ĐẶT VẤN ĐỀ U thần kinh đệm là u não nguyên phát thƣờng gặp nhất. U thần kinh đệm gồm có 3 nhóm chính: u sao bào, u tế bào thần kinh đệm ít nhánh và u tế bào ống nội tủy. Trong đó u sao bào và u tế bào thần kinh đệm ít nhánh chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 60 - 70%. Theo thống kê tại Bệnh viện Chợ Rẫy, hàng năm có trên 300 trƣờng hợp u thần kinh đệm đến khám và điều trị.
Trƣớc đây, việc chẩn đoán và phân độ mô học của u thần kinh đệm chủ yếu dựa vào lâm sàng và đặc điểm mô bệnh học. Độ mô học của u thần kinh trung ƣơng nói chung và u thần kinh đệm nói riêng giúp bác sĩ lâm sàng lựa chọn phác đồ điều trị thích hợp và có ý nghĩa tiên lƣợng. Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), u thần kinh đệm có 4 độ mô học từ I đến IV. Độ I đƣợc xem là lành tính, phát triển chậm, hiếm khi phát triển thành độ cao, thƣờng có tiên lƣợng tốt.
Ngƣợc lại, u sao bào độ II hay III diễn tiến nhanh xâm lấn, lan tỏa và diễn tiến đến độ cao, tiên lƣợng xấu [45], [110]. Diễn tiến của u thần kinh đệm từ độ thấp thành độ cao trải qua nhiều giai đoạn liên quan đến nhiều gen, đặc trƣng bởi thay đổi, tích lũy đột biến có thể phát hiện bằng các xét nghiệm tìm đột biến gen hoặc bằng phƣơng pháp nhuộm HMMD nhƣ protein p53, IDH1, IDH2, ATRX, EGFR hay Ki67…. Khoảng 70% - 80% đột biến IDH1 xảy ra ở u sao bào lan tỏa và u nguyên bào thần kinh đệm thứ phát, trong khi đó ít hơn 10% ở u nguyên bào thần kinh đệm nguyên phát có đột biến IDH1 [5], [103], [111]. Các u thần kinh đệm có đột biến gen IDH thƣờng có tiên lƣợng tốt hơn so với các trƣờng hợp không có đột biến gen IDH và.
2 đáp ứng tốt với các thuốc nhắm trúng đích nhƣ Ivosidenib, Enasidenib…. Vì vậy, theo bảng cập nhật phân loại u thần kinh đệm mới nhất WHO 2016, ngoài đặc điểm mô bệnh học, các tác giả còn dựa vào tình trạng đột biến gen IDH giúp bác sĩ lâm sàng có định hƣớng điều trị và tiên lƣợng. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đột biến gen IDH trong u thần kinh đệm bằng phƣơng pháp phân tích gen cũng nhƣ biểu hiện IDH bằng phƣơng pháp nhuộm HMMD. Tại Việt Nam, chỉ có một vài nghiên cứu tình trạng đột biến gen IDH với bằng phƣơng pháp giải trình tự gen, cũng nhƣ nghiên cứu về tình trạng biểu hiện IDH1 trong u thần kinh đệm bằng phƣơng pháp nhuộm HMMD.
Do tính cấp thiết và giá trị ứng dụng của tình trạng đột biến IDH trong u thần kinh đệm, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học và biểu hiện IDH1 trong một số u sao bào thƣờng gặp” với câu hỏi nghiên cứu đặt ra: “Biểu hiện IDH1 trong u sao bào nhƣ thế nào?”. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định đặc điểm mô bệnh học của một số u sao bào thƣờng gặp. Khảo sát biểu hiện IDH1 trong u sao bào thƣờng gặp 3.
