Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử ấu trùng, giun Gnathostoma spp 1. Lịch sử phát hiện ấu trùng, giun Gnathostoma spp Gnathostoma spp là loài giun sống ký sinh trong vách dạ dày của các loại động vật ăn thịt sống như chó, mèo, hổ, báo, sư tử, chồn, chim,. Năm 1836, Gnathostoma spp được tìm thấy trong một khối u vách dạ dày của một con hổ con đã chết tại vườn thú London và được Owen đặt tên là Gnathostoma spinigerum.
Tại Việt Nam, Gnathostoma spp được nói đến từ đầu thế kỷ XX. spinigerum được tìm thấy ở những u dưới niêm mạc dạ dày của 2,23% mèo ở Bắc bộ (Houdemer, 1938). Houdemer bắt được giun non ở dưới phúc mạc trên mặt những cột của cơ hoành một con mèo xiêm ở Hà Nội (1938), Bauche bắt được giun này ở dạ dày 1 con hổ ở Huế [37]. Lịch sử phát hiện giun đầu gai trên người Năm 1889, ca bệnh giun đầu gai đầu tiên ở người được phát hiện bởi bác sĩ Deutzer, Ông đã bắt được ấu trùng tại một nốt dưới da xung quanh vùng vú một phụ nữ người Thái Lan, ấu trùng này được Levinsen đặt tên là Cheiracanthus siamensis, và sau được xác định là G.
Bệnh giun đầu gai được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới như Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Lào, Đài Loan, Bangladesh, Pakistan và Israel. Bệnh Phổ biến nhất và có số ca chiếm tỷ lệ cao là ở Thái Lan, Nhật Bản [107]. Tại Việt Nam, ca đầu tiên được báo cáo năm 1965, bởi tác giả Lê Văn Hòa tại Sài Gòn. Bệnh nhân là một bé trai 4 tuổi ở Tây Ninh, nhập bệnh viện Bình Dân vì có 1 khối u ở mí mắt, tại đây Bác sỹ bắt được một con giun và giun này được định danh là ấu trùng giai đoạn 3 của G.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ký sinh trùng Gnathostoma spinigerum Về phân loại khoa học, giun Gnathostoma spp thuộc ngành Nematoda, lớp Secernentea, bộ Spirurida, phân bộ Spirurina, liên họ Spiruroidea, họ Gnathostomatidae, giống Gnathostoma và trong giống này có nhiều loài khác nhau [31], [77]. Giới Animalia Ngành Nematoda Lớp Secernentea Bộ Spirurida, phân bộ: Spirurina Liên họ Spiruroidea Họ Gnathostomatidae Giống Gnathostoma Loài G. spinigerum Tên khoa học Gnathostoma spinigerum Levinsen, 1889 Hình 1.1: Phân loại giun Gnathostoma spp Hình 1.2: Đầu Gnathostoma spp trưởng thành (x1000) (Nguồn: An Illustrated Book of Helminthic Zoonoses, 1991) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Giống Gnathotoma gồm nhiều loài, loài đầu tiên được Owen định danh năm 1836 là G.
spinigerum, đến nay có nhiều loài khác được phát hiện. Theo các tác giả Thái Lan thì có 23 loài, nhưng theo Miyazaky thì chỉ có 12 loài có những đặc điểm riêng biệt, còn những tên khác có thể là trùng lắp tên với những loài đã được phát hiện trước. Tác giả Daengsvang và Nawa cũng ghi nhận 12 loài. Theo Diaz JH ghi nhận 13 loài, trong đó 6 loài gây bệnh cho người [62].1: Số loài Gnathostoma spp được phát hiện [62] Báo Loài Gnathostoma Vật chủ TT Phân bố địa lý cáo ở đã được phát hiện trung gian người Chó mèo hoang 1 G.
