Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về ong ký sinh Bracon hebetor 1.1 Nguồn gốc và phân bố B. hebetor (Hymenoptera: Braconidae) là loài ong có tập tính ký sinh ngoài co thê ấu trùng, phân bồ rộng rãi trên khắp thế giới, tắn công chủ yếu là ấu trùng của một số loài bộ Lepidoptera, trong số đó có loài bướm đêm địa trung hải (E. Danh pháp khoa học của B. hebetor có nhiều thay đối và chưa được thống nhất.
hebefor được mô tả lần đầu tiên trong chỉ Bracon bởi Thomas Say, từ đó có 24 từ đồng nghĩa khác nhau như: Microbracon hebetor Johnson; Habrobracon juglandis Cushman; Habrobracon juglandis Ashmead đã được những hoc giả khác sử 3 dụng. Tính đến hiện nay, B. hebefor đã được xếp lai chi Bracon (Krombein, 1979).2 Dac diém hinh thai ong Bracon hebetor Ong B. hebetor khi cho ký sinh trên ký chủ È.
kuehniella trai qua 4 giai đoạn phat triển: trứng, au trùng, nhộng, thành trùng (Pezzini va ctv, 2017). Trứng Trứng màu trắng đục, có bề mặt nhẫn, điền hình là dạng màng trinh, thon dải, hình elip (Pezzini và ctv, 2017).2 Các giai đoạn phát triển của ong B. hebetor (Nguồn: Pezzini va ctv, 2017) A: Trứng ngay sau khi đẻ; B: Trứng sau 12 giờ đẻ; C: Au trùng tuổi 1; D: Au trùng tuổi 2; E: Au trùng tuổi 3; F: Au trùng tuổi 4; G: Nhộng. 4 Au trùng Âu trùng B.
hebetor gồm 4 tuôi phát trién gần như tương tự nhau, khác nhau chủ yêu ở kích thước và hình dang của các đốt. Ở mỗi giai đoạn phát triển, co thé ấu trùng mat dần độ trong suốt, trở nên mờ đục với sự phình to của ruột. Mỗi giai đoạn có thời gian phát triển khác nhau. Au trùng tuổi 1: ấu trùng có màu trang trong hơi mờ, cơ thé trơn nhẫn không có lông tơ.
Phần đầu hình cầu, chiều rộng bằng các đoạn sau. Khi ấu trùng phát triển, cơ thé phát triển nhanh chóng và có sự phân chia rõ ràng hơn. Giai đoạn này ấu trùng có chiều dai tong thé là 0,42 mm, chiều rộng là 0,10 mm và phan dau là 0,10 mm (Pezzini và ctv, 2017). Au trùng tuổi 2: Chiều rộng phan đầu tăng nhưng nhỏ hơn chiều rộng của các đoạn cơ thể.
Với sự gia tăng kích thước cơ thê ấu trùng, ruột chiếm thể tích ngày càng tăng, đạt tới 1/3 co thé và xuất hiện nhiều cham trắng hạt dự trữ chất béo xung quanh cơ thé. Giai đoạn này ấu trùng có chiều dài tông thé là 0,92 mm; chiều rộng là 0,36 mm và phần đầu là 0,18 mm (Pezzini và ctv, 2017). Au trùng tuôi 3: Khi các đoạn cơ thé tăng kích thước, phần đầu được đoạn ngực thứ nhất bao phủ phía sau, đạt 1/3 kích thước phần đầu. Có thể quan sát thấy râu ngắn và lông trước ngực, lưng của ấu trùng.
Âu trùng trở nên mờ đục, các vân trên ấu trùng rõ rệt hơn, ruột phát triển phình to chiếm 2/3 cơ thể. Giai đoạn này ấu trùng có chiều dài là 1,52 mm; chiều rộng 0,62 mm và phần đầu là 0,24 mm (Pezzini và ctv, 2017). Âu trùng tuổi 4: Kích thước cơ thê tăng lên nhanh chóng làm cho phần đầu trở thành đoạn nhỏ nhất của ấu trùng và gần như bị bao bọc hoàn toàn ở phan lưng bởi đoạn ngực thứ nhất. Nhiều hạt xuất hiện dưới dạng những mảng nhỏ màu trắng nằm rải rác dưới lớp biéu bì của các đoạn bụng.
Ruột chứa thức ăn chuyền sang màu nâu vàng. Giai đoạn này au trùng có chiều dai co thé là 2,64 mm, chiều rộng là 0,95 mm và phần đầu là 0,29 mm (Pezzini và ctv, 2017). Tiên nhộng Au trùng ong B. hebetor sau khi day sức sẽ rời ký chủ dé quay tơ tạo kén.
Sau đó, ong sẽ co cơ thể lại, lột xác và đào thải phân, tạo ra một chấm đen cứng ở một đầu của kén. Đây là giai đoạn ong B. hebetor chuẩn bị hóa nhộng (Witethom, 1987). Nhộng Nhộng: Nhộng ong được bảo vệ bởi kén do ấu trùng tuôi cuối tạo ra.
Khi bắt đầu giai đoạn này, nhộng chỉ có mắt có màu nâu đen. Sau đó, hàm dưới và màng lưới bắt đầu cứng cáp hơn, phần ngực trước có màu nâu nhạt. Tiếp theo là các phần còn lại của ngực, có màu cam. Bung, cơ quan sinh sản và râu là những bộ phận cuối cùng chuyên đôi sắc tố, làm cho bụng có màu vàng nâu và các bộ phận khác có màu nâu (Pezzini va ctv, 2017).
Thành trùng Trung bình, sau 5 ngày hóa nhộng, thành trùng dùng ham phá kén và chui ra ngoài (Pezzini và ctv, 2017). Thành trùng cái thường to và có râu ngắn hơn thành trùng đực, ngoài ra chúng còn được phân biệt bằng ống đẻ trứng khi thành trùng cái có ống đẻ trứng màu đen ở phía cuối đốt bụng còn thành trùng đực không có bộ phận này. Sau khi vũ hóa, thành trùng Ö. hebetor bat đầu bắt cặp giao phối rồi ký sinh, đẻ trứng.3 Đặc điểm sinh học của ong Bracon hebefor Trứng Theo Farag va ctv (2015), thời gian phat dục của pha trứng ong B.
heBefor được nuôi trên ký chủ Corcyra cephalonica là 1,3 ngày; trên ky chủ Ephestia kuehniella là 1,55 ngày. Thời gian từ trứng ong đến khi hình phôi là 1,68 ngày trên ky chủ Spodoptera litura; 1,28 ngày trên ky chủ Maruca testulalis (Dabhi va ctv, 2013); trên ký chu Galleria mellonella là 1,51 ngày (Alam va ctv, 2016); trên ky chủ Opisina arenosella là 1 ngay (Suasa-ard va ctv, 2012). Au tring Theo Farag va ctv (2015) ghi nhận, thời gian phát duc pha au trùng ong Bracon hebetor trên ky chủ Corcyra cephalonica là 2,51 ngày; Alam va ctv (2016) là 3,16 ngày; Dabhi va ctv (2013) là 2,66 ngày, trên ky chu Galleria mellonella là 2,07 ngày, ky chu 6 Ephestia kuehniella là 2,56 ngày. Trên các ky chủ khác, thời gian pha phát dục pha ấu trùng được ghi nhận trên ký chủ Opisina arenosella là 2,58 ngày (Chomphukhiao và ctv, 2018) và 2 ngày (Suasa-ard va ctv, 2012); thí nghiệm trên ký chủ Ephestia cautella là 5,55 ngày: 5,25 ngày trên ký chủ Plodia interpunctella (Saadat và ctv, 2014).
Tiên nhộng Pha tiền nhộng ong B. hebetor được ghi nhận trên ký chủ Coreyra cephalonica là 0,84 ngày (Dabhi và ctv, 2013); trên ký chủ Plodia interpunctella là 1,57 ngày: 1,47 ngày trên ký chủ Ephestia cautella (Ahmed va ctv, 2012) Nhộng Thời gian phát dục pha nhộng ong trên ký chủ sâu đầu đen là 6,52 ngày (Chomphukhiao và ctv, 2018) và 5,28 ngày (Suasa-ard và ctv, 2012); trên ký chủ Corcyra cephalonica được ghi nhận lần lượt là 3,71 ngày: 6,57 ngày: 4,75 ngày: 5,12 ngày (Dabhi va ctv, 2013: Farag và ctv, 2015; Alam va ctv, 2016: Witethom, 1987); trên ký chủ Galleria mellonella là 5,89 ngày: ky chủ Ephestia kuehniella là 6,79 ngày (Farag va ctv, 2015); 5,10 ngày nuôi trên kỷ chu Galleria mellonella (Alam va ctv, 2016); thí nghiệm trên ký chủ Ephestia cautella lần lượt là 4,61 và 6,02 ngày; ký chủ Plodia interpunctella là 4,29 và 5,60 ngày (Ahmed va ctv, 2012; Saadat và ctv, 2014). Thành trùng Thanh trùng cái ong B. #ebefor đẻ trứng liên tục trong suốt quãng đời sống của mình (Benson, 1973).
Thành trùng cái mới nở chứa rat ít trứng và cần 3 đến 4 ngày dé đạt được sự thuần thục trong sinh sản (Grosch và ctv, 1977). Con cái đẻ tổng cộng 8 - 30 trứng mỗi ngày tùy thuộc vào kích thước vật chủ, tỷ lệ tiếp xúc và trạng thái sinh lý của vật chủ (Benson 1973, Hagstrum và Smittle 1978). hebetor bước sang tuần tuổi thứ 4 đẻ, giới tính thành trùng B. hebetor thường thiên về giới đực và khi con cái đưới 3 tuần tuổi đẻ, tỷ lệ giới tính thành trùng sẽ thiên về giới tính cái hơn.
Sự thay đổi về tỷ lệ đực/cái này được dự đoán nguyên nhân do thành trùng cái đã sử dụng hết lượng tỉnh trùng dự trữ của mình từ lần giao phối đầu tiên trong những tuần đầu. Tuy nhiên, tỷ lệ giới tính còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh và chất lượng ký chủ (Ode và ctv, 1997). Tuổi thọ thành trùng đực được nuôi trên ký chủ C. cephalonica là 8,2 ngày: trên ký chủ G.
mellonella là 9,2 ngày; trên ký chủ E. kuehniella là 7,6 ngày. Tudi thọ thành trùng cái được ghi nhận trên ký chủ C. cephalonica là 9,7 ngày; trên ký chủ G.
mellonella là 19,11 ngày; trên ký chủ #. kuehniella là 13,8 ngày (Farag và ctv, 2015); nuôi trên ký chủ E£. cautella là 43,86 ngày (Ahmed, 2012); 20,88 ngày được nuôi trên ký chủ P.4 Phương thức ky sinh của ong Bracon hebetor Thanh trùng cai ong B. hebetor có xu hướng thích đẻ trứng trên ký chủ mới bi tê liệt và ký chủ không có sẵn trứng trên đó, tuy nhiên chúng vẫn có thể đẻ trứng trên ký chu đã bị tê liệt lâu hoặc ký chu đã có trứng trên đó (Hagstrum và Smittle, 1978).
Khi thành trùng cái gặp phải ký chủ đã bị tê liệt, nó sẽ kiểm tra cần thận sự hiện diện trứng của những con cái khác, nếu phát hiện trứng, thành trùng cái thường đâm thủng trứng bằng ống đẻ trứng của mình sau đó đẻ trứng lên ký chủ. Tuy nhiên, hành vi này còn phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm cả vật chủ, tỷ lệ gặp, sé lượng trứng va có thể do di truyền của con cái (Antolin và Strand, 1995). Độc tố có trong tuyến noc độc của thành trùng cái B. hebetor được sử dung dé làm tê liệt ấu trùng ký chủ (Quistad va ctv, 1997).
Thanh trùng cái chọc thủng lớp biểu bì ấu trùng ký chủ và tiêm nọc độc vào (Ghimire, 2008). Nhờ vào các polypeptit có trong độc tố của B. hebetor, sự dẫn truyền thần kinh co glutamatergic tại đầu cuối thần kinh trước synap bị ngăn chặn, làm ấu trùng ký chủ bị tê liệt trong vòng 15 phút. Ngoài ra, noc độc của Ö.
hebetor cũng làm suy giảm sản xuất các loại oxy phản ứng, ức chế hoạt động của phenoloxidase trong hemolymph ký chủ và làm vỡ các tế bào máu (Kryukova và ctv, 2011). Trong quá trình đẻ trứng, thành trùng cái B. hebetor ăn hemolymph của ấu trùng ký chủ bi tê liệt, thành trùng đực có thé ăn thức ăn nhân tạo là mật ong pha loãng (Beard, 1952). Đầu tiên, thành trùng cai B.
hebetor chích, làm tê liệt ấu trùng ký chủ rồi đẻ trứng dưới bụng hoặc trên bề mặt lưng của ký chủ đã bị tê liệt (Antolin và Strand, 1995). Au trùng ong B. ebefor hút chất dinh dưỡng và phát triển 8 trên ấu trùng ký chủ đã bị tê liệt cho đến khi phát triển thành nhộng (Kryukova và ctv, 2011). Trong trường hợp chất dinh dưỡng trong ký chủ không đủ, ấu trùng ong B.
hebetor có thê di chuyển sang ký chủ bị tê liệt khác dé tìm kiếm thức ăn (Beard, 1952). Thanh trùng cái ong B. hebetor không đẻ trứng trên tat cả ký chủ mà thành trùng cái lam tê liệt (Ullyett, 1945).