Đặt vấn đề Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa. Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến dạng hình thân, lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi. Mầu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang sọc vằn… Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường. Hoa lan có loại cánh tṛn, có loại cánh dài nhọn hoắt,có loại cụp vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong.
Hoa lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng gần một tấn. Hương lan đủ loại: thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả. Tại Thái lan có một loại lan được giấu tên và được bảo vệ rất nghiêm ngặt, hương thơm dành riêng để cung cấp cho một hãng sản xuất nước hoa danh tiếng. Hoa lan nếu được nuôi giữ ở nhiệt độ và ẩm độ thích hợp có thể giữ được nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến hai tháng, có những giống lâu đến 4 tháng, có những giống nở hoa liên tiếp quanh năm.
- Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Do có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích, các loài lan rừng đã bị khai thác kiệt quệ. c 2 Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài lan (Orchidaceae spp) tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Tìm hiểu tri thức bản địa của người dân về các loài lan - Xác định phân bố của các loài lan tại khu vực nghiên cứu và tìm hiểu về đặc tính sinh học, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp để bảo tồn và phát triển các loài lan 1.
Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài lan trong khu vực nghiên cứu. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài lan nói riêng.
- Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.
Về cơ sở bảo tồn Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, trong đó có rất nhiều loài lan. Sách đỏ Việt Nam, phần II thực vật (2007) [1] Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [10]: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Đã đưa vào phụ lục danh lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao. Đặc biệt có nhiều loài lan thuộc nhóm IA và IIA có nhiều loài lan rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng trên khắp lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới * Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất c 4 lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH. Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu.
Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983). Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài. Giữa bảo tồn nguồn gen với bảo vệ thiên nhiên tuy có quan hệ mật thiết với nhau, song lại có sự phân biệt quan trọng.
Bảo tồn thiên nhiên là nhằm bảo vệ các diện tích đại diện cho các sinh cảnh và các quần xã, những đối tượng có thể phân định được. Còn bảo tồn nguồn gen thì đi xa hơn, nó quan tâm đến những khác biệt di truyền, những cái chỉ có thể đoán định chứ không thể phân biệt được. Theo Frankel (1977) [18] thì các nhân tố chính làm căn cứ cho chiến lược bảo tồn là mục tiêu bảo tồn, bản chất vật liệu và phạm vi bảo tồn. Việc bảo tồn nguồn gen không phải sẽ được thực hiện cho tất cả các loài cây hiện có ở một địa phương nào đó mà là tùy theo vai trò của chúng trong nền kinh tế quốc dân, và các giá trị thẩm mỹ, tiến hóa luận.
Theo tiêu chuẩn do Tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources - IUCN) thì việc xác định các loài ưu tiên bảo tồn còn cần phải theo mức độ bị đe dọa của chúng. Những loài được ưu tiên bảo tồn chính là những loài có nguy cơ tuyệt chủng lớn nhất. c 5 * Tổng quan về các loài lan Hoa là nguồn tài nguyên, là vẻ đẹp tôn quý của thiên nhiên ban tặng cho con người, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội nghề trồng hoa và thú chơi hoa cảnh trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức những loại hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn. Trong các loài hoa, ho lan đang là nhu cầu của nhiều thị trường trong nước và ngoài nước.
- Đặc điểm thực vật Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae). Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan. Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1.
Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa lan mọc dưới đất. Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Hoại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục.
Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng. Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư. Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg lan Thạch hộc tía. c 6 - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới.
Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ. Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa.
Theo Helmut Bechtel (1982) [17], hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng. Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực: + Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus… + Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis.