MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài.Kuntze) là cây công nghiệp ngày và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đã từ lâu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội cây chè trở thành cây góp phần xóa đói giảm nghèo,chiếm vị thế lớn trong cơ cấu cây trồng vùng trung du miền núi phía Bắc. Đồng thời chè còn là một loại thức uống có giá trị dinh dưỡng bồi bổ sức khỏe.
Trong chè có một số loại axit amin và vitamin C, B, PP, K, E,… rất cần thiết cho cơ thể. Thực trạng canh tác chè ở Việt Nam hiện nay cho thấy, người dân sử dụng lượng phân bón lớn và thuốc trừ sâu hóa học trong thời gian dài trên quy mô lớn, đặc biệt là phương pháp bón tăng đạm (urê) hoặc vãi đạm trực tiếp lên lá chè để rút ngắn thời gian thu hái, đã làm cây chè bị suy thoái rất nhanh, giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, làm tăng nguy cơ có dư lượng nitrat cao trong sản phẩm và chất lượng chè ngày càng giảm sút. Việc sử dụng phân bón là một trong những biện pháp làm tăng sản lượng và chất lượng búp chè. Tác dụng của phân bón không những tăng cao được sản lượng nguyên liệu chè mà còn nâng cao được chấ t lư ợng của nó.
Nếu bón phân không cân đối nếu bón đơn độc nitơ mà thiếu kali và phospho sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè. Ngoài các loại phân đa lượng, thì phân vi lượng cũng có ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng búp chè, chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt tính của men. Trong đó Mg là nguyên tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nguyên liệu chè vì nó tham gia vào quá trình hình thành diệp lục tố. Bên cạnh đó, đất đai vùng trồng chè cũng bị thoái hóa, chai cứng, hệ vi sinh vật hữu ích trong đất giảm, môi trường bị ô nhiễm.
c 2 Để có thể chiếm lĩnh được lợi thế trong cạnh tranh, đứng vững trên thị trường, đòi hỏi cần tạo ra những sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt và phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy đối với ngành chè thì xu hướng tất yếu là phải đi theo hướng sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ. Phải giảm việc sử dụng phân hóa học, tăng cường bón phân hữu cơ và hữu cơ sinh học. Tuy đã nhận thức được vai trò của phân hữu cơ trong việc nâng cao năng suất chè, cải thiện độ phì nhiêu của đất song ở Việt Nam cho đến nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế.
Xuất phát từ vấn đề đó tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đ ề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng MgSO 4, đậu tương đến sinh trưởng phát triển chè trung du búp tím tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” 1. Mục đích nghiên cƣ́u của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của MgSO4, đâ ̣u tương đến sinh trưởng, phát triển cây chè Trung du búp tim ́. Yêu cầ u của đề tài - Đánh giá đặc điểm hình thái cây chè. - Đánh giá tình hình sâu bệnh hại.
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho chè, tác động của dinh dưỡng tới sinh trưởng, phát triển của chè. - Làm cơ sở bước đầu xây dựng quy trình bón phân cân đối, bón bổ sung MgSO4, đậu tương cho giống chè Trung Du búp tím trong điều kiện tỉnh Thái Nguyên.
c 3 - Đề tài sẽ là cơ sở khoa học đánh giá ảnh hưởng của MgSO4, đâ ̣u tương tới chè Trung du búp tím, góp phần hoàn thiện quy trình bón phân cho giống chè này. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4, đậu tương đến sinh trưởng phát triển của giống chè Trung Du búp tím. Từ đó đưa ra các mức bón hợp lý và khuyến cáo sử dụng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng chè cho vùng chè Thái Nguyên. c 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài. Magiê có vai trò rất quan trọng trong đời sống thực vật: - Magiê là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, có vai trò quan trọng trong quang hợp, là hoạt chất của hệ enzyme gắn liền với sự chuyển hóa hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic. - Magiê có vai trò thúc đẩy hấp thu và vận chuyển lân của cây. Giúp đường vận chuyển dễ dàng trong cây.
- Trong cây, Mg thường chiếm từ 0,10 – 0,30% MgO so với chất khô. Trong tro thực vật thường chứa ít nhất là 10% MgO, và có thể lên đến 30 – 40%. Vì vậy ở những vùng chè co tập quán sử dụng nhiều tàn dư hữu cơ, đặc biệt là bón kết hợp các phụ phẩm nông nghiệp thường không bị thiếu Mg. Trong diệp lục tố có 4% MgO, giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự hình thành gluxit.
Triệu trứng thiếu hụt magiê thường có biểu hiện sau: - Úa vàng ở phần thịt giữa các gân lá, chủ yếu là do lá già do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, gây nên vết sẹc hoặc vết không liên tục. - Lá nhỏ, giòn ở thời kỳ cuối và mép lá con lên. - Nhanh yếu và dễ bị nấm bệnh tấn công và thường bị rụng lá sớm. Với cây chè, có nhiệm kinh tế dài Mg cũng có vai trò hết sức quan trọng.
