MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm. Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, ngành chè thế giới có bƣớc phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nƣớc Châu Á và Châu Phi. Sản phẩm từ cây chè đang đƣợc sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dƣới nhiều công dụng khác nhau nhƣng phổ biến nhất vẫn là đồ uống. Phân bón có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sinh trƣởng, phát triển, năng suất, chất lƣợng cây trồng nói chung và cây chè nói riêng.
Bón phân hợp lý có thể đẩy mạnh sự sinh trƣởng của cây chè, tăng năng suất và cải thiện chất lƣợng nguyên liệu chè. Để sản xuất ra các sản phẩm chè mang tính bền vững. Một bộ phận không nhỏ ngƣời sản xuất còn hạn chế, nhất là đối với ngƣời dân sản xuất chè ở các vùng miền núi còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, sự hiểu biết và sử dụng của nông dân về phân bón lại rất khác nhau, phân bón ảnh hƣởng lớn đến sự sinh trƣởng và phát triển của cây chè nhƣng nông dân thƣờng hay bón phân theo hình thức tự phát không cân đối giữa đạm, lân, kali. Đất trồng chè đại bộ phận là đất dốc, độ pH thấp 4 - 5; tầng đất canh tác mỏng 50-70 cm, độ dày > 80 cm là rất hiếm.
Mùa mƣa đất đai bị rửa trôi, xói mòn, mùa khô cây chè gặp hạn trầm trọng, đó là nguyên nhân chính làm giảm sự sinh trƣởng và phát triển của cây chè. Vấn đề bón phân cân đối cho cây chè là hết sức cần thiết. n 2 Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển giố ng chè Trung du búp tím thời kì KTCB tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Nhằm xác định đƣợc tổ hợp phân bón phù hợp nhất cho cây chè Trung du búp tím ở thời kì KTCB sinh trƣởng và phát triển, giới thiệu cho sản xuất.
Mục tiêu của đề tài Đánh giá đƣơ ̣c ảnh hƣởng của các tổ hơ ̣p phân bón đế n đă ̣c điể m hình thái, chỉ tiêu sinh trƣởng , tƣ̀ đó xác điṇ h đƣơ ̣c tổ hơ ̣p phân bón tố t nhấ t cho cây chè Trung du búp tím thời kỳ KTCB tại trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Nghiên cứu ảnh hƣởng của các tổ hợp phân bón đến sinh trƣởng phát triển của chè Trung du búp tím ở thời kì KTCB. Từ đó đƣa ra tổ hợp phân bón hợp lý nhằm tăng khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây chè Trung du búp tím thời kỳ KTCB, giới thiệu cho sản xuất ở vùng chè Thái Nguyên. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học Bón phân cho chè là biện pháp kĩ thuật quan trọng không thể thiếu với chè kiến thiết cơ bản. Bón phân nhằm thúc đẩy sự sinh trƣởng, phát triển của cây chè, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành bộ khung tán chè, kích thích bộ rễ cây chè phát triển, tăng khả năng đề kháng của chè đối với các điều kiện bên ngoài không thuận lợi. Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dƣỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng nhƣ cả đời sống của nó, về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trƣởng, nhƣng vẫn yêu cầu lƣợng dinh dƣỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dƣỡng cho cây cần đầy đủ và thƣờng xuyên trong năm. Quá trình sinh trƣởng sinh dƣỡng và sinh trƣởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất.
Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để thúc đẩy quá trình sinh trƣởng sinh dƣỡng và sinh trƣởng sinh thực của chè. Cây chè có những đặc điểm dinh dƣỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu về dinh dƣỡng khoáng của cây chè rất lớn. Cơ sở thực tiễn Có thể ví phân bón là “thức ăn”của cây trồng. Việc bón phân thích hợp sẽ góp phần tăng năng suất, chất lƣợng sản phẩm và hiệu quả kinh tế, ít hoặc không tác động xấu đến kết cấu đất canh tác và môi trƣờng.
Ý nghĩa của vấn đề này càng quan trọng hơn khi nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn đang cạn kiệt, sản xuất trong điều kiện cạnh tranh thị trƣờng ngày càng gay gắt buộc chúng ta phải tiết kiệm, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. n 4 Phân bón có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sinh trƣởng, phát triển, năng suất, chất lƣợng cây trồng nói chung và cây chè nói riêng. Bón phân hợp lý có thể đẩy mạnh sự sinh trƣởng của cây chè, tăng năng suất và cải thiện chất lƣợng nguyên liệu chè. Sự phân bố cây chè Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu.
Các kết quả nghiên cứu đều đƣa đến một kết luận chung là: Vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới thích hợp cho cây chè. Ngày nay, do trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống chè khác nhau và đƣợc trồng rộng rãi ở nhiều nƣớc khác nhau trên thế giới. Sự phân bố của cây chè theo điều kiện khí hậu đất đai và địa hình cũng có sự khác nhau. Đất trồng chè tốt phải nhiều mùn, thoát nƣớc tốt và có độ dốc thoải.