binucleatum Trung và Nam Mỹ Có và chó mèo nuôi Heo hoang và có 2 G.doloresi Nhật Bản và Đông Nam Á Có thể là heo nuôi Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Heo hoang và 3 G. hispidum Có Đông Nam Á, Úc, Trung Mỹ heo nuôi 4 G. malaysiae Nhật Bản và Đông Nam Á Chuột Có 5 G. nipponicum Nhật Bản và Hàn Quốc Chồn Có Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Chó mèo hoang 6 G.
spinigerum Á, Ấn Độ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và Có và chó mèo nuôi Đông Phi (Botswana, Zambia) 7 G. didelphilis Bắc Mỹ Chồn Opossum Chưa 8 G. lamothei Bắc Mỹ và Trung Mỹ Gấu Trúc Đỏ Chưa 9 G. procyonis Bắc Mỹ và Trung Mỹ Gấu Trúc Đỏ Chưa 10 G.
miyazakii Nhật Bản, Đông Nam Á và Bắc Mỹ Rái Cá Chưa 11 G. socialis Bắc Mỹ Chồn nâu Chưa Chồn Opossum 12 G. turgidum Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ Chưa và gấu (Bắc Mỹ) 13 G. vietnamicum Trung Quốc, Đông Nam Á Rái cá Chưa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm hình thể của Gnathostoma spinigerum Giun trưởng thành: có màu nâu hơi đỏ, giống màu rỉ sét, thân mình hơi cong, đầu là một khối tròn, có 8 hàng gai - móc, giống gai hoa hồng, xếp thành hàng đồng tâm vòng quanh đầu. Đầu và thân giun cách nhau một rảnh cổ, tận cùng của phần đầu là miệng, miệng có hai môi (môi lưng và môi bụng) bao quanh và tiếp nối với thực quản. Phần ngay phía dưới đầu thót lại, tạo thành cổ. Điểm đặc biệt của G spinigerum là phần đầu có thể thụt sâu vào hõm cổ nên có những lúc không thấy được đầu giun.
spinigerum được bao phủ các gai cu-tin, gai gần cổ có kích thước rộng hơn, chân gai có 3 răng, những gai ở giữa thân hẹp hơn, chỉ có 1 răng, ở thân trước gai lớn, dày đặc. Càng về phía sau thân, gai thưa dần và nhỏ hơn, đến nửa thân sau thì không có gai phủ, phần sau cơ thể hơi cong về mặt bụng [34] [38] [77]. Giun đực dài 11 - 25mm, đuôi tù, hai gai giao hợp dài không bằng nhau, gai trái dài 1,2 mm, gai phải dài 0,42 mm. Giun cái dài 25 - 54 mm, rộng 1,2 mm, lỗ sinh dục cái nằm ở nửa sau cơ thể.
spinigerum đực Hình 1. spinigerum trưởng thành (Nguồn: An Illustrated Book of Helminthic Zoonoses, 1991) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4: Các móc gai phần đầu và đuôi G. spinigerum cái (Nguồn An Illustrated Book of Helminthic Zoonoses, 1991) Trứng: Có hình bầu dục, 2 lớp vỏ mỏng, bên trong chứa 1-2 tế bào phôi, một đầu có nắp nhô ra, kích thước trứng 0,06-0,07 x 0,036-0,040 mm.5: Hình thể trứng của giun G. spinigerum A: Trứng giun 1 phôi đang phân chia B: Trứng giun 04 phôi C: Trứng có ấu trùng (Nguồn: Parasitology today, 2016) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ấu trùng giai đoạn 3: Đầu là một khối tròn, miệng có hai môi hình bán nguyệt, tiếp theo lỗ miệng là thực quản và ruột có màu nâu, hậu môn ở phần bụng cuối cơ thể.
