LỜI MỞ ĐẦU Nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân loại ngày càng tăng. Sự gia tăng dân số và việc nâng cao mức sống đòi hỏi ngành sản xuất lương thực thực phẩm phải phát triển không ngừng. Trước đây phương thức canh tác được chú trọng là sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học nhằm tăng sản lượng cho cây trồng. Nhưng qua một thời gian dài, dư lượng của thuốc trừ sâu và phân bón hóa học đã làm đất đai ngày càng bị thoái hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe, đời sống của con người, vật nuôi và gây mất cân bằng sinh thái.
Trước tình hình đó, các nhà khoa học đã không ngừng tìm kiếm các hình thức hữu hiệu để khắc phục những hạn chế trên. Dùng biện pháp sinh học để phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là một hướng có nhiều triển vọng. Đầu tiên người ta chỉ chú ý đến vai trò của những côn trùng có lợi cho đấu tranh sinh học (còn gọi là thiên địch) như bọ rùa, bọ xit, ong ký sinh,. Sau một thời gian người ta đã phát hiện vai trò tích cực của vi sinh vật.
Hướng dùng vi sinh vật để phòng trừ sâu hại bảo vệ cây trồng ngày một phát triển. Các chế phẩm có nguồn gốc vi sinh vật như phân vi sinh vật cố định đạm (Nitrazin, Azotobacterin), phân vi sinh vật phân giải lân (Phosphobacterin). Đặc biệt là chế phẩm EM (Effective Micro-organisms) ngày càng được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước và mang lại nhiều hiệu quả rõ rệt cho cây trồng: các mầm bệnh trong đất bị tiêu diệt, thúc đẩy khả năng nảy mầm, ra hoa, kết trái đồng thời tăng năng suất và chất lượng của cây trồng. Để góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc ứng dụng chế phẩm EM tại Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và tìm hiểu ứng dụng của một số ching nấm mốc được phân lập từ chế phẩm EM với dé tài: “Nghién cứu đặc điểm sinh lý, sinh hóa của các chủng nấm mốc được phân lập từ chế phẩm EM có khả năng sinh kháng sinh kháng nấm gây bệnh ở cây trong” PHAN 1:TONG QUAN TÀI LIEU 1.
MỘT SỐ KHÁI NIEM VỀ NAM MOC: Nấm mốc (mold) là tên chung để chỉ các loại nấm hiển vi có cấu tạo sợi. Chúng gồm tất cả các loại nấm không phải nấm men và cũng không sinh mũ nấm như các loại nấm lớn. Tuy nhiên ở các giai đoạn chưa sinh mũ nấm thì khuẩn ty thể của nấm lớn vẫn được xem là nấm mốc. Trong tự nhiên nấm mốc phân bố rất rộng rãi và tham gia tích cực vào các vòng tuần hoàn vật chất nhất là quá trình phân giải chất hữu cơ và hình thành chất mùn.
Trong thực tế, nấm mốc thường gặp ở dạng các mốc mọc trên thực phẩm, trên quần áo, giầy dép, sách vở. Chúng phát triển nhanh trên nhiều nguồn cơ chất hữu cơ khi gặp khí hậu nóng ẩm. Trên nhiều vật liệu vô cơ do dính bụi như các thấu kính ở ống nhòm, máy ảnh, kính hiển vi. nấm mốc vẫn có thể phát triển, sinh axít và làm mờ các vật liệu này.
Nhiều loại nấm mốc có giá trị lớn trong công nghiệp, được dùng nhiều trong việc sản xuất các loại axít hữu cơ, men, chất kháng sinh, vitamin. Trái lại nhiều loại nấm cũng gây thiệt hại trong bảo quản thực phẩm và các hàng công nghiệp khác. Nhiều loại nấm mốc kí sinh trên người, động vật, thực vật gây ra các bệnh nấm khá nguy hiểm. Nhiều loại nấm sinh ra các độc tố có thể gây bệnh ung thư và nhiều bệnh tật khác.1 Đặc điểm hình thái: Nấm mốc có cấu tạo sợi, phân nhánh hoặc không phân nhánh, có vách ngăn hoặc không có vách ngăn ngang.
