ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét là bệnh xã hội phổ biến trên khắp các châu lục do ký sinh trùng sốt rét Plasmodium gây ra và do muỗi Anopheles truyền bệnh, muỗi đốt chủ yếu vào ban đêm, lúc sáng sớm và lúc mặt trời lặn [41]. Theo báo cáo sốt rét của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2021: Trên toàn cầu, ƣớc tính có khoảng 241 triệu trƣờng hợp sốt rét vào năm 2020 tại 85 quốc gia lƣu hành bệnh sốt rét (bao gồm lãnh thổ Guiana thuộc Pháp), tăng hơn so với năm 2019 (227 triệu trƣờng hợp), với phần lớn số trƣờng hợp mắc bệnh thuộc các quốc gia ở Châu Phi. Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét/1.000 dân số có nguy cơ, giảm từ 81 trƣờng hợp năm 2000 xuống 59 trƣờng hợp vào năm 2020. Khu vực Châu Phi ƣớc tính có khoảng 228 triệu trƣờng hợp bệnh (chiếm khoảng 95%) vào năm 2020.
Trong đó, các nƣớc có tỉ lệ mắc bệnh cao là Nigeria (27%), Cộng hòa Dân chủ Congo (12%), Uganda (5%), Mozambique (4%) và Niger (3%)…[62]. Tại Việt Nam, qua nhiều năm thực hiện chƣơng trình quốc gia về phòng chống bệnh sốt rét, tỷ lệ mắc sốt rét giảm đi đáng kể. Theo báo cáo về kết quả phòng chống bệnh sốt rét tại Việt Nam, năm 2021 tình hình sốt rét đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2020: Số lƣợng trƣờng hợp bệnh nhân có ký sinh trùng sốt rét giảm trên 67%, giảm đồng thời cả ký sinh trùng P. Số trƣờng hợp bệnh sốt rét ác tính đã giảm mạnh trong 2 năm gần đây, đặc biệt năm 2021 không có trƣờng hợp sốt rét ác tính.
Không có bệnh nhân tử vong do sốt rét và dịch sốt rét [42]. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có 42 tỉnh/thành phố đƣợc công nhận đạt tiêu chí loại trừ bệnh sốt rét. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tỉnh trên toàn quốc chƣa loại trừ đƣợc bệnh sốt rét, trong đó khu vực phía Bắc còn tỉnh Lai Châu trong mấy năm trở lại đây có sự gia tăng ký sinh trùng P. Năm 2021, tỉnh Lai Châu phát hiện 101 ký sinh trùng, tăng 74,14% so với năm 2020 (101/58).Giai đoạn 2018 - 2021, ký sinh trùng sốt rét phân bố tại 12/14 xã trong huyện Mƣờng Tè.
Năm 2022, số lƣợng ký sinh trùng sốt rét tập trung cao ở xã Tá Bạ (26 Thư viện ĐH Thăng Long 2 trƣờng hợp) [42], xã Tá Bạ là một xã miền núi ngƣời dân nơi đây có thói quen đi rừng, ngủ rẫy để canh tác hoặc thu hái lâm sản trong rừng dẫn đến việc phát hiện, điều trị, theo dõi ca bệnh gặp nhiều khó khăn. Ngƣời dân ở đây chủ yếu là dân tộc La Hủ nên kiến thức và thực hành phòng chống sốt rét còn hạn chế. Các biện pháp dự phòng đƣợc áp dụng nhƣ phun hóa chất diệt muỗi, tẩm màn bằng hóa chất tồn lƣu không đem lại hiệu quả cao, sốt rét lƣu hành tại xã vẫn còn diễn biến phức tạp và dai dẳng. Câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra là: Đặc điểm mắc sốt rét của ngƣời dân ở đây là gì ? có liên quan đến những yếu tố nào? Hiện vẫn chƣa tìm thấy nghiên cứu nào đầy đủ và có hệ thống về thực trạng này.
Từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:“Đặc điểm mắc sốt rét và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu năm 2022” nhằm mục tiêu: Mục tiêu nghiên cứu 1. Mô tả đặc điểm mắc sốt rét của ngƣời dân tại xã Tá Bạ, huyện Mƣờng Tè, tỉnh Lai Châu năm 2022 và giai đoạn 2020-2022. Phân tích một số yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của ngƣời dân tại địa bàn nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số định nghĩa, khái niệm liên quan Sốt rét là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có thể bùng phát thành dịch và gây tử vong nếu không đƣợc điều trị kịp thời. Hiện nay, bệnh sốt rét (BSR) vẫn còn là vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam Sốt rét là một bệnh lan truyền qua đƣờng máu gây nên bởi ký sinh trùng Plasmodium do muỗi cái của loài Anopheles đốt qua da và truyền các thoa trùng sốt rét vào máu [41]. Sốt rét lâm sàng là bệnh có đặc điểm sốt thành cơn với 3 giai đoạn: Rét, nóng, vã mồ hôi, sốt có chu kỳ và thƣờng kèm theo thiếu máu, lách to. Bệnh cảnh lâm sàng của sốt rét rất đa dạng với các thể: Mang ký sinh trùng lạnh, thể tiên phát, tái phát, thông thƣờng điển hình, sốt rét ác tính, sốt rét đái huyết cầu tố [41].
Trƣờng hợp nghi ngờ mắc sốt rét: Là những trƣờng hợp đang sốt hoặc có sốt trong 3 ngày gần đây và đang ở hoặc đã đến vùng sốt rét lƣu hành trong thời gian ít nhất 7 ngày trƣớc khi có sốt hoặc có tiền sử mắc sốt rét. Trƣờng hợp bệnh sốt rét xác định: Là trƣờng hợp có ký sinh trùng sốt rét trong máu đƣợc xác định bằng xét nghiệm lam máu nhuộm Giêm-sa hoặc xét nghiệm chẩn đoán nhanh phát hiện kháng nguyên hoặc kỹ thuật sinh học phân tử. Trƣờng hợp bệnh sốt rét ác tính: Là trƣờng hợp bệnh sốt rét xác định có biến chứng đe dọa tính mạng ngƣời bệnh. Sốt rét ác tính thƣờng xảy ra trên những ngƣời bệnh nhiễm P.
falciparum hoặc nhiễm phối hợp có P. Các trƣờng hợp nhiễm P. knowlesi cũng có thể gây sốt rét ác tính, đặc biệt ở các vùng kháng với chloroquine. Thư viện ĐH Thăng Long 4 Trƣờng hợp bệnh sốt rét nội địa: Là trƣờng hợp sốt rét xác định, lây nhiễm tại chỗ (xã/phƣờng), không có bằng chứng nào của ngoại lai và không liên quan trực tiếp đến lây nhiễm từ trƣờng hợp sốt rét ngoại lai.
Trƣờng hợp bệnh sốt rét ngoại lai: Là trƣờng hợp sốt rét xác định, lây nhiễm từ nơi khác về xã/phƣờng. Trƣờng hợp bệnh sốt rét thứ truyền: Là trƣờng hợp sốt rét xác định, lây nhiễm tại chỗ từ trƣờng hợp sốt rét ngoại lai. Trƣờng hợp bệnh sốt rét tái phát xa: Là trƣờng hợp sốt rét xác định, có tiền sử nhiễm sốt rét P. ovale trong vòng 3 năm, không có tiền sử dịch tễ liên quan với lây truyền ký sinh trùng sốt rét từ bên ngoài.
Trƣờng hợp tử vong do sốt rét: Là trƣờng hợp tử vong xác định có ký sinh trùng sốt rét. Dịch sốt rét: Dịch là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số ngƣời mắc bệnh vƣợt quá số ngƣời mắc bệnh dự tính bình thƣờng trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định. Vùng có dịch là khu vực đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có dịch. Vùng có nguy cơ dịch là khu vực lân cận với vùng có dịch hoặc xuất hiện các yếu tố gây dịch [2].
Tổng quan về bệnh sốt rét 1. Đặc điểm chung về bệnh sốt rét Quá trình dịch bệnh sốt rét gồm: Mầm bệnh (ký sinh trùng sốt rét); Nguồn truyền nhiễm (ngƣời bệnh sốt rét); Trung gian truyền bệnh (muỗi Anopheles); Khối cảm thụ (ngƣời chƣa có miễn dịch với KSTSR). Sự lan truyền bệnh sốt rét khác nhau về cƣờng độ và mức độ, thƣờng xuyên phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên tại chỗ nhƣ: Lƣợng mƣa, khu vực sinh sản của muỗi và sự có mặt của loài muỗi truyền bệnh. Ngoài ra yếu tố xã hội cũng là một trong những yếu tố có tác động quan trọng tới quá trình lan truyền bệnh.
