Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về ong ký sinh Bracon hebetor Ong Bracon hebetor thuộc bộ Hymenoptera, ho Braconidae, chi Bracon, loài Bracon hebetor 1.1 Nguồn gốc và phân bố B. hebetor là loài ong ký sinh âu trùng phân bố rộng rãi ở khắp nơi trên thé giới (Ghimire, 2008). Bracon hebetor là một loài ký sinh tan công các giai đoạn au trùng của một số loài trong bộ Lepidoptera. Lan đầu tiên B.
hebetor được ghi nhận trên ngài gạo (Coreyca cephalonica). Vào mùa Hè, nhiệt độ cao làm tang mật số ong tự nhiên và mật số ong ký sinh đạt cao nhất vào mùa Thu. Tuy nhiên, vào mùa Xuân điều kiện môi trường không thuận lợi cho B. hebetor phát triển (Mbata và ctv, 2019).
Vì vậy, nó là một tác nhân kiểm soát sinh học tiềm năng tốt trong quá trình bảo quản (Keever và ctv, 1986) Hình 1.1 Phân bố của ong B.2 Ký chủ Ong ký sinh B. hebetor là một loài thiên địch đã được nghiên cứu và ứng dụng dé phòng trừ sâu hại trên nhiều cây trồng ở nhiều quốc gia trên thé giới. hebetor chủ yếu được biết đến như một dạng thiên địch ký sinh của loài bướm đêm trong phân họ Phycitinae, có liên quan đến các sản phẩm, thực phẩm được bảo quán bao gồm bướm đêm An Độ Plodia interpunctella Hubner, sâu bột Dia Trung Hải Ephestia kuehniella Zeller, sâu thuốc lá E. Theo Krombein va ctv (1979), B.
hebetor cũng tan công một số loài sâu bướm đêm khác, chang hạn như sâu gạo Coryna cephalonica (Stainton) (họ: Galleriinae), sâu sáp Galleria mellonella L. Những loài bướm đêm này là một trong những loải côn trùng phá hoại ngũ cốc và thực phẩm chế biến sẵn trên khắp thé giới (Cox và Bell, 1991).3 Đặc điểm hình thái, sinh học Bracon hebefor Thanh trùng cái ong B. hebetor chích noc độc làm tê liệt và đẻ trứng đơn lẻ trên cơ thé của ấu trùng ký chủ. hebefor hình bầu dục, thon dai, chiều rộng trung bình của trứng là 0,12 mm và chiều đài là 0,52 mm.
Khi mới được đẻ ra, trứng có màu trắng duc và sau đó chuyên sang trong suốt khi gần nở do phôi trứng phát triển (Suasa-ard và ctv, 2012). Mỗi ngày thành trùng cái đẻ dao động từ 5 - 15 trứng/ ký chủ. Giai đoạn au trùng của B. hebetor có hình bau dục, au trùng có màu sắc thay đổi từ trắng đến vàng tùy thuộc vào ký chủ khác nhau.
Au trùng tuổi cuối có chiều dai là 2,61 mm và chiều rộng là 0,79 mm. Ở giai đoạn tiền nhộng, ấu trùng bắt đầu hình thành kén tơ màu trắng hình trứng xung quanh bao bọc toàn cơ thé, sau khi tạo kén ấu trùng trở nên day hơn và cứng hơn. Nhộng của ong B. hebetor có kén màu vàng nhạt, chiều rộng là 1,30 mm và chiều dai cơ thé 3,15 mm.
Sau khi hoàn thành giai đoạn nhộng thành trùng sẽ đục một lỗ trên kén và chui ra, con cái thường có kích thước to hơn con đực và có vòi dẫn trứng kéo dải, chiều dài của con đực và con cái lần luợt là 2,35 mm va 2,70 mm (Witethom, 1987). hebetor có râu đài với 18 - 20 đoạn hình trụ, trong khi con cái có râu ngắn hơn và có kích thước lớn hơn. Vong đời của ong B. hebefor khoảng 14 ngày (Amir-Maafi và Chi, 2006).
hebetor có khả năng sinh sản đơn bội và lưỡng bội, con cái có thé kiểm soát giới tính của thé hệ con của chúng. Những quả trứng không được thụ tinh nở ra những con đực đơn bội, trong khi những quả trứng được thụ tinh sẽ ra những con đực va con cái lưỡng bội (Holloway va ctv, 1999). hebetor có thời gian phát triển vô cùng ngắn chỉ kéo đài 12 ngày từ trứng đến trưởng thành. Giai đoạn ấu trùng di chuyên ra các vùng lân cận ký chủ và nha tơ tạo kén, kén có hình trứng và mau trắng bao bọc cơ thé của ấu trùng.
