Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học và Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Hại Trên Cây Quế Tại Huyện Trấn Yên, Yên Bái

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ một số loài, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Tác giả

Đinh Trung Hà

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

76
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học Cây Quế Tại Yên Bái

Cây quế (Cinnamomum cassia) là một trong những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Yên Bái. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cây quế không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn bảo vệ môi trường sinh thái. Việc tìm hiểu về đặc điểm sinh thái của cây quế sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho việc phát triển bền vững loại cây này.

1.1. Đặc Điểm Sinh Học Của Cây Quế

Cây quế có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu ẩm ướt. Đặc điểm sinh học của cây quế bao gồm khả năng phát triển nhanh, chịu được nhiều loại đất và có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.

1.2. Tình Hình Trồng Quế Tại Yên Bái

Yên Bái là một trong những tỉnh có diện tích trồng quế lớn nhất Việt Nam. Diện tích trồng quế tại đây đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, nhờ vào sự quan tâm của chính quyền và người dân.

II. Vấn Đề Sâu Hại Trên Cây Quế Tại Huyện Trấn Yên

Sâu hại trên cây quế là một trong những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Các loài sâu hại như sâu róm và sâu đục thân đã gây thiệt hại lớn cho người trồng quế. Việc xác định và nghiên cứu tình hình sâu hại là rất cần thiết để có biện pháp phòng trừ hiệu quả.

2.1. Các Loài Sâu Hại Chính Trên Cây Quế

Các loài sâu hại chính trên cây quế bao gồm sâu róm Euproctis fraterna và sâu Orthaga vitialis. Những loài này gây hại chủ yếu ở giai đoạn sâu non, làm giảm năng suất cây trồng.

2.2. Tình Hình Sâu Hại Tại Huyện Trấn Yên

Tại huyện Trấn Yên, tình hình sâu hại diễn biến phức tạp, với nhiều diện tích cây quế bị ảnh hưởng. Việc theo dõi và đánh giá tình hình sâu hại là cần thiết để có biện pháp can thiệp kịp thời.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học Cây Quế

Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây quế cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Việc thu thập dữ liệu từ thực địa và phân tích mẫu sẽ giúp xác định rõ hơn về đặc điểm sinh thái của cây quế. Các phương pháp này bao gồm điều tra thực địa, phân tích mẫu và thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.

3.1. Phương Pháp Điều Tra Thực Địa

Điều tra thực địa giúp thu thập thông tin về tình hình sinh trưởng và phát triển của cây quế. Các yếu tố như độ ẩm, pH đất và ánh sáng sẽ được ghi nhận để đánh giá ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.

3.2. Phân Tích Mẫu Trong Phòng Thí Nghiệm

Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm sẽ giúp xác định các yếu tố sinh học và hóa học ảnh hưởng đến cây quế. Các chỉ tiêu như hàm lượng dinh dưỡng và sự hiện diện của sâu bệnh sẽ được kiểm tra.

IV. Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Hại Trên Cây Quế

Để phòng trừ sâu hại hiệu quả trên cây quế, cần áp dụng các biện pháp tổng hợp. Việc sử dụng biện pháp sinh học, hóa học và canh tác hợp lý sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do sâu hại gây ra. Các biện pháp này cần được thực hiện đồng bộ và liên tục.

4.1. Biện Pháp Sinh Học

Sử dụng thiên địch như ong ký sinh và các loài côn trùng có lợi để kiểm soát sâu hại. Việc này không chỉ hiệu quả mà còn bảo vệ môi trường.

4.2. Biện Pháp Hóa Học

Sử dụng thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên hoặc hóa học để kiểm soát sâu hại. Cần chú ý đến liều lượng và thời điểm phun để đảm bảo hiệu quả cao nhất.

V. Kết Quả Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây quế sẽ được ứng dụng vào thực tiễn. Việc áp dụng các biện pháp này sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm quế tại Yên Bái. Các kết quả này cũng sẽ góp phần vào việc phát triển bền vững ngành trồng quế.

5.1. Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng biện pháp sinh học có hiệu quả cao trong việc kiểm soát sâu hại. Các loài thiên địch đã được xác định và ứng dụng thành công.

5.2. Ứng Dụng Vào Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao cho nông dân và các tổ chức liên quan để áp dụng vào thực tiễn. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.

VI. Kết Luận và Tương Lai Của Nghiên Cứu Cây Quế

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây quế là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ mở ra hướng đi mới cho việc phát triển bền vững cây quế tại Yên Bái. Tương lai của ngành trồng quế phụ thuộc vào việc áp dụng các biện pháp khoa học và công nghệ hiện đại.

6.1. Kết Luận

Nghiên cứu đã cung cấp thông tin quan trọng về đặc điểm sinh học và tình hình sâu hại trên cây quế. Các biện pháp phòng trừ đã được đề xuất và chứng minh hiệu quả.

6.2. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Tương lai của nghiên cứu cây quế sẽ tiếp tục được mở rộng với các công nghệ mới. Việc này sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm quế, đồng thời bảo vệ môi trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây quế tại huyện trấn yên tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Quế (Cinnamomum cassia) là loại đặc sản rừng có giá trị kinh tế cao được gây trồng chủ yếu tại tỉnh Yên Bái, là một trong những cây chiếm vị trí hàng đầu trong các loại lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu, cho thu nhập tốt và rất ổn định với người dân trồng Quế. Ngoài ra, cây Quế dễ gây trồng, sinh trưởng và phát triển tốt. So với nhiều cây trồng khác, cây Quế đã mang lại cho người dân một nguồn thu lớn và ổn định. Vùng Quế Văn Yên từ vài chục năm nay đã nổi tiếng trên thế giới, tháng 01 năm 2010 Cục Sở hữu trí tuệ đã có quyết định chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Quế Văn Yên.

Trước đây, cây Quế chỉ bán được vỏ. Hiện nay, thân, cành, lá đều bán được với giá cao. Vỏ Quế loại 1 đang được các cơ sở chế biến thu mua với giá từ 22.000 đ/kg và các sản phẩm phụ như quế chi, quế vụn cũng bán được 13.000 đ/kg c n lá quế bán cho các cơ sở chế biến tinh dầu với giá từ 1. Thân quế sau khi bóc vỏ có đường kính từ 15 cm trở lên bán cho các cơ sở chế biến gỗ làm bao bì với giá từ 1,5-1,8 triệu/m3 (http://sctyenbai.

Với giá trị kinh tế khá cao, nên những năm gần đây việc gây trồng Quế luôn được sự quan tâm của các cấp chính quyền và người dân, diện tích rừng trồng Quế luôn tăng lên qua các năm. Theo kết quả kiểm kê rừng, tính đến hết năm 2015 diện tích Quế tại tỉnh là 50.436,9 ha, được trồng chủ yếu tại huyện Văn Yên, Trấn Yên, Lục Yên và một số huyện khác. Theo Quyết định số 1481/QĐ-U ND ký ngày 22 tháng 7 năm 2016 về việc phê duyệt đề án phát triển cây Quế của tỉnh Yên ái giai đoạn 2016 đến 2020, trồng mới 19.500 ha và duy trì ổn định diện tích rừng trồng Quế toàn tỉnh là 76. Theo Công văn số 1082/SNN-BVTV ngày 01/12/2016 của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Yên Bái chỉ rõ: sâu hại Quế là loài sâu hại lần đầu tiên 2 xuất hiện và gây hại mạnh, tổng diện tích cây Quế của tỉnh bị sâu hại lên đến 262 ha, trong đó có 163 ha bị hại nhẹ, 83 ha bị hại trung bình và 16 ha bị hại nặng; Chúng gây hại chủ yếu ở huyện Trấn Yên và Văn Yên.

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh, loài sâu hại Quế có diễn biến phức tạp, phát triển nhanh trên địa bàn các huyện như Trấn Yên, Văn Yên và đang lây lan ra huyện khác, việc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn vì chưa xác định được tên loài, chưa nghiên cứu đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh phát triển và các biện pháp phòng trừ hợp lý. Để phòng trừ hiệu quả loài sâu hại Quế, trước tiên cần nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp phòng trừ. Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây Quế tại huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái” là rất cần thiết và góp phần quan trọng trong quản lý bảo vệ rừng trồng Quế trên địa bàn tỉnh Yên Bái. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên thế giới 1. Nghiên cứu về thành phần loài sâu hại Quế Tại Ấn Độ Ayyar (1940) [17], Mani (1973) [29], Singh và đồng tác giả (1978) [39], Butani (1983) [19], Anandaraj và đồng tác giả (2001) [15], đã ghi nhận có 5 loài sâu hại lá, 1loài Pauropsylla depressagây u bướu lá,1 loài sâu róm Euproctis fraterna ăn lá, loài sâu Orthaga vitialis ăn lá có thể làm chết chồi cây Quế; cảnh báo xâm nhập của loài Conopomorpha civica và loài Phyllocnistis chrysophthalma đục lá Quế. Ngoài ra, tại Ấn Độ còn xác định có 2 loài sâu hại chính trên cây Quế là loài sâu ăn lá Chilasa clytia và loài sâu đục lá Conopomorpha civica (Devashayam et al. Theo tác giả Rajapakse và Kulasekera (1982) [32], xác định thành phần loài sâu hại Quế ở Sri Lanka gồm có sâu ăn lá Attacus atlas và Agroploce aprobola; rệp sáp Ceroplastes rubens, bọ xít chích hút chồi cây Coptosoma pygmaeum, ve sầu sừng Leptocentrus obliquus, bọ cánh cứng Leucopholis pinguis; các loài sâu này gây hại lá Quế làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.

Một số loài sâu gây hại chính như: loài sâu hại lá Chilasa clytia, loài Graphium sarpedon, loài Orthaga vitialis, loài Dasychira mendosa và loài Acrocercops spp. Tại Indonesia một số loài sâu hại lá Quế như Chilasa clytia, Aerocercops spp., Sorolopba arebimadias và Gryllotalpa spp., làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây (Dao et al. Loài sâu Cricula trifenestrata ăn lá hại một số loài cây thuộc họ Lauraceae, cụ thể loài Cinnamomum glanduliferum, C. glaucescens ở Đông Bắc Ấn Độ, loài C.

zeylanicum ở Sri Lanka và vùng Đông ắc Á; loài Litsea 4 cubeba ở Ấn Độ và loài bơ Persea bombycina ở Ấn Độ, Nepal và vùng Đông Nam (Amalendu et al. Cũng theo tác giả Orwa và đồng tác giả (2009) [31] cây bơ bị các loài sâu hại chính như: Epimecis detexta, Protopulvinaria pyriformis, Chrysomphalus dictyospermi, Oligonychus yothersi, Acysta perseae, Selenothrips rubrocinctus và loài mọt hại thân cành Ambrosia beetles, Xylosandrus spp., chúng làm ảnh hưởng đến năng suất quả cây bơ. Các nhà khoa học trên thế giới đã ghi nhận được hơn 70 loài sâu, bệnh hại Quế, đặc biệt là ở Ấn độ và Sri Lanka. Tuy nhiên, thông tin về sâu, bệnh hại trên 3 loài Quế là Cinnamomum cassia, C.

tamata vẫn còn hạn chế; nhưng đã xác định được một số loài như: Chilasa clytia, Conopomorpha civica, Orthaga vitalis và Popillia complanata (Anandaraj and Devasahayam, 2004) [16]. Ở Sri Lanka sâu, bệnh hại Quế làm ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng tinh dầu Quế, nếu rừng Quế bị sâu, bệnh hại năng suất có thể giảm 20%, với các loài sâu bệnh phổ biến là sâu ăn lá, bệnh đốm lá, hoặc muội lá. Do đó trong quá trình trồng Quế cần quan tâm để phòng trừ sâu, bệnh hại rừng Quế (Anandaraj and Devasahayam, 2004) [16]. Ở Sri Lanka có một số loài sâu thuộc bộ cánh cứng gây dịch hại lá và chồi cây Quế gồm có loài Cryptocephalus snillus, loài Cryptocephalus virgula và loài Podagrica badia (Rajapakse and Kulasekera, 1982) [32] và lần đầu tiên phát hiện có loài sâu Synanthedon sp.

Ở Sri Lanka xuất hiện một số loài sâu đục thân, cành hại Quế, cụ thể loài sâu Synanthedon spp. (Lepidoptera: Sesiidae) và loài vòi voi Alcides sp. 5 Đối với loài Alcides morio hại quả Quế tại Ấn Độ, sâu non của loài này ăn hạt và đào đường hầm bên trong hạt, điều này gây thiệt hại kinh tế đáng kể vì cây Quế được nhân giống thông qua hạt (Rajapakse et al. Từ các kết quả nghiên cứu về thành phần loài sâu hại lá, hại thân, hại cành ngọn Quế ở các nước trên thế giới cho thấy các loài sâu hại Quê ở các bộ, các họ khác nhau là khá phong phú, tuy nhiên loài sâu hại chính tập trung chủ yếu thuộc bộ cánh vảy, cánh nửa cứng và cánh cứng.

Các kết quả về thành phần loài sâu hại lá này là cơ sở khoa học quan trọng để định hướng cho công tác điều tra nghiên cứu. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái sâu hại Quế Theo tác giả Singh và đồng tác giả (1978) [39], loài sâu Orthaga vitialis gây hại trên lá và chồi cây Quế tại Ấn Độ, sâu non loài này hoạt động rất mạnh, sống và gây hại ở chồi cây làm chồi biến dạng dẫn đến chồi mọc thành cụm. Trong mỗi cụm chồi có thể có một vài sâu non, chúng sống tập chung và ăn toàn bộ bề mặt lá, thời kỳ sâu non từ 28 đến 30 ngày. Giai đoạn nhộng thường nằm ở trong các cụm chồi, thời gian từ 11 đến 14 ngày.

Đối với loài sâu róm Euproctis fraterna ăn lá Quế chỉ ăn phần diệp lục. Sau đó sâu non lớn dần và ăn toàn bộ lá làm rụng lá. Giai đoạn sâu non loài này kéo dài trong 13-29 ngày và thời gian nhộng kéo dài từ 9 đến 20 ngày (Singh et al. Theo tác giả Dharmadasa và Jayasinghe (2000) [24], loài sâu Synanthedon sp.

(Lepidoptera: Sesiidae) hại thân, cành Quế, làm cho các cành chết. Sâu non ở tuổi cuối dài khoảng 2,5cm; đầu màu nâu sẫm và thân màu trắng đậm. Sâu non thường ăn phần gỗ để sống và có xu hướng ăn theo chiều ngang. Trưởng thành có cánh trước hẹp dài và đôi cánh sau rộng hơn.

Sau khi giao phối, đẻ trứng vào các vết nứt hoặc vết thương trên vỏ cây và trứng nở trong khoảng từ 1 đến 4 tuần. 6 Loài sâu Chilasa clytia hại lá Quế, trưởng thành có kích thước lớn; ở Sri Lanka, trưởng thành đực và cái có màu sắc khác nhau. Đẻ trứng đơn lẻ ở cả mặt trên và dưới của lá non. Trứng có hình cầu, màu sáp đến màu cam vàng.

Sâu non màu đen hoặc xanh đen, ăn cả lá non và lá bánh tẻ. Trong trường hợp gây hại nặng chúng ăn toàn bộ lá và chỉ còn lại gân lá. Sâu non có 5 tuổi, kéo dài từ 11 đến 17 ngày. Sâu non tuổi lớn có màu vàng nhạt với sọc đen ở hai bên và có chiều dài khoảng 2,5 cm.

Nhộng có hình trụ được bọc trong kén trông giống một cành củi gãy. Đối với loài sâu ăn lá Graphium sarpedon cũng là một loài sâu hại Quế phổ biến. Trưởng thành có màu đen với các hoa văn màu xanh đặc trưng. Trứng được đẻ ở mặt dưới của lá, hình tròn và có màu vàng nhạt và trứng kéo dài từ 5 đến 6 ngày.

Giai đoạn sâu non có 5 tuổi kéo dài từ 29 đến 31 ngày (Vanderet al. Theo tác giả Anandaraj và đồng tác giả (2001) [15], loài Acrocercops sp. Trưởng thành nhỏ, màu bạc và sau khi giao phối trưởng thành cái thường đẻ một vài trứng trên mặt dưới lá gần gân chính của lá và nở trong khoảng từ 2 đến 6 ngày. Sâu non màu xám nhạt và ăn phần mô diệp lục của lá.

Các lá bị sâu đục trở nên nhăn nheo và các khu vực lá bị sâu đục khô lại tạo thành các lỗ lớn trên lá. Các lá này trở nên nhợt nhạt và quăn queo làm chậm sự phát triển. Theo Jayasinghe và đồng tác giả (2006) [26], loài sâu Synanthedon sp. (Lepidoptera: Sessiidae) đục thân, cành cây Quế là loài gây hại nghiêm trọng.

V ng đời của chúng chưa được xác định rõ ràng do khó để theo dõi giai đoạn sâu non trong thân cây. Nhưng nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm giai đoạn sâu non kéo dài khoảng từ 2 đến 3 tháng rồi vào nhộng; Trưởng thành vũ hóa từ 10 đến 12 ngày và sống được khoảng 2 ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học và Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Hại Trên Cây Quế Tại Huyện Trấn Yên, Yên Bái" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm sinh học của cây quế và những biện pháp hiệu quả để phòng trừ sâu hại. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân và các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cây quế mà còn đưa ra các giải pháp thực tiễn nhằm bảo vệ cây trồng, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây keo tai tượng tại huyện yên bình, nơi cung cấp thông tin về biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây keo.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu thành phần sâu hại và thiên địch trên cây thanh long, tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các loại sâu hại và thiên địch trong nông nghiệp.

Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái học và nhân giống vô tính loài cây kim ngân cũng là một nguồn tài liệu quý giá, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp nhân giống và bảo tồn cây trồng.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có thêm nhiều góc nhìn mới về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và bảo vệ cây trồng.