Mg ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng phát triển và năng suất ,chất lượng chè. Đối với nhiều quá trình sinh hóa do men điều khiển, Mg cũng đóng vai trò quan trọng. Việc hình thành ra protein trong trường hợp thiếu Mg sẽ bị hạn chế và ngược lại, những hợp chất đạm không protit tăng lên. Sự hình thành các sắc tố của lá trong điều kiện thiếu Mg cũng bị ảnh hưởng.
c 5 Chè là cây trồng ưa đất chua, trong đất chua sự thiếu hụt Mg càng lớn. Để bổ sung sự thiếu hụt Mg vào đất, người ta thường bón MgO dưới dạng đôlômit chứa từ 20 -30% MgO, hoặc bón phối hợp MgO với các lần bón phân khoáng trong năm. Trong một số trường hợp có thể kết hợp bón đa phân đa lượng qua lá để bón bổ sung Mg. Đất trồng chè vùng Thái Nguyên thuộc loại đất đỏ nâu, vàng nhạt và đất phát triển trên phiến thạch sét, là vùng đất thiếu hụt Mg do quá trình Feralit và môi trường chua.
Đất ở đây đã được sử dụng để trồng chè nhiều năm. Đất có độ dốc, xảy ra hiện tượng rửa trôi, làm cho hàm lượng trong đất càng giảm vì vậy để làm tăng khả năng sinh trưởng, phát triển cũng như nâng cao năng suất, chất lượng chè nguyên liệu cần bón bổ sung Mg cho đất trồng chè. Từ thực tế trên tôi tiến hành đề tài bón bổ sung Mg cho đất trồng chè vùng Thái Nguyên dưới dạng MgSO4. Mỗi một loại cây trồng, một giống khác nhau có yêu cầu về phân bón khác nhau.
Khi xây dựng quy trình bón phân cho chè căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu, đặc điểm sinh lý của cây và khả năng cho năng suất của nương chè. Cây chè có khả năng hút chất dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát dục cá thể của cây. Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp cây chè tạm ngừng sinh trưởng xong vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định, vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho cây chè vẫn tiến hành thường xuyên trong năm. Phạm Văn Toản (2005) “Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm phân bón đa chủng, chức năng ứng dụng cho cây trồng quy mô công nghiệp”[10] Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rộng, nó có thể sống ở nơi đất màu mỡ cũng có thể sống ở đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng nhưng vẫn cho năng suất nhất định.
Tuy nhiên muốn nương chè cho năng suất cao, phẩm chất tốt, nhiệm kỳ kinh tế kéo dài cần bón phân đầy đủ cho chè. c 6 Trong búp chè non của cây chè có 4,5% N, 1,5% P2O5 và 1,2 – 2,5% K2O (Eden 1958) mà hàng năm chúng ta hái đi 5 – 15 tấn búp tươi/ha và đốn đi một lượng thân lá đáng kể. Như vậy hàng năm qua hái và đốn ta đã lấy đi từ chè một lượng lớn N, P, K và các chất khoáng khác, hơn nữa hàng năm một lượng dinh dưỡng đáng kể trong đất bị rửa trôi, xói mòn (theo Daraseha thì lượng N bị rửa trôi thường bằng 1/3 lượng N bón vào đất). Do vậy cần bón bổ sung lượng dinh dưỡng đã lấy đi từ cây chè và lượng dinh dưỡng bị rửa trôi để cây chè sinh trưởng phát triển tốt.
Chè cần nhiều đạm nhất sau đó đến lân và kali , Theo IFA World fertilizer use manual 1992 th́ì dinh dưỡng tạo ra 100 kg chè thương phẩm như bảng sau: Dinh dƣỡng Dinh dƣỡng Đạm (N) 19,6 kg Natri (Na) 74 g Lân (P2O5) 5,68 kg Sắt (Fe) 241 g Kali (K2O) 8,8 kg Mangan (Mn) 479 g Magiê (MgO) 2,92 kg Kẽm (Zn) 38 g Canxi (CaO) 6,70 kg Đồng (Cu) 38 g Nhôm (Al) 871 g Bo (Bo) 26 g Trong quá trình chăm sóc thì bón phân là một việc không thể thiếu cho bất kỳ loại cây trồng nào. Mỗi giống chè sẽ thích hợp với mỗi loại phân bón và liều lượng khác nhau trên cơ sở đó chúng ta cần xây dựng một chế độ bón phân hợp lý sẽ giúp cho chè sinh trưởng, phát triển tốt đạt năng suất cao, ổn định và chất lượng tốt. Đặc biệt cần quan tâm đến phân bón hữu cơ vi sinh trong sản xuất chè bền vững. Tình hình nghiên cứu về phân bón cho chè trên thế giới và Việt Nam 2.
Nhu cầu dinh duỡng của cây chè 2. Phân bón hữu cơ cho chè Ðối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng: N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất. Tuy nhiên việc sử dụng phân bón hữu cơ cho chè ít được quan tâm vì đồi chè thường xa nhà, lại có độ dốc đáng kể do vậy việc vận chuyển phân bón lên đồi chè là một công việc khó khăn, nông dân, công nhân ngại làm vì tốn công và nguồn phân hữu co còn hạn chế.