Đường kính của các sợi từ 3 - 5 pm nhưng cũng có thể đến 10 um. Trong quá trình sinh trưởng, các sợi nấm vừa phát triển theo chiéu dài vừa phân nhánh, riêng đối với các sợi nấm có ngăn vách thì còn phát triển thêm các vách ngăn ngang. Các nhánh lại có thể tiếp tục phân nhánh liên tiếp. Toàn bộ sợi nấm và các nhánh phát triển từ một bào tử nấm được gọi là hệ sợi nấm.
Hệ sợi nấm thường phát triển thành một khối có hình dạng nhất định thường có tiết điện hình tròn hoặc gần tròn gọi là khuẩn lạc. Các sợi nấm chỉ có sự tăng trưởng ở ngọn. Một số sợi nấm sinh trưởng bằng cách đâm sâu vào cơ chất và hút các chất dinh dưỡng ở trong đó gọi là khuẩn ty cơ chất. Ngược lại một phan hệ sợi nấm phát triển trên bể mặt của cơ chất gọi là khuẩn ty khí sinh.
Ở nhiều loài, các sợi của hệ sợi nấm nằm bên ngoài cơ chất là cơ quan sinh sản. [2,348-349] Ludn văn tot nghiệp OVE 1, 4 044171 411, SE Coe Mỗi tế bào trong một sợi nấm (ngăn vách hoặc không ngăn vách) không có giới hạn, không có cấu tạo riêng và cũng không có các hoạt động trao đổi chất độc lập trong phạm vi tế bào. Mặc dù mỗi đoạn trên một sợi nấm có sự phân hóa khác nhau, nhưng sự phân hóa này không liên quan đến đạng cấu tạo tế bào đặc trưng của sợi nấm. Các thành phần cấu tạo của tế bào, nhân tế bào ở nấm về cơ bản không khác ở các sinh vật có nhân thực.
Hầu hết các loài nấm đều không có celluloza,ngoại trừ một số nấm roi thuộc lớp phụ nấm noãn (Oomycetidae) và một số nấm roi khác thuộc lớp phụ Hyphochytridiomycetidae có thành tế bào được cấu tạo bởi celluloza-glucan. Thành phần gluxit của thành tế bào ở các nhóm phân loại chiếm hầu hết ở các loài nấm này là kitin, kitozan va glucan, chất dự trữ gluxit ở tế bào nấm không phải là tinh bột mà là glycogen — chất dự trữ thường có ở động vat. Nấm mốc không có chất diệp lục nên không có khả năng tổng hợp các chất hữu cơ từ khí cacbonic mà sử dụng trực tiếp chất hữu cơ có sẵn để sinh sống, sống dị dưỡng. Nấm mốc sống hoại sinh hoặc kí sinh, một số nhỏ cộng sinh với tảo trong địa y.
Nấm mốc chỉ mọc tốt trong môi trường có nhiều không khí, thường phát triển trên bể mặt của cơ chất dưới dạng những lớp lún phún hình sợi, lớp màng nhện hay khối sợi bông. Nấm sinh sản chủ yếu bằng bào tử. Từ bào tử mọc ra sợi nấm và sau đó là hệ sợi nấm. Mặc dù vậy bất cứ một đoạn sợi nấm hoặc một mảnh nào của hệ sợi nấm đều có thé dùng để sinh sản được.
Các mảnh này khi rơi trên môi trường dinh dưỡng thì phát triển và tạo thành một hệ sợi nấm mới. Trong phòng thí nghiệm thường dùng phương pháp này để nhân giống. [3,349] L2 Đặc đi ị inh hóa: Nấm mốc thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí nghĩa là không thể phát triển được khi không có oxy. Nấm mốc thường phát triển tốt trong môi trường trung tính (pH=7), một số nấm mốc thích nghỉ với môi trường axit (pH<7) hoặc môi trường hơi ngã về kiểm.
Tuy nhiên nấm mốc không chịu được môi trường quá axit hay quá kiểm. Nấm mốc phát triển tốt trong điểu kiện ẩm ướt, độ ẩm không khí cao. Chẳng hạn như ở 20°C bột mì có độ ẩm 14.5% chứa khoảng 1200 bào tử nấm mốc trong | gam, nhưng nếu độ ẩm tăng lên là 18% thì có tới khoảng Luận văn tốt nghiệp OVINE cham ong nun Cn 8280 bào tử nấm mốc trong | gam. Mỗi loài nấm mốc có một độ ẩm tương ứng thích hợp nhất cho việc phát trién.[5] Mỗi loại nấm mốc phát triển thích hợp ở những nguồn cơ chất khác nhau.
