Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), biện pháp kiểm soát sinh học bằng cách sử dụng côn trùng thiên địch được đánh giá là một hướng tiếp cận bền vững nhằm thay thế hoặc giảm thiểu việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật. Loài ong ký sinh Bracon hebetor Say (Bộ Hymenoptera, Họ Braconidae) là loài ngoại ký sinh quan trọng trên giai đoạn ấu trùng của nhiều loài côn trùng thuộc Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Loài này đã chứng minh được hiệu quả kiểm soát thực địa đối với sâu đầu đen hại dừa (Opisina arenosella) tại Thái Lan (Chomphukhiao và ctv, 2018) cũng như tại Bến Tre, Việt Nam.

Tuy nhiên, việc ứng dụng Bracon hebetor trên diện rộng gặp rào cản do nguồn ký chủ tự nhiên ngoài đồng ruộng thường không ổn định và chi phí thu thập cao. Do đó, việc tìm kiếm một loài ký chủ thay thế nhân tạo có khả năng nhân sinh khối lớn, vòng đời ngắn, kỹ thuật nuôi đơn giản và giàu giá trị dinh dưỡng là yêu cầu cấp thiết. Sâu sáp (Galleria mellonella L., Họ Pyralidae) sở hữu những ưu thế sinh học vượt trội về kích thước cá thể, hàm lượng dinh dưỡng cao và khả năng nuôi hàng loạt trên môi trường nhân tạo, trở thành ứng viên tiềm năng để nhân nuôi hàng loạt B. hebetor. Đề tài "Đánh giá khả năng nhân nuôi ong ký sinh Bracon hebetor (Hymenoptera: Braconidae) trên ấu trùng sâu sáp (Galleria mellonella L.)" được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở khoa học và xác lập các thông số kỹ thuật tối ưu cho việc sản xuất loài thiên địch này.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:

  1. Xác định được tuổi ấu trùng sâu sáp (Galleria mellonella L.) phù hợp nhất để nhân nuôi ong ký sinh Bracon hebetor.
  2. Xác định được mật số phù hợp giữa ong ký sinh Bracon hebetor và ấu trùng sâu sáp phục vụ công tác nhân nuôi đạt hiệu quả cao nhất.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá ảnh hưởng của 5 độ tuổi ấu trùng sâu sáp (tuổi 1, 2, 3, 4, 5) đến số lượng ấu trùng bị tê liệt, số ấu trùng bị tê liệt có đẻ trứng, tổng lượng trứng đẻ, số lượng ong vũ hóa, thời gian phát triển và kích thước sải cánh thành trùng thế hệ con.
  2. Đánh giá ảnh hưởng của 4 mật độ ký chủ (10, 20, 30, 40 ấu trùng sâu sáp tuổi 5) khi tiếp xúc với 2 cặp ong ký sinh đến khả năng làm tê liệt, nhịp điệu đẻ trứng, tổng số trứng, số lượng ong vũ hóa, tỷ lệ giới tính (đực/cái) và tuổi thọ của thành trùng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ong ký sinh Bracon hebetor và sâu sáp Galleria mellonella.
  • Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 05 năm 2024.
  • Điều kiện vi khí hậu chuẩn hóa: Nhiệt độ duy trì ở mức 28 ± 2°C, độ ẩm không khí 70 ± 5%, chế độ chiếu sáng (quang kỳ) 12 giờ sáng : 12 giờ tối.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và đặc tính sinh học

Nghiên cứu dựa trên nền tảng sinh học và cơ chế ký sinh của ong Bracon hebetor:

  • Cơ chế gây tê liệt và đẻ trứng: Thành trùng cái sử dụng ống đẻ trứng chích nọc qua lớp biểu bì của ấu trùng ký chủ. Tuyến nọc độc của ong chứa 5 loại polypeptide có khối lượng phân tử khoảng 70 kDa (Quistad và ctv, 1997). Độc tố này ngăn chặn sự dẫn truyền thần kinh cơ bằng cách ức chế quá trình xuất bào của túi trước synap, làm ấu trùng ký chủ tê liệt hoàn toàn trong vòng 15 phút (Usherwood và ctv, 1996). Nọc độc còn ức chế hoạt tính phenoloxidase trong dịch máu (hemolymph), làm suy giảm phản ứng miễn dịch bao bọc tế bào của ký chủ (Kryukova và ctv, 2011). Sau khi ký chủ tê liệt, ong cái ăn dịch mô ký chủ để bổ sung dinh dưỡng buồng trứng và đẻ trứng ngoại sinh trên bề mặt bụng vật chủ.
  • Cơ chế xác định giới tính: B. hebetor sinh sản theo cơ chế đơn bội - lưỡng bội (arrhenotoky). Trứng được thụ tinh phát triển thành cá thể lưỡng bội (chủ yếu là con cái), trong khi trứng không thụ tinh phát triển thành cá thể đực đơn bội (Holloway và ctv, 1999).
  • Đặc tính sinh học ký chủ Galleria mellonella: Ấu trùng sâu sáp trải qua 8 – 10 lần lột xác. Ở giai đoạn cuối (tuổi 5), ấu trùng đạt khối lượng lớn (khoảng 250 – 260 mg), kích thước dài 25 – 30 mm, chứa hàm lượng dinh dưỡng dồi dào, đảm bảo nhu cầu nuôi dưỡng nhiều ấu trùng ký sinh cùng lúc.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu thuộc loại hình thực nghiệm sinh học trong điều kiện phòng thí nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt.

  • Nguồn sinh vật thí nghiệm:
    • Nguồn sâu sáp G. mellonella: Nuôi trên môi trường nhân tạo theo công thức của Lê Khắc Hoàng và Trần Thị Hoàng Đông (2023) trong khay nhựa (56 x 38 x 26 cm) ở điều kiện 27 ± 2°C, ẩm độ 70 ± 5%, quang kỳ 12 giờ. Thành trùng được thu và cho đẻ trứng trên bó que gỗ trong lồng mica che vải tối.
    • Nguồn ong B. hebetor: Thuần hóa và nhân nuôi ổn định qua 3 thế hệ trên ấu trùng sâu sáp tại phòng thí nghiệm trước khi đưa vào các công thức thí nghiệm chính thức. Ong nuôi trong hộp chữ nhật có nắp lưới (25 x 15 x 8,5 cm), cho ăn dung dịch mật ong 30%.
  • Bố trí thí nghiệm 1 (Xác định tuổi ấu trùng phù hợp):
    • Thiết kế theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), đơn yếu tố, 5 nghiệm thức tương ứng với 5 tuổi ấu trùng sâu sáp (tuổi 1, 2, 3, 4, 5), lặp lại 5 lần.
    • Mỗi đơn vị thí nghiệm gồm 50 ấu trùng sâu sáp cùng độ tuổi, cho tiếp xúc với 10 cặp ong trưởng thành 2 ngày tuổi đã giao phối trong hộp nhựa (15 x 10 x 7,5 cm). Sau 24 giờ tiếp xúc, tách ấu trùng ra nuôi riêng để theo dõi.
    • Đo kích thước sải cánh ngẫu nhiên của 10 cặp thành trùng đực và cái ở mỗi nghiệm thức dưới kính lúp soi nổi KTECK KTST-978PRO (độ phóng đại 17x – 110x).
  • Bố trí thí nghiệm 2 (Xác định mật số ký chủ phù hợp):
    • Thiết kế CRD đơn yếu tố, 4 nghiệm thức tương ứng với 4 mật số ấu trùng sâu sáp tuổi 5 (10, 20, 30, 40 con), lặp lại 5 lần.
    • Sử dụng 2 cặp ong trưởng thành 2 ngày tuổi đã giao phối cho mỗi hộp thí nghiệm. Thay mới hoàn toàn ấu trùng sâu sáp sau mỗi 24 giờ và theo dõi liên tục cho đến khi ong bố mẹ chết. Thí nghiệm thực hiện trong điều kiện không bổ sung mật ong để đánh giá khả năng tự nhiên của ong trên ký chủ.
  • Phương pháp xử lý số liệu:
    • Dữ liệu thô được nhập và tính toán sơ bộ bằng Microsoft Excel 2016.
    • Phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định so sánh phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa α = 0,05 trên phần mềm thống kê SAS 9.
    • Dữ liệu tỷ lệ phần trăm và số đếm có độ lệch biến thiên lớn được chuyển đổi trước khi phân tích: số trứng và số ong vũ hóa chuyển đổi bằng công thức $log(x + 1)$; tỷ lệ đực/cái chuyển đổi bằng công thức $arcsin\sqrt{x + 0,5}$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hai đối tượng sinh học chính:

  • Ong ký sinh Bracon hebetor: Phân loại học, phân bố toàn cầu, phổ ký chủ bao gồm các loài sâu hại kho nông sản (Corcyra cephalonica, Plodia interpunctella, Ephestia kuehniella) và sâu hại đồng ruộng (Helicoverpa armigera, sâu đục thân lúa, Opisina arenosella). Tác giả mô tả chi tiết hình thái từng pha phát dục: trứng thon dài màu trắng đục chuyển trong suốt (0,52 x 0,12 mm); ấu trùng tuổi cuối dài 2,61 mm; nhộng kén tơ vàng nhạt (3,15 x 1,30 mm); con cái trưởng thành dài 2,70 mm với vòi dẫn trứng dài, con đực dài 2,35 mm với râu dài 18 – 20 đốt. Đồng thời, chương 1 phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả ký sinh gồm: mật độ ký chủ, kích thước cơ thể vật chủ, loại thức ăn nhân tạo và tuổi thành trùng ong ký sinh.
  • Sâu sáp Galleria mellonella: Hệ thống phân loại, lịch sử ghi nhận dịch hại trên các đàn ong mật khắp thế giới, hình thái các pha trứng, ấu trùng (trải qua 8 – 10 tuổi lột xác), nhộng và thành trùng. Vòng đời sâu sáp trung bình 32 ngày ở 28°C và kéo dài tới 93 ngày trong điều kiện bất lợi. Ngoài tác hại gây thủng tảng sáp tổ ong, sâu sáp được phân tích rõ về mặt giá trị ứng dụng: khả năng phân hủy nhựa polyethylene, làm sinh vật mô hình trong thử nghiệm độc tính và là ký chủ nhân tạo phục vụ nhân sinh khối các loài ong ký sinh như B. hebetor và Trichospilus pupivorus.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết các bước chuẩn bị vật liệu, môi trường, thiết bị nghiên cứu và trình tự bố trí thực nghiệm:

  • Trình bày kỹ thuật nuôi giữ sâu sáp bằng thức ăn nhân tạo và phương pháp kích thích đẻ trứng vào que gỗ trong buồng tối để thu trứng đồng loạt.
  • Trình bày quy trình thuần hóa ong B. hebetor qua 3 thế hệ trên sâu sáp với tỷ lệ 35 cái : 15 đực trên 50 ấu trùng sâu sáp tuổi cuối để đạt quần thể đồng đều về thể trạng trước khi đưa vào bố trí thí nghiệm.
  • Mô tả chi tiết quy trình kiểm tra, phương pháp thu thập các chỉ tiêu nghiên cứu: đếm số ấu trùng bị tê liệt, số ấu trùng bị đẻ trứng, số trứng đẻ hàng ngày trên kính lúp, theo dõi ngày vũ hóa, đếm số ong vũ hóa bay lên, xác định giới tính thành trùng qua máng đẻ trứng và đốt râu, đo sải cánh bằng trắc vi kế.
  • Xác định phương pháp xử lý thống kê áp dụng mô hình phân tích phương sai đơn yếu tố hoàn toàn ngẫu nhiên trên phần mềm SAS 9.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Tác giả trình bày kết quả chi tiết thu được từ hai nội dung thực nghiệm chính:

1. Xác định tuổi ấu trùng sâu sáp phù hợp cho ong B. hebetor ký sinh:

  • Khả năng gây tê liệt và đẻ trứng: Số ấu trùng bị tê liệt tăng từ tuổi 1 đến tuổi 5 (biến động từ 34,64 đến 44,40 con). Đáng chú ý, tỷ lệ sâu bị tê liệt có đẻ trứng ở tuổi 1 và tuổi 2 rất thấp (lần lượt đạt 4,40 và 6,60 con), trong khi ở tuổi 5 đạt tới 28,00 con. Ong cái có xu hướng tiêm nọc làm tê liệt hầu hết sâu tiếp xúc nhưng chỉ lựa chọn các ấu trùng đủ dinh dưỡng để đẻ trứng.
  • Số lượng trứng và tỷ lệ vũ hóa: Số trứng đẻ trên ấu trùng tuổi 5 đạt cao nhất với 173,80 trứng, dẫn đến số ong vũ hóa cao nhất là 77,20 con/nghiệm thức. Ấu trùng tuổi 1 chỉ thu được 12,40 trứng và 9,80 ong vũ hóa.
  • Thời gian vũ hóa và kích thước sải cánh: Thời gian phát triển tiền thành trùng không chênh lệch lớn giữa các tuổi (từ 9,09 đến 10,10 ngày). Tuy nhiên, kích thước sâu ký chủ ảnh hưởng rõ rệt đến tầm vóc thế hệ con: sải cánh ong đực và cái nuôi trên sâu tuổi 5 đạt lần lượt 4,97 mm và 5,42 mm, vượt trội so với tuổi 1 (3,37 mm ở con đực và 3,91 mm ở con cái).

