mở đầu sự nghiệp khai phá xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn. Thời còn vương quốc Chăm Pa, Thành Hồ là cửa ngõ châu Thượng Nguyên. Thời các chúa Nguyễn, Tuy Hòa là cửa ngõ của Thủy Xá, Hỏa Xá mà sự giao thương chủ yếu là con sông Ba nối liền giữa duyên hải với đại ngàn (Tây Nguyên). Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa sãi) ly khai với chúa Trịnh, xây dựng xứ Đàng Trong từ sông Gianh (Quảng Bình) trở vào, chia xứ Đàng Trong từ sông Gianh đến núi Đá Bia thành 7 dinh.
Phủ Phú Yên được nâng hạng thành dinh Trấn Biên (đơn vị hành chính cấp tỉnh). Thời kỳ lịch sử tiếp theo, với một vị trí chiến lược quan trọng, Phú Yên là nơi đối đầu quyết liệt giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Năm 1771, anh em nhà Tây Sơn bắt đầu khởi nghiệp tại Tây Sơn thượng và Tây Sơn hạ. Tháng 5/1775, tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp mang quân đánh Phú Yên, quân bộ đóng ở Xuân Đài, quân thủy đóng ở Vũng Lấm.
Tháng 7/1775, quân của Tây Sơn do Nguyễn Quang Sáng, Lương Văn Trực cùng chúa Thủy Xá là Ma Khương tụ quân ở núi Ma Hiên, phối hợp với lực lượng thủy quân của Lưu Quốc Hùng, Trần Văn Nhâm hợp thành lực lượng Tây Sơn hữu đạo, cùng với 2.000 quân do Nguyễn Huệ chỉ huy từ Quy Nhơn kéo vào đánh úp quân Tống Phước Hiệp đang đóng tại Xuân Đài và Vũng Lắm, tiêu diệt 2 vạn quân ngũ dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ) của Tống Phước Hiệp, ghi chiến công vang dội. Từ khi địa danh Phú Yên có tên trên bản đồ đất nước đến nay, đã trải qua nhiều xáo trộn, biến động, chia tách, hợp nhất. Phú Yên đã từng là phủ (1611 - 1629), dinh (1629 - 1808), trấn (1808 - 1826), có lúc là đạo. Từ năm 1832 đến 1975, Phú Yên là tỉnh; từ 1975 – 1989: sáp nhập với tỉnh Phú Khánh; từ 1989 đến nay: trở lại tên gọi như cũ là tỉnh Phú Yên.
Hiện nay, Phú Yên có 9 đơn vị hành chính, bao gồm các huyện: - 13 - Sông Cầu, Đồng Xuân, Tuy An, Phú Hòa, Đông Hòa, Tây Hòa, Sơn Hòa, Sông Hinh và thành phố Tuy Hòa. Đặc điểm dân cư Phú Yên là địa bàn cư trú đa dân tộc. Trước khi người Việt vào Phú Yên (1578), vùng đất này thuộc vương quốc Chăm Pa và các dân tộc anh em Ba Na, Ê Đê ở phía Tây (Thủy Xá, Hỏa Xá). Sau biến cố lịch sử người Việt mở đất Phú Yên, một bộ phận người Chăm đi vào miền trong (Ninh Thuận - Bình Thuận), một bộ phận lên núi chung sống với dân tộc Ba Na và Ê Đê (dân tộc học gọi là dân tộc Chăm-Hroi).
Để khai khẩn đất Phú Yên, Trấn biên quan Lương Văn Chánh chiêu mộ 3.000 lưu dân (những người nghèo không sản nghiệp) Thanh Nghệ và Quảng Nam vào định cư ở Phú Yên. Ngoài ra, còn có một bộ phận quân lính của chúa Trịnh bị chúa Nguyễn bắt làm tù binh (1648) được đưa vào Phú Yên để bổ sung nguồn nhân lực khai phá vùng đất mới. Năm 1655 - 1660, chúa Nguyễn vượt sông Gianh đưa dân Nghệ An vào khai khẩn Phú Yên. Năm 1668, nhiều bà con người Hoa trong phong trào “phản Thanh - phục Minh” ở Phúc Kiến, Triều Châu, đảo Hải Nam chạy sang xin tị nạn ở vùng đất chúa Nguyễn quản lý.
