Đặt vấn đề Cây khoai lang (Ipomoea batatas) là một loài cây có củ, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt. Khoai lang đƣợc sử dụng trong vai trò cả rau và lƣơng thực, củ đƣợc sử dụng làm lƣơng thực cho ngƣời, thân non đƣợc sử dụng nhƣ một loại rau. Cây khoai lang đƣợc đánh giá là một cây trồng tiềm năng cho thế kỷ 21, bởi Khoai lang là cây lƣơng thực dễ trồng, đầu tƣ thấp nhƣng có tiềm năng năng suất cao, mặt khác khoai lang là cây trồng có nhiều điểm ƣu việt nhƣ nhân giống và trồng bằng dây, rất ít bị sâu, bệnh, chi phí đầu tƣ trên đơn vị diện tích trồng khoai lang thấp thích hợp với nhiều hộ nông dân nghèo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay. Giá trị sử dụng của cây khoai lang rất cao: thân lá có thể làm rau xanh, củ dùng để ăn tƣơi, thái lát phơi khô chế biến tinh bột làm thức ăn cho ngƣời hoặc cho gia súc.
Những năm gần đây, các nghiên cứu về cây khoai lang ở nƣớc ta đã chỉ ra rằng năng suất khoai lang phụ thuộc phần lớn vào giống và chế độ dinh dƣỡng. Tuy nhiên các loại phân khoáng vô cơ thƣờng để lại nhiều tồn dƣ mà cây trồ ng không thể hấ p thu hế t đƣơ ̣c dẫn đế n tić h lũy các chấ t vô cơ gây ha ̣i tới môi trƣờng, vâ ̣y nên cầ n giảm thiể u lƣơ ̣ng phân vô cơ để đảm bảo ha ̣n chế tố i đa lƣơ ̣ng chấ t tồ n dƣ gây ha ̣i tới môi trƣờng. Do lƣơ ̣ng phân khoáng vô cơ giảm nên cần bù đắp dinh dƣỡng cho cây thông qua loại phân khác , đó là phân hƣ̃u cơ. Phân hƣ̃u cơ là loại phân đƣợc sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ theo quy trình lên men có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác.
Loại phân này đƣợc chế biến từ các nguyên liệu hữu cơ khác nhau (than bùn, mùn rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp.) phơi khô, nghiền nhỏ, ủ lên men với vi sinh vật có tuyển chọn. Chất hữu cơ góp phần cải thiện đặc tính vật lý, hoá học cũng nhƣ sinh học cho đất n 2 và cung cấp nhiều dƣỡng chất quan trọng cho cây trồng nói chung và khoai lang nói riêng. Vì vậy, ngoài việc áp dụng kĩ thuật bón phân khoáng NPK cho khoai lang cần sử dụng phân hữu cơ vi sinh bón cho khoai lang nhằm tăng hiệu quả kinh tế cho cây khoai lang đồng thời giảm thiểu tối đa mức độ ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng. Xuấ t phát tƣ̀ nhƣ̃ng lý do trên , chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh NTT đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống khoai lang Phú Lương đỏ trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” 1.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục đích của đề tài Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân hữu cơ vi sinh NTT đến khả năng sinh trƣởng, phát triển và năng suất của giống khoai lang Phú Lƣơng đỏ trong vụ xuân năm 2015 tại Trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. Yêu cầu Theo dõi một số giai đoạn sinh trƣởng phát triển các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và khả năng chống chịu của khoai lang ở các liều lƣợng phân bón hữu cơ vi sinh khác nhau.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu giảng dạy về khoai lang ỏ nƣớc ta 1.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở tác động lên các biện pháp kĩ thuật nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất tốt cho khoai lang trong vụ Xuân của Thái Nguyên và các tỉnh Trung du miền núi phía bắc từ đó khuyến cáo cho nông dân sản xuất nhằm đạt đƣợc năng suất và hiệu quả cao nhất. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa ho ̣c của đề tài Việt Nam là nƣớc có nền nông nghiệp từ lâu đời, trong đó cây lƣơng thực là loại cây chiếm vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và sự phát triển kinh tế của ngƣời dân, sản phẩm của chúng đƣợc dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, làm sản phẩm xuất khẩu và thúc đẩy các ngành phát triển khác. Từ dó mà cây lƣơng thực ngày nay càng đƣợc các doanh nghiệp và cá nhân chú trọng vào phát triển. Tuy nhiên còn nhiều khó khăn mà nông dân gặp phải hiện nay là còn chƣa nắm bắt các biện pháp canh tác, dinh dƣỡng cho cây trồng hợp lí. Khoai lang là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, ƣa ẩm, cho hiệu quả kinh tế cao do có thể tạo năng suất củ và năng suất sinh khối trong thời gian ngắn, để tăng hiệu quả kinh tế khi sản xuất khoai lang thì nên áp dụng chế độ dinh dƣỡng với biện pháp canh tác hợp lí và chọn giống tốt.
