cao nhất về tỷ lệ búp có tôm và ít bị mù xòe nhất?
Giống Phúc Vân Tiên có phẩm cấp búp tươi cao nhất trong thí nghiệm, với tỷ lệ búp có tôm đạt 95,6% (12,9 búp có tôm/cây/lứa) và tỷ lệ búp mù xòe thấp nhất là 4,4% (0,6 búp mù xòe/cây/lứa).
2. Giống chè đối chứng LDP1 có nguồn gốc từ đâu và thể hiện ưu thế sinh trưởng thân cành như thế nào?
Giống LDP1 được chọn lọc bằng phương pháp chọn dòng từ tổ hợp lai giữa cây mẹ Đại Bạch Trà (Trung Quốc) và cây bố PH1 (Ấn Độ). Trong thí nghiệm, LDP1 thể hiện ưu thế vượt trội nhất với chiều cao cây đạt 80,43 cm, đường kính gốc đạt 1,31 cm, độ rộng tán đạt 46,06 cm và số cành cấp 1 trung bình đạt 6,40 cành/cây.
3. Chu kỳ sinh trưởng nảy búp và số lứa hái của các giống chè thí nghiệm có sự phân hóa ra sao?
Các giống được chia thành hai nhóm sinh trưởng rõ rệt: nhóm có thời gian nảy búp ngắn (35 ngày/đợt sinh trưởng) và số lứa hái cao (4 lứa) gồm LDP1, Kim Tuyên và Phúc Vân Tiên; nhóm có thời gian sinh trưởng dài hơn (40 ngày/đợt) và số lứa hái thấp hơn (3 lứa) gồm Keo Am Tích và Yabukita.
4. Mật độ bọ cánh tơ và nhện đỏ phát sinh cao nhất và thấp nhất trên những giống chè nào?
Mật độ bọ cánh tơ phát sinh cao nhất trên giống Keo Am Tích (trung bình 0,67 con/búp, đỉnh điểm 0,87 con/búp) và thấp nhất trên giống Phúc Vân Tiên (trung bình 0,54 con/búp). Ngược lại, mật độ nhện đỏ gây hại cao nhất trên giống Phúc Vân Tiên (trung bình 1,27 con/lá) và thấp nhất trên giống Kim Tuyên (trung bình 0,97 con/lá).
5. Giống chè nào có kích thước diện tích lá lớn nhất và đặc điểm mức độ lông tuyết ra sao?
Giống Keo Am Tích có diện tích lá lớn nhất đạt 28,62 cm² (dài 8,7 cm; rộng 4,7 cm) với phiến lá gồ ghề và có nhiều lông tuyết trên búp và lá non. Bốn giống còn lại (LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Yabukita) đều thuộc nhóm có ít lông tuyết.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Sẻn Thu Thảo đã hoàn thành việc khảo nghiệm, so sánh các đặc điểm nông sinh học và tình hình sâu hại của 4 giống chè mới nhập nội (Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Yabukita) với giống đối chứng LDP1 thời kỳ kiến thiết cơ bản năm 2014 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả cho thấy giống đối chứng LDP1 vẫn giữ ưu thế hàng đầu về tốc độ sinh trưởng thân cành, khối lượng và mật độ búp; trong khi giống mới Phúc Vân Tiên thể hiện triển vọng cao về tỷ lệ búp có tôm (95,6%), ít bị mù xòe và phát triển khung tán tốt; giống Kim Tuyên có mật độ búp/cây cao nhưng tỷ lệ mù xòe còn lớn; hai giống Keo Am Tích và Yabukita có chu kỳ nảy búp dài hơn và chịu áp lực gây hại nhất định từ bọ cánh tơ. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng hỗ trợ định hướng tuyển chọn giống chè vô tính và hoàn thiện quy trình chăm sóc, bảo vệ thực vật nương chè non tại Thái Nguyên.