Âu trùng ăn bằng cách dùng hàm căn vào cơ thể ký chủ, thường thì ấu trùng không ở yên một chỗ, chúng sẽ di chuyển sang ký chủ khác khi ký chủ cũ không còn phù hợp (Witethom, 1987). Giai đoạn ấu trùng kéo dài khoảng 7 ngày (Ghimire, 2008). Con trưởng thành sống tự do bắt đầu tìm kiếm ấu trùng ký chủ để ký sinh và đẻ trứng ngay sau khi vũ hóa (Desouhant và ctv, 2005). Một cặp thành trùng trung bình có thể sinh sản ra 173,7 con trong 22 ngày, với tỉ lệ giới tính (đực: cai) là (1: 1) (Youm và Gilstrap, 1993).
hebetor giao phỗi cả ban ngày và ban đêm. Trứng được đẻ phía duới bụng của cả hai au trùng O. cephalonica với trung bình 423. Con đực và con cái trưởng thành có tuổi thọ trung bình là 14,2 ngày và 12,05 ngày đối với C.
cephalonica, đỗi với O. arenosella trung bình là 37,9 ngày và 20,85 ngày. Tỉ lệ giới tính của đực và cái trưởng thành là 1,66:1 trên C. cephalonica và 1,30:1 trên O arenosella (Landge và ctv, 2009).
hehetor đã được nghiên cứu trên P. interpunctella Hubner, tuổi thọ của thành trùng cái trung bình là 20,88 + 0,97 ngày. Vòng đời trung bình trên C. cephalonica là 8,5 ngày và 10,56 ngày đối với Ó.
Tỷ lệ giới tính trong 15 ngày đầu của thành trùng cái chiếm từ 0,51 + 0,08 con đến 0,88 + 0,02 con, thành trùng đực chiếm từ 0,14 + 0,04 con đến 0,34 + 0,12 con. Tỷ lệ giới tính chung của thế hệ con cái được tạo ra trên con ong mẹ được ước tính là 0,66. Tổng số thế hệ con cái trên mỗi con cái và tỷ lệ sinh sản thuần được ước tính là 205,17 + (13,03 và 136,21) (Yu và ctv, 1999).2 Vòng đời của ong B. hebetor (Nguồn: Lettmann, 2021) A: Thành trùng cái và thành trùng đực; B: Thành trùng cái tiêm nọc độc vào ký chủ và đẻ trứng; C: Trứng ký sinh bên trên bề mặt ký chủ; D: Au trùng ong B.
heberor, E: Nhộng ong B.4 Phương thức và khả năng ky sinh của ong Bracon hebetor Theo Quistad và ctv (1997), 8. hebetor sử dụng độc tố diệt côn trùng có trong tuyến noc độc của cơ thé dé làm tê liệt ấu trùng ký chủ. Beard (1952), đã báo cáo rằng cau tạo các tuyến noc độc của ong B. hebetor được hình thành bởi một lớp đệm gồm tám tế bào dai và được kết nối với cơ ống đẻ trứng.
Thành trùng cái ong B. hebetor ky sinh qua lớp biểu bì của ấu trùng ký chủ để tiêm nọc độc gây tê liệt ấu trùng ký chủ (Ghimire, 2008). Theo Quistad và ctv (1997), đã báo cáo rằng trong tuyến nọc độc của ong B. hebefor gồm năm polypeptit với trọng lượng phân tử khoảng 70 kDa.
Theo Usherwood và ctv (1996), các polypeptit có trong tuyến noc độc của ong B. hebetor ngăn chặn sự dẫn truyền thần kinh cơ do ức chế sự xuất bảo của túi trước synap, làm cho ấu trùng ký chủ bị tê liệt trong vòng 15 phút. Nọc độc của ong B. hebetor làm suy giảm hoạt động sản xuất các loại oxy phản ứng, ức chế hoạt động của phenoloxidase trong hemolymph và giảm sự bao bọc của các tế bào máu (Kryukova va ctv, 2011).