Nghiên cứu biện pháp kĩ thuật canh tác chủ yếu bao gồm việc xác đinh ̣ thời vụ, kết hợp mật độ trồng, tƣới nƣớc với phòng trừ sâu bệnh và bón phân. Trong đó có kỹ thuâ ̣t sƣ̉ du ̣ng liề u lƣơ ̣ng phân hƣ̃u cơ vi sinh hơ ̣p lý bón cho khoai lang là viê ̣c làm vƣ̀a có ý nghiã lý luận và thƣ̣c tiễn. Nguồn gốc, phân loại và lịch sử phát triển 2. Nguồn gốc, phân loại 2.1 Nguồn gốc Khoai lang có nguồn gốc nguyên thủy từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ.
Hầu hết các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy Châu Mỹ là khởi nguyên của cây Khoai lang (Trung hoặc Nam Mỹ). n 4 Theo Engel (1970) từ những mẫu Khoai lang khô thu đƣợc tại hang động Chilca Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ 8000 đến 10. Một bằng chứng nữa của các nhà khảo cổ học về cây Khoai lang đã đƣợc phát hiện tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2000 năm trƣớc công nguyên (Ugent và Poroski 1983). Bằng chứng về ngôn ngữ học cho thấy sự xuất hiện của cây Khoai lang tại vùng Mayan của Trung Mỹ khoảng giữa 2600 đến 1000 năm trƣớc công nguyên (Austin, 1977).
Vì vậy Khoai lang đƣợc coi là nguồn lƣơng thực quan trọng của ngƣời Mayan ở Trung Mỹ và ngƣời Péruvian ở vùng núi Andet (Nam Mỹ). Theo quan điểm của OBrien (1972) và ý kiến của Yen (1982) trung tâm chính xác khởi nguyên của Khoai lang là Trung hoặc Nam Mỹ. Nhƣng cây Khoai lang thực sự lan rộng ở Châu Mỹ khi ngƣời Châu Âu đầu tiên đặt chân tới, Nguyễn Viết Hƣng và CS (2010) [7] 2.2 Phân loại Khoai lang (Ipomoea (L) Lam) là cây hai lá mầm, thuộc chi Ipomoea, họ Bìm bìm Convolvulaceae,. Trong số hơn 1000 loài thuộc họ Convolvulaceae thì loài Ipomoea batatas đƣợc trồng và sử dụng làm lƣơng thực và thực phẩm trên khắp thế giới, Võ Văn Chi và CS (1998) [11] Các giống khoai lang trồng phổ biến hiện nay là thuộc loài Ipomoea batatas, thuộc thể lục bội có bộ nhiễm sắc thể 2n = 6X = 90, với bộ nhiễm sắc thể cơ bản là X = 15, Mai Thạch Hoành (2004) [4] 2.2 Lịch sử phát triển Vào năm 1492 trong chuyến vƣợt biển đầu tiên Christopher Columbus đã tìm ra Tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra Khoai lang đƣợc trồng ở n 5 Hispaniola và CuBa.