2. Xác định mật số giữa ong B. hebetor và ấu trùng sâu sáp tuổi 5 phù hợp:

  • Khả năng ký sinh và số trứng: Khi tăng số lượng sâu từ 10 lên 40 con, tổng số sâu bị làm tê liệt tăng mạnh từ 149,20 lên 550,80 con. Tuy nhiên, tổng số trứng đẻ đạt đỉnh ở mật số 20 con (955,60 trứng), sau đó giảm dần ở mật số 30 con (803,00 trứng) và mật số 40 con (726,40 trứng). Hiện tượng này phản ánh sự suy kiệt thể lực của ong cái khi phải tiêu tốn quá nhiều năng lượng để chích độc tê liệt vật chủ thừa thãi.
  • Số lượng ong vũ hóa và tỷ lệ giới tính: Mật số 20 sâu sáp cho số ong vũ hóa cao nhất (814,40 con). Tỷ lệ giới tính đực/cái tăng dần theo mật độ vật chủ: ở mật số 10 là 1,61:1; mật số 20 là 2,07:1; mật số 30 là 2,59:1 và mật số 40 lên tới 2,76:1.
  • Nhịp điệu đẻ trứng và tuổi thọ: Ong cái đẻ trứng tập trung từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 12 sau vũ hóa. Ở mật số 20 con, đỉnh đẻ trứng đạt 78,4 trứng/ngày vào ngày thứ 2 và thời gian đẻ kéo dài suốt 21 ngày. Tuổi thọ trung bình của ong cái dao động từ 19,20 đến 21,40 ngày, dài hơn đáng kể so với ong đực (7,00 đến 9,20 ngày).

Kết quả và đóng góp

Bảng số liệu tổng hợp các kết quả thực nghiệm chính

Bảng 1: Ảnh hưởng của tuổi ấu trùng sâu sáp đến khả năng ký sinh và sinh học của ong B. hebetor (10 cặp ong/50 sâu)

Tuổi ấu trùng sâu sáp Số sâu bị tê liệt (con) Số sâu bị tê liệt có đẻ trứng (con) Tổng số trứng (trứng) Số ong vũ hóa (con) Thời gian vũ hóa (ngày) Sải cánh con đực (mm) Sải cánh con cái (mm)
Tuổi 1 34,64 ± 3,58 b 4,40 ± 3,44 c 12,40 ± 7,50 c 9,80 ± 5,58 b 9,09 ± 0,13 b 3,37 ± 0,13 c 3,91 ± 0,12 c
Tuổi 2 41,20 ± 2,39 a 6,60 ± 2,41 b 33,80 ± 18,13 b 15,80 ± 10,62 b 9,41 ± 0,57 b 4,68 ± 0,20 b 4,97 ± 0,10 b
Tuổi 3 42,80 ± 1,14 a 23,80 ± 6,10 a 134,40 ± 40,00 a 60,60 ± 11,35 a 9,94 ± 0,21 a 4,67 ± 0,18 b 5,37 ± 0,16 a
Tuổi 4 43,00 ± 3,39 a 21,00 ± 1,58 a 118,80 ± 23,03 a 59,60 ± 4,51 a 10,10 ± 0,22 a 4,86 ± 0,08 ab 5,39 ± 0,04 a
Tuổi 5 44,40 ± 3,44 a 28,00 ± 3,39 a 173,80 ± 32,60 a 77,20 ± 7,36 a 10,05 ± 0,13 a 4,97 ± 0,04 a 5,42 ± 0,03 a

(Các chữ cái a, b, c trong cùng một cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức α = 0,05).

Bảng 2: Ảnh hưởng của mật số ấu trùng sâu sáp tuổi 5 đến các chỉ tiêu sinh sản của ong B. hebetor (2 cặp ong bố mẹ)