Nọc độc của các loài ngoại ký sinh được Piek (1966) báo cáo rang là có thé ngừng quá trình 6 phát triển của au trùng ký chủ nhưng cơ ruột của ấu trùng ký chủ vẫn hoạt động. Board và ctv (1952), đã báo cáo rằng thành trùng cái ong Ö. hebetor ăn hồng cầu của ấu trùng ký chủ bị tê liệt trong quá trình đẻ trứng còn thành trùng đực ong B. #ebefor có thé ăn theo công thức thức ăn nhân tạo.
Au trùng của ong B. #ebefor phát triển trên lớp biểu bì của ấu trùng ký chủ bị tê liệt cho đến khi tạo kén bắt đầu chuyền sang giai đoạn nhộng (Kryukova và ctv, 2011). Theo Beard (1952), khi ấu trùng ký chủ không đủ đinh dưỡng dé cung cấp cho ấu trùng ong B. hebetor phát triển thì âu trùng ong B.
hebetor sẽ di chuyền và tìm ấu trùng ký chủ mới ngay lập tức. Theo Alam và ctv (2016), trong nhân nuôi đại trà tổng số ong ký sinh xuất hiện trên ấu trùng sâu sáp tuổi cuối là 1091 + 82,38 con trưởng thành với tỷ lệ ký sinh trung bình là 98 + 0,8%. hebefor thích ký sinh vào giai đoạn cuối của ấu trùng ký chủ (Akinkurolere và ctv, 2009), ký sinh và tiêm nọc độc vào ấu trùng ký chủ đẻ lam tê liệt ký chủ sau đó thành trùng cái sẽ đẻ trứng trên bề mặt của ấu trùng ky chủ bị tê liệt (Dabhi va ctv, 2012). Thanh trùng cái ong Ö.
hebefor thường đẻ trứng theo nhóm, hau hết trứng được dé trên bề mặt bung của ấu trùng ký chủ (Ahmed. Số au trùng ký chủ bi ký sinh trên ngày của thành trùng cái ong B. hebetor được ghi nhận trên 3 loài ký chủ H. kuehniella lần lượt là 9,5 + 0,1; 28 + 0,2; 31 + 0,2 con (Saadat và ctv, 2014).1 Thời gian và khả năng đẻ trứng Thời gian đẻ trứng sau khi giao phối giữa thành trùng cái và thành trùng đực ngày đầu tiên dao động từ 11 đến 27 ngày (Yu và ctv, 1999).
Theo Nikam va Pawar (1993), thời gian đẻ trứng của ong Ö. heberor ký sinh trên au trùng P. interpunctella được ước tính là 18,38 ngày. Thành trùng cái ong B.
hebetor đẻ trứng tập trung vào 10 ngày đầu và số lượng trứng chiếm 65% tổng số trứng được đẻ. Ở điều kiện nhiệt độ 27,1°C + 1°C và am độ 85%, ong B. hebetor ky sinh trên âu trùng Corcycra cephalonica đẻ trung bình khoảng 258,9 trứng. Theo Khalil và ctv (2016), trong 5 ngày theo dõi quá trình đẻ trứng của ong Ö.
hebefor trên các loài ký chủ khác nhau thì ghi nhận được khả năng đẻ trứng trung bình trên âu trùng G. mellonella là cao nhất tiếp theo đến ấu trùng 77. armigera và cuối cùng thấp nhất được xác định trên ấu trùng 77. pos/ica với tong số trứng trung bình lần lượt là 109,50 + 10,6; 97,16 + 9,43; 35,13 +7,0 trứng.
Theo Farag và ctv (2015), tổng số trứng đẻ được của thành trùng cái ong ký sinh B. hebetor khi được nuôi trên các loại ký chủ G. cautella lần lượt là 395,11 + 79,7; 93,5 +§,11 và 56 + 6,3 trứng. Số lượng trứng đẻ hằng ngày của thành trùng cái ong B.
hebefor cũng được ghi nhận lần lượt là 19,31 + 29; 69 + 0,8 và 5,8 + 0,58 trứng. Số lượng trứng trung bình hằng ngày của thành trùng cái ong B. hebetor ky sinh trên 3 loài ký chủ 77 armigera, A. kuehniella được xác định lần lượt là 9,5 + 0,1; 28 + 0,2 và 31 +0,2 trứng (Saadat và ctv, 2014).