Khảo sát mối tƣơng quan giữa biểu hiện IDH1 với đặc điểm mô bệnh học của u sao bào thƣờng gặp. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Mô học tế bào thần kinh đệm của não Tế bào thần kinh đệm là loại tế bào nâng đỡ hệ TKTU, gồm có 4 loại tế bào chính: là tế bào thần kinh đệm ít nhánh, sao bào, vi thần kinh đệm và tế bào ống nội tủy (hình 1.1 Cấu tạo tế bào hệ TKTU [40] - Tế bào thần kinh đệm ít nhánh: có chức năng tạo ra và duy trì myelin. Vỏ bao myelin đƣợc tạo ra từ lớp trung tâm của màng bào tƣơng tế bào thần kinh đệm ít nhánh. Dƣới kính hiển vi quang học, tế bào thần kinh đệm ít nhánh có kích thƣớc nhỏ, bào tƣơng ít nhánh hơn sao bào, nhân tròn có khoảng sáng quanh nhân (hình 1.
Chúng thƣờng xếp thẳng hàng giữa sợi trục. Mỗi tế bào thần kinh đệm ít nhánh tỏa ra các nhánh để nối với sợi trục và quấn quanh sợi trục tạo thành một đoạn myelin. Nhiều nhánh của một tế bào thần kinh đệm ít nhánh có thể myelin hóa một sợi trục hoặc vài sợi trục lân cận.2 Tế bào thần kinh đệm ít nhánh [37] - Sao bào: có hình dạng tế bào không đồng nhất, cung cấp và chuyển hóa các chất cơ bản cho các neuron của hệ TKTU. Sao bào là loại tế bào lớn nhất trong các tế bào thần kinh đệm.
Có 2 loại sao bào: sao bào nguyên sinh và sao bào sợi. Sao bào nguyên sinh: tập trung nhiều ở chất xám, bào tƣơng có nhiều nhánh, ngắn (hình 1.3 Sao bào nguyên sinh [42] Sao bào sợi: thƣờng gặp trong chất trắng hơn, tế bào có ít nhánh hơn và tƣơng đối thẳng (hình 1.4 Sao bào sợi [64] Cả sao bào sợi và sao bào nguyên sinh đều chứa các bó sợi trung gian gồm glial fibrillary acidic protein (GFAP). Vì vậy, nhuộm HMMD dấu ấn GFAP đƣợc xem là phƣơng pháp nhuộm đặc biệt để xác định loại sao bào. Các nhánh của sao bào trải rộng từ mạch máu đến neuron thần kinh.
Đầu tận cùng dãn rộng tạo thành các chân tận (end feet) bao phủ bề mặt bên ngoài của mạch máu hay màng quanh tế bào thần kinh. Ngày nay sao bào đƣợc xem là các tế bào vận chuyển các chất chuyển hóa đến neuron thần kinh, cũng nhƣ đào thải chất cạn bã của neuron thần kinh và điều hòa nồng độ ion, duy trì vi môi trƣờng thần kinh. - Vi thần kinh đệm: là tế bào nhỏ nhất trong các tế bào thần kinh đệm, có nhân nhỏ, đậm màu và kéo dài (hình 1. Khi nhuộm với kim loại nặng, tế bào thần kinh đệm có các tua nhánh.
Vi thần kinh đệm có khả năng thực bào. Bình thƣờng vi thần kinh đệm hiện diện với số lƣợng ít ở hệ TKTU của ngƣời trƣởng thành; sẽ tăng sinh và trở thành thực bào hoạt động ở các vùng não bị tổn thƣơng hay bệnh lý. Vi thần kinh đệm thuộc hệ đơn nhân thực bào và có nguồn gốc từ tủy xƣơng, đi vào nhu mô não qua mạch máu.5 Vi thần kinh đệm [64] - Tế bào ống nội tủy: lót bề mặt các não thất và trung tâm ống sống, có dạng hình khối hay hình trụ, bề mặt tế bào có lông chuyển và vi nhung mao (hình 1. Màng đáy tế bào có các nếp gấp để đan xen với các nhánh của sao bào.
Trong hệ thống các não thất, tế bào biểu mô lót có thể thay đổi để tạo ra dịch não tủy, vận chuyển và bài tiết các chất từ cuộn mạch kế cận. Tế bào ống nội tủy kết hợp với mao mạch đƣợc gọi là đám rối mạch mạc.6 Tế bào ống nội tủy [39] Trên nhuộm HE thông thƣờng, tế bào thần kinh đệm chỉ thấy rõ nhân vì vậy nên nhuộm kim loại nặng hoặc nhuộm HMMD để khảo sát hình dạng của tế bào thần kinh đệm.2 Phân loại u sao bào và u tế bào thần kinh đệm ít nhánh theo WHO 2016 Trong gần một thế kỷ qua, phân loại u não phần lớn dựa đặc điểm mô bệnh học trên tiêu bản nhuộm hematoxylin và eosin, biểu hiện hóa mô miễn dịch của các protein và mô tả đặc điểm siêu cấu trúc. Phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016 phân loại các u của hệ thần kinh trung ƣơng là một cải tiến về khái niệm và thực hành so với phân loại năm 2007. Lần đầu tiên WHO phân loại u thần kinh trung ƣơng sử dụng sinh học phân tử ngoài đặc điểm mô bệnh học để xác định nhiều thực thể u.
Nhƣ vậy, CNS WHO 2016 sắp xếp lại phân loại của u thần kinh đệm lan tỏa, u nguyên bào tủy và các u phôi khác và các thực thể mới đƣợc xác định kết hợp cả mô học và các đặc điểm phân tử, bao gồm u nguyên bào thần kinh đệm, không đột biến IDH và u nguyên bào thần kinh đệm đột biến IDH; u thần kinh đệm đƣờng giữa lan tỏa, đột biến H3 K27M; …Một số thực thể mới đƣợc phân loại và bỏ đi một số thực thể cũ.1: So sánh phân loại u sao bào theo WHO 2007 và 2016. WHO 2007 WHO 2016 U sao bào lan tỏa U sao bào lan tỏa, đột biến IDH U sao bào phồng, đột biến IDH U sao bào lan tỏa, không đột biến IDH U sao bào lan tỏa, không đặc hiệu U sao bào thoái sản U sao bào thoái sản, đột biến IDH U sao bào thoái sản, không đột biến IDH U sao bào thoái sản, không đặc hiệu U nguyên bào thần kinh đệm U nguyên bào thần kinh đệm, không đột biến IDH U nguyên bào thần kinh đệm, dạng tế. 8 bào khổng lồ Sarcôm thần kinh đệm U nguyên bào thần kinh đệm, dạng biểu mô U nguyên bào thần kinh đệm, đột biến IDH U nguyên bào thần kinh đệm, không đặc hiệu U thần kinh đệm ít nhánh U thần kinh đệm ít nhánh, đột biến IDH và đồng mất đoạn 1p/19q U thần kinh đệm ít nhánh, không đặc hiệu U thần kinh đệm ít nhánh U thần kinh đệm ít nhánh thoái sản, đột biến thoái sản IDH và đồng mất đoạn 1p/19q U thần kinh đệm ít nhánh thoái sản, không đặc hiệu U sao bào thần kinh đệm ít U sao bào thần kinh đệm ít nhánh, không nhánh đặc hiệu U sao bào thần kinh đệm ít U sao bào thần kinh đệm ít nhánh, không nhánh thoái sản đặc hiệu Chƣa có U thần kinh đệm đƣờng giữa lan tỏa, đột biến H3 K27M U sao bào nguyên sinh Bỏ U sao bào sợi Bỏ Bệnh u thần kinh đệm Bỏ U SAO BÀO KHÁC U sao bào lông U sao bào lông dạng nhầy U sao bào tế bào khổng lồ dƣới ống nội tủy. 9 U sao bào dạng mỡ vàng đa dạng U sao bào dạng mỡ vàng đa dạng thoái sản 1.3 Đặc điểm giải phẫu bệnh một số u sao bào thƣờng gặp 1.1 U sao bào lan tỏa, đột biến IDH U sao bào lan tỏa, đột biến IDH là u sao bào thấm nhập lan tỏa có đột biến một trong hai gen IDH1 hoặc IDH2, với đặc điểm tế bào dị dạng mức độ trung bình, tế bào biệt hóa rõ và phát triển chậm.
Phân độ mô học theo WHO 2016: độ II [19] U sao bào lan tỏa chiếm khoảng 11 – 15% các u sao bào của não [72], [73]. Tuổi trung bình và trung vị của u sao bào lan tỏa, đột biến IDH khoảng 30 tuổi.