Chúa Nguyễn Phúc Tần (Hiền Vương) cho định cư ở nhiều tỉnh khác nhau, trong đó Phú Yên có 5 điểm dân cư người Hoa. Đến năm 1865 – 1866, vua Tự Đức có chủ trương đưa một số dân nghèo ở các tỉnh lân cận và tỉnh Bình Thuận ra định cư ở Phú Yên. Sau năm 1954, nhiều bà con miền Bắc cũng vào lập nghiệp ở đất Phú Yên. Sau năm 1979, nhiều bà con dân tộc phía Bắc (như Tày, Nùng, Thái…) cũng vào sinh sống ở phía Tây Phú Yên.
Về tiếng nói của các dân tộc anh em trên địa bàn thì bà con người Hoa nói tiếng Quảng Đông, Triều Châu thuộc ngôn ngữ họ Hán - Tạng; bà con người Chăm H’roi (hậu duệ của người Chăm) trên đất Phú Yên nếu sống ở vùng dân tộc Ba Na thì Ba Na hóa, sống ở vùng Ê Đê thì Ê Đê - 14 - hóa. Họ vẫn còn lưu giữ ngôn ngữ (tiếng nói) của mình nhưng hoàn toàn cắt đứt với truyền thống cũ, không sử dụng được văn tự Chăm cổ. Về dân số, tính đến năm 2008, Phú Yên có số dân là 885.438 người, trong đó chiếm phần lớn là người Kinh (khoảng 95% dân số), còn lại là các dân tộc khác như: Êđê, Chăm, Bana, Hoa, Tày, Nùng, Dao… Xét theo khu vực, thành thị có 179.959 người và nông thôn có 705. Trong tổng số 30 tộc người đang sinh sống tại Phú Yên hiện nay, người Việt, Êđê, Chăm, Bana, Hoa là những cư dân có thời gian sinh sống lâu đời nhất.
Các khái niệm liên quan Có một số khái niệm liên quan đến đề tài cần được định rõ trong khi tiến hành luận văn. Đó là các khái niệm, định nghĩa về âm tiết, phương ngữ, bán phương ngữ, thổ ngữ, tiếng chuẩn, tiếng địa phương, vùng phương ngữ, nhóm thổ ngữ. Âm tiết Khái niệm âm tiết được nhiều nhà ngôn ngữ học như Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Quang Hồng, Đinh Lê Thư, Nguyễn Văn Huệ… quan tâm nghiên cứu. Nhìn chung, các nhà ngữ học này đều quan niệm âm tiết là đơn vị cơ sở, đơn vị xuất phát điểm cho việc phân tích ngữ âm tiếng Việt.
Để miêu tả và phân xuất âm tiết, chúng tôi chọn khuynh hướng chịu ảnh hưởng của trường phái Đông phương học. Đó là phân xuất âm tiết thành các yếu tố âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu. Phương ngữ Luận văn dùng thuật ngữ phương ngữ theo định nghĩa của Hoàng Thị Châu (2009): “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [8 : 29]. Bán phương ngữ X.
Xtêpanov (1984) quan niệm: “Nếu phương ngữ là ngôn ngữ của nông thôn thì bán phương ngữ là ngôn ngữ của thành phố”. Cách hiểu này cũng gần với quan niệm của Hoàng Thị Châu: “Phương ngữ của thành phố là bán phương ngữ, …nghiêng về những nét toàn dân hơn là những nét của địa phương mình” [8 : 75]. C Thompson (1965) thì cho rằng trong tiếng Việt, có trạng thái chuyển tiếp như một bán phương ngữ. “Nếu chúng ta khảo sát tiếng Việt từ Bắc vào Nam thì sẽ thấy trạng thái chuyển tiếp từ vùng nọ sang vùng kia mà phương ngữ các thành phố lớn như Hà Nội, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn có thể xem là tiêu biểu” [49 : 78].