Từ đó Khoai lang mới thực sự lan rộng ở Châu Mỹ và sau đó đƣợc di thực đi khắp thế giới, Nguyễn Viết Hƣng và CS (2010) [7] Đầu tiên Khoai lang đƣợc đƣa về Tây Ban Nha, tiếp đó lan tới một số nƣớc Châu Âu và đƣợc gọi là batatas (hoặc padada) sau đó là spanish Potato (hoặc Sweet potato). Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đã du nhập cây Khoai lang vào Châu Phi (có thể bắt đầu từ Môdămbic hoặc Ănggôla), theo hai con đƣờng từ Châu Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau đó lan sang Ấn Độ, Nguyễn Viết Hƣng và CS (2010) [7] Ngƣời Anh đã đƣa Khoai lang đến Nhật Bản vào năm 1615 nhƣng đã không phát triển đƣợc. Đến năm 1674 cây Khoai lang đã đƣợc tái nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc, Nguyễn Viết Hƣng và CS (2010) [7] Những ngƣời Tây Ban Nha đã du nhập cây Khoai lang vào các quần đảo Nam Thái Bình Dƣơng qua chuyến đi vòng quanh thế giới của Magenlăng 1521; Những ngƣời thám hiểm đầu tiên đã đặt chân lên đảo Tân Tây Lan, Ha- oai và những đảo về phía Tây có những vị trí rất tách biệt và từ đó trở thành cây lƣơng thực cực kỳ quan trọng (Dixơn 1932). Cũng có giả thuyết cho rằng cây Khoai lang đã đƣợc đƣa đến Nam Thái Bình Dƣơng trƣớc khi Magenlăng đặt chân đến; mặc dù giả thuyết này hiện nay vẫn còn bị nghi ngờ, Nguyễn Viết Hƣng và CS (2010) [7] Cây Khoai lang đƣợc trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 40 độ Bắc đến 32 độ Nam và lên đến độ cao 3000m so với mặt nƣớc biển (Woolfe J.
Tuy nhiên cây Khoai lang vẫn đƣợc trồng nhiều ở các nƣớc nhiệt đới, á nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Ngoài ra cũng có thể trồng đƣợc ở những nơi có nhiệt độ cao thuộc vùng ôn đới. n 6 Ở Việt Nam, theo cuốn “Truyền thuyết Hùng Vƣơng” của Nguyễn Khắc Xƣơng (1979), cây Khoai lang đã đƣợc nhắc đến nhƣ là một cây trồng có từ rất lâu đời ở nƣớc ta. Trong “Thảo mộc trang” có đoạn viết: “Cam thự (Khoai lang) là loài củ thuộc loài thử dự, rễ và lá nhƣ rễ khoai, củ to bằng nắm tay, to nữa bằng cái bình, da tía, thịt trắng, ngƣời ta luộc ăn.
Ngƣời vùng biển đào đất trồng khoai đến mùa Thu đẫy củ, rỡ về thái nhỏ nhƣ gạo, tích trữ lƣơng ăn, sống lâu trăm tuổi (Bùi Huy Đáp 1984; Viện Hán nôm 1995). Sách “Biên niên lịch sử Cổ Trung đại Việt Nam” (Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1987) đã có ghi : “Năm 1558 (năm Mậu Ngọ), Khoai lang từ Philippin đƣợc đƣa vào Việt Nam, trồng đầu tiên ở An Trƣờng - Thủ đô tạm thời của đời Lê Trung Hƣng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá”. Nhƣ vậy khoai lang đã có mặt ở Việt Nam cách đây khoảng gần 450 năm, Mai Thạch Hoành (2004) [4] Khoai lang đƣợc du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ 18, hiện nay ỏ Việt Nam có nhiều giống khoai khác nhau nhƣ: + Giống khoai lang bí, củ dài, vỏ đỏ, ruột vàng tƣơi. + Giống khoai lang nghệ, củ dài, vỏ đỏ, ruột vàng.