Mật số sâu/hộp Tổng số sâu bị tê liệt (con) Tổng số trứng đẻ (trứng) Tổng số ong vũ hóa (con) Thời gian vũ hóa (ngày) Tỷ lệ giới tính (Đực / Cái) Tuổi thọ thành trùng đực (ngày) Tuổi thọ thành trùng cái (ngày)
10 149,20 ± 5,66 d 653,80 ± 70,37 c 564,20 ± 91,97 c 8,97 ± 0,06 a 1,61 ± 0,33 c 7,00 ± 1,22 a 20,00 ± 1,87 a
20 285,00 ± 9,59 c 955,60 ± 51,67 a 814,40 ± 33,38 a 9,99 ± 0,07 a 2,07 ± 0,10 b 9,20 ± 1,30 a 21,40 ± 1,14 a
30 388,40 ± 26,28 b 803,00 ± 55,82 b 691,40 ± 17,47 b 10,03 ± 0,18 a 2,59 ± 0,17 a 7,80 ± 2,28 a 20,20 ± 3,77 a
40 550,80 ± 31,39 a 726,40 ± 92,16 bc 656,60 ± 63,87 b 9,97 ± 0,05 a 2,76 ± 0,30 a 8,20 ± 1,92 a 19,20 ± 1,30 a

Đóng góp khoa học và giải pháp đề xuất

  • Xác lập thông số kỹ thuật tối ưu: Khóa luận đưa ra quy trình cụ thể cho nhân sinh khối: sử dụng ấu trùng sâu sáp tuổi 5 làm ký chủ; mật số phối thích hợp nhất là 20 ấu trùng sâu sáp tuổi 5 cho 2 cặp ong trưởng thành thay mới sau mỗi 24 giờ. Công thức này cho tổng số trứng trung bình 955,60 quả và số lượng ong vũ hóa đạt tới 814,40 con.
  • Làm rõ quy luật hao phí sinh học do mật độ vật chủ: Tác giả đã chứng minh bằng số liệu thực nghiệm rằng số lượng vật chủ bị tê liệt không đồng biến với lượng trứng đẻ ra. Khi tăng mật số vật chủ lên 30 – 40 con, ong cái lãng phí năng lượng vào việc chích độc làm tê liệt vật chủ (đạt 550,80 con ở mật số 40), dẫn tới sụt giảm sản lượng trứng thực tế và gia tăng tỷ lệ thành trùng đực do ấu trùng thiếu dưỡng chất hoặc ong mẹ cạn kiệt tinh trùng dự trữ.
  • Đối chiếu với các nghiên cứu tiền nhiệm: Kết quả nghiên cứu khẳng định sự tương đồng với nhận định của Amir-Maafi và Chi (2006) về tính ưu tiên chọn lựa ấu trùng tuổi 5 của ong cái; đồng thời bổ sung dữ liệu thực nghiệm về nhịp điệu sinh sản và tỷ lệ giới tính của quần thể B. hebetor nuôi tại Việt Nam so với các công bố của Alam và ctv (2014, 2016) tại nước ngoài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Khảo sát mật số vật chủ chỉ giới hạn trong phạm vi 4 nghiệm thức (10, 20, 30, 40 ấu trùng) trên tỷ lệ cố định là 2 cặp ong bố mẹ trong thể tích hộp nuôi 15 x 10 x 7,5 cm, chưa khảo sát các tỷ lệ ghép cặp đa dạng khác.
    • Thí nghiệm mật số và theo dõi nhịp điệu đẻ trứng, tuổi thọ thành trùng được thực hiện hoàn toàn trong điều kiện không bổ sung mật ong, dẫn đến tuổi thọ và khả năng đẻ trứng thực tế bị rút ngắn so với tiềm năng sinh học khi được bổ sung dinh dưỡng carbohydrate.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo (theo đề nghị của tác giả):
    • Mở rộng nghiên cứu nhân nuôi số lượng lớn (quy mô công nghiệp) ong ký sinh Bracon hebetor ở các mức mật số vật chủ cao hơn 20 ấu trùng sâu sáp tuổi 5 tương ứng với việc tăng số lượng cặp ong bố mẹ để kiểm tra khả năng ứng dụng ở quy mô sản xuất đại trà.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Bảo vệ Thực vật, Côn trùng học ứng dụng, Nông nghiệp sinh thái và Quản lý dịch hại cây trồng. Khóa luận cung cấp quy trình nghiên cứu chuẩn tắc từ phương pháp nuôi giữ sâu sáp nhân tạo, kỹ thuật nhân thuần ong ký sinh đến phương pháp bố trí thí nghiệm CRD và phân tích thống kê chuyên biệt cho dữ liệu côn trùng học (chuyển đổi logarit và arcsin).
  • Các trung tâm nghiên cứu và sản xuất thiên địch: Tham khảo trực tiếp bộ thông số định lượng (tuổi sâu sáp tuổi 5, tỷ lệ 20 sâu/2 cặp ong, chu kỳ thay sâu 24 giờ, nhịp sinh sản cao điểm 2 – 12 ngày sau vũ hóa) để ứng dụng thiết lập dây chuyền nhân sinh khối ong Bracon hebetor, phục vụ công tác phóng thích phòng trừ sâu đầu đen hại dừa tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long hoặc các loài sâu hại kho nông sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao ấu trùng sâu sáp tuổi 5 lại cho hiệu quả nhân nuôi vượt trội so với các tuổi nhỏ hơn? Ấu trùng tuổi 5 có kích thước cơ thể lớn nhất (dài 25 – 30 mm), diện tích bề mặt tiếp xúc rộng và hàm lượng chất béo, protein tích lũy dồi dào. Số liệu thực nghiệm cho thấy trên tuổi 5, số sâu bị tê liệt có đẻ trứng đạt 28,00 con, số trứng đẻ đạt 173,80 quả và số ong vũ hóa đạt 77,20 con (cao gấp nhiều lần tuổi 1 chỉ đạt 4,40 sâu bị đẻ trứng; 12,40 trứng và 9,80 ong vũ hóa). Ký chủ tuổi 5 còn giúp ong thế hệ con phát triển tối ưu về tầm vóc với sải cánh đạt 4,97 mm ở con đực và 5,42 mm ở con cái.