Chúng tôi sử dụng khái niệm bán phương ngữ theo cách hiểu của Huỳnh Công Tín (1999), như là một phương ngữ chuyển tiếp, vừa mang một số đặc điểm của phương ngữ này, vừa mang một số đặc điểm của phương ngữ khác, trong đó có xu hướng gần với sự chuẩn mực. Thổ ngữ Thổ ngữ, theo quan niệm của Vương Toàn (1986) là khái niệm mang tính chất khu vực địa lý, “bên trong mỗi phương ngữ lại có những thổ ngữ, là biến thể của phương ngữ ở khu vực địa lý hẹp hơn (như tỉnh, huyện hoặc làng)” [55 : 275]. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, thổ ngữ phân bố ở phạm vi huyện, xã, thôn còn phương ngữ phân bố ở một vùng như tỉnh, thành phố. Liên quan đến thuật ngữ thổ ngữ, Hoàng Thị Châu dùng thuật ngữ “đảo thổ ngữ” để chỉ “một vùng nhỏ bé về địa dư, dân số cũng ít nhưng lọt thỏm giữa một vùng phương ngữ rộng lớn và tiếng nói của nó hết sức đặc biệt so với toàn vùng” [8 : 76].
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “thổ ngữ” để chỉ biến thể của ngôn ngữ trên phạm vi lãnh thổ từ cấp tỉnh trở xuống, như ý kiến của Đỗ Hữu Châu (1981), Vương Toàn (1986), Phạm Văn Hảo - 16 - (1985); còn thuật ngữ phương ngữ là biến thể ngôn ngữ trên phạm vi lãnh thổ rộng hơn, bao gồm nhiều tỉnh, thành. Và như vậy, tiếng Phú Yên được chúng tôi quan niệm là một thổ ngữ. Tiếng chuẩn và tiếng địa phương Cặp khái niệm tiếng chuẩn và tiếng địa phương được dùng với nghĩa tương ứng với cặp khái niệm ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa phương. Như vậy, tiếng chuẩn được sử dụng trên phạm vi cả nước, có thể được hình dung như tiếng Hà Nội, có bổ sung thêm những sự phân biệt quan yếu của các phương ngữ khác được phản ánh trong chính tả của tiếng Việt.
Còn tiếng địa phương chỉ được sử dụng bởi một nhóm người, tập thể người ở một phạm vi hẹp. Đây là biến thể về mặt địa lý của tiếng Việt. Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm “tiếng” với ý nghĩa tiếng địa phương, để chỉ cách phát âm của người dân ở tỉnh Phú Yên. Ngoài ra, đôi khi chúng tôi cũng dùng từ “thổ ngữ Phú Yên” để gọi tiếng Phú Yên.
Vùng phương ngữ và nhóm thổ ngữ Nhiều nhà Việt ngữ học dùng khái niệm “vùng phương ngữ, nhóm thổ ngữ” để chỉ một số phương ngữ có chung một số đặc điểm ngôn ngữ nào đó để có thể xếp thành vùng như cách gọi “vùng phương ngữ Bắc bộ”, “vùng phương ngữ Trung bộ”, “vùng phương ngữ Nam bộ”. Đó là các tác giả Hoàng Thị Châu (1989), Võ Xuân Trang (1991). Võ Xuân Trang (1991) cho rằng nhóm thổ ngữ như là “sự tập hợp các thổ ngữ có cùng một số đặc điểm ngữ âm nhất định. Các thổ ngữ trong cùng một nhóm có thể được phân bố trên cùng một địa bàn hoặc trên những địa bàn khác nhau của một phương ngữ” [57 : 14].
Như vậy, tiếng Phú Yên thuộc nhóm thổ ngữ Bình – Phú – Khánh – Thuận, thuộc vùng phương ngữ Nam Trung bộ. Vùng đồng ngữ, đồng ngữ tuyến - 17 - Khái niệm vùng đồng ngữ được hiểu như là một hiện tượng ngữ âm, từ vựng nào đó có thể được phân bố trải dài ở nhiều phương ngữ. Giới hạn của vùng đồng ngữ sẽ là đồng ngữ tuyến. Đồng ngữ tuyến được hiểu là “đường xác định ranh giới phương ngữ” [8 : 77], xác định các đặc tính của các phương ngữ.
Chẳng hạn: tiếng Phú Yên có đồng ngữ tuyến với tiếng Việt chuẩn ở các phụ âm đầu /b-, m-, f-, th-, t-, d-, n-, s-, -, -, c-, k-, m-, -, ŋ-, -, z-, χ-, -, h-, l-/. Hai phụ âm đầu /w-/, /j-/ tạo nên đồng ngữ tuyến với tiếng Sài Gòn.