Có những vùng bệnh sốt rét lƣu hành quanh năm với số lƣợng bệnh nhân sốt rét 5 đƣợc phát hiện tƣơng đối ổn định ở các tháng trong năm. Trong khi đó, ở một số vùng bệnh nhân mắc sốt rét theo mùa và thƣờng tăng cao vào mùa mƣa [5]. Đặc điểm mầm bệnh (tác nhân gây bệnh) Ký sinh trùng sốt rét gây bệnh cho ngƣời có tên khoa học là Plasmodium thuộc họ Plasmodidea, một dạng đơn bào ký sinh trong máu. Có hơn 120 loài thuộc họ Plasmodidea đƣợc phát hiện ở động vật bò sát, chim, động vật có vú nhƣ chuột và linh trƣởng.
Ngƣời không nhiễm KSTSR của chim, động vật bò sát do có miễn dịch tự nhiên [13]. Chu kỳ sinh sản hữu tính của muỗi diễn ra theo 2 giai đoạn: Giai đoạn ở gan (còn gọi là giai đoạn tiền hồng cầu): Thoa trùng (Spozoite) của KSTSR ở trong tuyến nƣớc bọt của muỗi Anopheles cái truyền bệnh, khi muỗi đốt ngƣời sẽ truyền thoa trùng cho ngƣời. Sau 30 phút một bộ phận thoa trùng (thoát khỏi tác động miễn dịch của cơ thể) chui vào tế bào gan. Trong tế bào gan chúng lớn lên, phân chia và tạo thành thể phân liệt (Schizont) tiền hồng cầu.
Tế bào gan vỡ, giải phóng ra hàng ngàn thể phân cách gan (merozoit) vào mạch máu (P. Thể phân liệt vỡ và giải phóng các merozoit vào máu gây nên những cơn sốt tái phát xa. falciparum, tất cả các thoa trùng (Spozoite) vào gan và trƣởng thành phân chia thành merozoit rồi vào máu trong một thời gian tƣơng đối ngắn. ovale, một số thoa trùng không trƣởng thành ngay mà tồn tại ở dạng thể ngủ (gọi là hyprozoit), 1,2,3 đến 4,5,6 tháng hoặc lâu hơn mới trở thành merozoite, vào máu và gây nên những cơn sốt tái phát xa [6], [48].
Giai đoạn hồng cầu: Các ký sinh trùng non từ gan xâm nhập vào hồng cầu, lúc đầu là thể tƣ dƣỡng sau đó phát triển thành thể phân liệt (schizont) non rồi thể phân liệt già, phá vỡ hồng cầu giải phóng ra những ký sinh trùng non, lúc này tƣơng ứng với cơn sốt rét trên lâm sàng. Hầu hết những ký sinh trùng này quay lại ký sinh trong hồng cầu mới, còn một số biến hóa thành những thể hữu Thư viện ĐH Thăng Long 6 tính, đó là những giao bào đực và giao bào cái, những giao bào này nếu đƣợc muỗi Anopheles hút vào dạ dày sẽ tiếp tục phát triển trong cơ thể muỗi, nếu không đƣợc muỗi hút, giao bào ở lại trong máu rồi bị tiêu hủy [43], [44]. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Viện Sốt rét – KST – CT Trung ương [49] Hình 1. Chu kỳ phát triển của KSTSR [49] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) hiện có 5 loại Plasmodium gây bệnh cho ngƣời đã đƣợc ghi nhận (WHO, 2012), nghiêm trọng nhất là P.falciparum, số còn lại là P.
knowlesi có thể gây bệnh nhẹ hơn và thƣờng ít dẫn đến tử vong. Ở Việt Nam có 2 loài chủ yếu: P. falciparum chiếm 70 – 80%, thƣờng gây SR nặng, biến chứng và tử vong, tiếp đến là P. vivax chiếm 20 – 30%, gây sốt cách nhật, SR tái phát, P.
ovale có tỷ lệ thấp, P. knowlesi mới phát hiện (1995) [6], [12].