Ảnh hƣởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với những giống chè khác nhau, chất lƣợng khác nhau. Các nhà khoa học cho rằng: chè trồng ở những vùng có độ cao lớn hơn so với mặt nƣớc biển thƣờng có chất lƣợng tốt hơn so với chè trồng ở vùng thấp. Về điều kiện khí hậu, chè sinh trƣởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 15- 20ºC, tổng nhiệt độ hàng năm khoảng 8.000ºC, lƣợng mƣa trung bình hàng năm 1500 – 2000 mm, độ ẩm đất 70 - 80%. Tuy nhiên với khả năng thích nghi rộng cùng với sự tiến bộ của khoa hoc kĩ thuật hiện nay chè đƣợc trồng ở những vùng khắc nghiệt hơn.
Theo đó hiện nay cây chè của Việt Nam đƣợc phân bố theo 7 vùng nhƣ sau: Vùng chè Tây Bắc: n 5 Chè trồng tập trung ở Sơn La, Lai Châu, ngoài ra còn có các vùng chè rừng ở Chồ Lồng, Tô Múa, Phù Yên của đồng bào dân tộc thiểu số (Dao, Mông). Vùng chè Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn: Chè đồi công nghiệp nhƣ Công ty chè Sông Lô, Tân Trào, Việt Lâm, Yên Bái.Chè rừng dân tộc Dao trồng ở ven suối, dƣới tán cây lớn, đất dốc thoải. Vùng chè Trung du Bắc Bộ: Chè đƣợc trồng ở Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình.Đây là vùng chè lớn ở miền Bắc, có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh chè lâu đời, có Viện nghiên cứu chè Việt Nam ở Phú Hộ. Vùng chè Bắc Trung Bộ: Đây là vùng chè tƣơi lâu đời ở Việt Nam (chè Gay – Nghệ An, chè Bạng – Thanh Hóa) Vùng chè Tây Nguyên: Vùng chè Lâm Đồng tập trung nhiều ở Bảo Lộc - Một thành phố chè Việt Nam và huyện bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng.
Vùng chè cánh cung Đông Bắc: Có chè rừng cổ thụ Mẫu Sơn ở Lạng Sơn, sản phẩm trà xanh là chủ yếu. Vùng chè duyên hải miền Trung: Diện tích chè phân bố rời rạc ở các tỉnh, nhiều nhất là Quảng Nam, ít nhất là Quảng Trị, sản xuất tự túc là chủ yếu. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên Thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới *Tình hình sản xuất Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm).
Ngày nay chè là thứ nƣớc uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dƣỡng, thƣởng n 6 thức chè ở nhiều nƣớc đã đƣợc nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo. Đỗ Ngọc Quỹ, quốc gia đầu tiên trên Thế Giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó đƣợc truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau Công Nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 thì tiến tới các nƣớc Châu Phi nhƣ: Kenia, Malavi, Ghine,. [2] Trên Thế Giới cây chè đƣợc phát triển với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 18 trở lại đây.
Đến năm 2000, đã có hơn 100 nƣớc trồng và xuất khẩu chè. Sản lƣợng chè Thế Giới năm 2000 đạt hơn 2,8 triệu tấn. Ấn Độ và Trung Quốc là hai nƣớc trồng chè lớn nhất (chiếm hơn nửa tổng sản lƣợng) và cũng là hai nƣớc tiêu thụ chè lớn nhất Thế Giới. Chè đƣợc xuất khẩu trên Thế Giới dƣới hai dạng chính là chè đen và chè xanh, trong đó, chè đen chiếm phần lớn lƣợng chè xuất khẩu (84%).
Shrilanka và Kenya là hai nƣớc xuất khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 27,88% và 20,63% thị phần xuất khẩu. Các nƣớc Liên Xô cũ là thị trƣờng nhập khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 22%, tiếp theo là Anh (13%), Parkistan (11%) và Mỹ (8%). Không nhƣ chè đen, chè xanh đƣợc sản xuất ít hơn (chiếm 25% tổng sản lƣợng) và chủ yếu đƣợc tiêu thụ nội địa. Trung Quốc, Nhật Bản là các nƣớc sản xuất và tiêu thụ chính.
Các nƣớc xuất khẩu chè xanh lớn nhất gồm có Trung Quốc (83,4%), Việt Nam (10,16%) và Inđônêsia (4,28%). Chè xanh đƣợc xuất khẩu nhiều nhất sang Morocco (18,7%). Theo FAO (2015) thì tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên Thế Giới tính đến năm 2013 nhƣ sau: * Về diện tích: n 7 Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nƣớc trồng chè chính năm 2009 – 2013 (Đơn vị: ha) Năm Tên nƣớc 2009 2010 2011 2012 2013 Trung Quốc 1.221 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2015)[19] Qua số liệu bảng trên cho thấy: Tính đến năm 2013 diện tích chè trên thế giới đạt 3.572 ha tƣơng đƣơng 13,36% so với năm 2009. Trong đó Trung Quốc là nƣớc có diện tích trồng chè lớn nhất thế giới với diện tích 1.