2. Mật độ nào giữa ong bố mẹ và ấu trùng sâu sáp tuổi 5 là tối ưu nhất cho việc nhân nuôi? Mật số tối ưu được xác định là 20 ấu trùng sâu sáp tuổi 5 cho 2 cặp ong trưởng thành trong chu kỳ 24 giờ. Ở mật số này, quần thể đạt tổng số trứng đẻ cao nhất (955,60 trứng) và tổng số ong ký sinh vũ hóa cao nhất (814,40 con).

3. Tại sao tăng mật số sâu sáp lên 30 hoặc 40 con lại làm giảm sản lượng trứng và số ong vũ hóa? Ở mật số 30 và 40 con, ong cái bị kích thích tiêm nọc làm tê liệt số lượng lớn vật chủ (lên đến 388,40 con ở mật số 30 và 550,80 con ở mật số 40). Quá trình liên tục chích nọc tiêu tốn rất nhiều năng lượng dự trữ của ong mẹ, làm giảm sút năng lượng dành cho việc đẻ trứng, khiến tổng số trứng đẻ giảm xuống chỉ còn 803,00 trứng (mật số 30) và 726,40 trứng (mật số 40). Đồng thời, mật độ vật chủ dày đặc làm gia tăng tỷ lệ ong đực do hiện tượng cạnh tranh dinh dưỡng.

4. Thời gian phát triển tiền thành trùng của ong Bracon hebetor trên sâu sáp kéo dài bao nhiêu ngày? Thời gian vũ hóa (tính từ khi trứng được đẻ đến khi thành trùng chui khỏi kén) dao động trong khoảng từ 8,97 đến 10,10 ngày (trung bình khoảng 9 – 10 ngày). Các mức mật số ký chủ và độ tuổi ký chủ khác nhau hầu như không làm thay đổi có ý nghĩa thống kê đối với thời gian phát triển cá thể của ong.

5. Nhịp điệu đẻ trứng của ong cái diễn ra như thế nào trong suốt chu kỳ sống? Thành trùng cái bắt đầu đẻ trứng từ ngày thứ 1 hoặc thứ 2 sau khi vũ hóa và đẻ tập trung mạnh nhất từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 12. Ở nghiệm thức tối ưu (20 sâu), ong cái đạt đỉnh đẻ trứng ngay vào ngày thứ 2 sau vũ hóa với 78,4 trứng/ngày và duy trì khả năng đẻ trứng liên tục suốt 21 ngày trước khi chết.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Lê Trúc Oanh đã xác lập thành công cơ sở thực nghiệm cho việc nhân sinh khối loài ong ký sinh thiên địch Bracon hebetor trên vật chủ thay thế là sâu sáp Galleria mellonella. Kết quả nghiên cứu chứng minh ấu trùng sâu sáp tuổi 5 là ký chủ thích hợp nhất, và tỷ lệ ghép nuôi đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cao nhất là 20 ấu trùng sâu sáp tuổi 5 cho 2 cặp ong trưởng thành trong chu kỳ thay thế 24 giờ. Công trình cung cấp bộ dữ liệu sinh học định lượng chuẩn xác, đóng góp trực tiếp vào quy trình sản xuất thiên địch phục vụ chiến lược phòng trừ sinh học sâu hại cây trồng nông nghiệp.