Hầu hết các nấm mốc phát triển thích hợp ở nhiệt độ từ 20°C đến 30°C. Bình thường các hợp chất cao phân tử như tinh bột, cellulose, protein,. rất khó phân giải nhưng nấm mốc có khả năng sinh ra các enzime như amylaza, celluloza, proteaza,. có hoạt tính phân giải khá cao để phân giải các hợp chất cao phân tử này.
Các enzime từ nấm mốc được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như trong công nghiệp thực phẩm: sản xuất rượu, bia, bánh mì, nước tương, nước chấm, trong công nghiệp thịt, sữa, trong bảo quản thực phẩm, trong nông nghiệp. Ngoài ra enzime còn được sử dụng trong y học: sản xuất một số thuốc làm tăng khả năng tiêu hóa, chữa bệnh tim mạch, trong giải phẫu để làm thuốc chống viêm và làm sạch các vết thương. 10, 154-168] Giới thiệu một số enzime được sản xuất từ nấm mốc : - Amylaza là enzime thủy phân tinh bột, được sử dụng nhiều nhất trong lĩnh vực đường hóa thực phẩm. Thủy phân tinh bột bằng amylaza trước tiên cho những polymer mạch ngắn gọi là dextrins sau đó thành maltoza và cuối cùng là glucoza [8,173].
Các giống nấm mốc được dùng sản xuất amylaza như: Asp. batatae, Rhizopus delemer, Rh. japonicum và nhiều loài Mucor. Ngày nay người ta dùng các tác nhân hóa học và vật lý làm đột biến nấm mốc Aspergillus và thu được nhiều chủng mới có hoạt lực sinh amylaza cao (Asp.
Trong công nghiệp sản xuất enzime amylaza người ta thường dùng các chủng nguyên thủy hoặc đột biến của các giống Asp. (10,116-1 17] - Proteaza là enzime công nghiệp quan trong thứ hai sau amylaza. Được sử dụng nhiều nhất trong công nghiệp bột giặt, trong công nghiệp sữa, các lĩnh vực khác như công nghiệp dược, công nghiệp thuộc da, công nghiệp thực phẩm, xử lý chất thải. Trên thị trường có các loại proteaza kiểm, proteaza trung tính và proteaza acid [8,185].
Các giống nấm mốc được dùng để sản xuất proteaza gồm có: e Nhóm mốc vàng (Asp. chrysogenum) sinh proteaza có vùng pH từ 3.7 đến 10 nhưng thích hợp nhất ở pH = 6. “uận văn tốt nghiệp OVER: PHỤTH ony nun ons se Nhóm mốc den (Asp. javanicus) chủ yếu tạo thành proteaza có vùng pH từ 2.
Các giống nấm mốc được dùng để sản xuất cellulaza gồm có: Asp. oryzae, Fusarium oxysporum, Fusarium solani, Pen. Những nấm mốc có khả năng sinh nhiều cellulaza thuộc các giống Alternaria, Tricoderma, Aspergillus, Penicillium,. Chúng được tach từ đất quanh vùng rễ cây, từ các mẫu thực vật, từ than bùn và các nguồn tự nhiên khác có quá trình phân hủy cellulose.
Trong giống Alternaria tenius có khoảng 150 chủng có thể phân hủy giấy lọc đến 80%. [10,121] - Pectinaza được sản xuất từ các giống nấm mốc như: Pen. citrinum, Sclerotinia libertiana,. Một số chủng đột biến của các loài Asp.
niger được chú ý nhiều trong sản xuất pectinaza.| 10,1 19-120] Ngoài ra, nấm mốc còn có khả năng sinh ra các chất có hoạt tính sinh học khác như chất kháng sinh hoặc độc tố có tác dụng tiêu diệt mầm bệnh. a N NH C : Sự phát triển của vi sinh vật trong tự nhiên liên quan mật thiết đến chất dinh dưỡng trong môi trường và mối liên hệ giữa chúng.