Túi cổ nhìn rõ ở vùng thực quản. Đầu có 4 hàng gai, mỗi gai có 1 móc nhọn, số lượng gai trung bình ở mỗi hàng là: 43,2mm ở hàng 1, 44,8mm ở hàng thứ 2, 46,7mm ở hàng thứ 3 và 52,3mm ở hàng thứ 4. Gai bao phủ 2/3 cơ thể về phía trước. Chiều dài từ 0,5 – 4mm, chiều rộng 0,19 – 0,23mm.
spinigerum giai đoạn 3 A, B: Ấu trùng giai đoạn 3 G. spinigerum C: Đầu ấu trùng G. spinigerum giai đoạn 3 với 4 hàng gai (Nguồn: Parasitology today, 2016) 1. Chu trình phát triển của G.
Chu trình phát triển ở vật chủ vĩnh viễn (vật chủ chính) Vòng đời của G. spinigerum được Prommas và Daengsvang mô tả vào năm 1933-1937, gồm một vật chủ vĩnh viễn (chó, mèo) và hai vật chủ trung gian. Vật chủ trung gian thứ nhất là loài giáp xác (Cyclops spp) và vật chủ trung gian thứ hai là cá nước ngọt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Giun trưởng thành sống trong các bướu ở thành dạ dày của vật chủ vĩnh viễn. Giun cái đẻ trứng ở vách dạ dày, trứng rơi vào lòng dạ dày qua lỗ của bướu, được thải ra ngoại cảnh theo phân.
Khi trứng gặp nước, trứng nở ra ấu trùng giai đoạn 1 trong vòng 7 ngày và sau đó ấu trùng sẽ được Cyclops spp nuốt. Trong cơ thể giáp xác này, ấu trùng phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2, có đầu phình mang 4 hàng gai. Khi Cyclops spp bị vật chủ trung gian thứ II (cá, lươn, ếch, chim và bò sát), ấu trùng giai đoạn 2 được giải phóng trong ruột. Chúng di chuyển qua các mô, đóng nang trong cơ của vật chủ này, và phát triển thành ấu trùng giai đoạn 3 có khả năng gây nhiễm.
Khi được ăn bởi một vật chủ vĩnh viễn thích hợp (chẳng hạn như mèo và chó), ấu trùng được giải phóng trong đường tiêu hóa, từ đó chúng di chuyển đến gan và khoang bụng. Sau khoảng 4 tuần, chúng trở lại dạ dày, xâm lấn vào thành dạ dày, nơi đây, chúng tạo ra một khối u, có một lỗ để trứng có thể được thoát xuống dạ dày. Tại đây, chúng phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian cần để hoàn thành vòng đời thường trong khoảng 6 tháng.
Giun cái đẻ trứng và trứng được thải ra môi trường theo phân của vật chủ khoảng 8 đến 12 tháng sau khi vật chủ vĩnh viễn nuốt phải ấu trùng giai đoạn ba. [57] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.7: Vòng đời của Gnathostoma spp (Nguồn CDC - USA) Chú thích hình: 1. Trứng hình thành phôi khi ở trong môi trường nước và phóng thích ra ấu trùng giai đoạn 1 2. Ấu trùng thoát ra khỏi vỏ trứng 3.
Các loài giáp xác nhỏ (Cyclops, vật chủ trung gian I), ăn phải ấu trùng giai đoạn 1 sẽ phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các loài giáp xác Cyclops nhiễm ấu trùng giai đoạn 2 bị cá, ếch hoặc rắn (vật chủ trung gian II) tiêu hóa, ấu trùng giai đoạn 2 sẽ di chuyển vào cơ và phát triển thành ấu trùng giai đoạn 3 5. Khi vật chủ trung gian II bị tiêu hóa bởi vật chủ chính, ấu trùng giai đoạn 3 phát triển thành con trưởng thành trong thành dạ dày 6. Các vật chủ trung gian II có thể bị ăn bởi các vật chủ như chim, rắn và ếch, trong đó ấu trùng giai đoạn 3 không phát triển thêm nhưng vẫn gây nhiễm cho các động vật ăn thịt tiếp theo 7.
Người bị nhiễm do ăn phải cá nấu chưa chín hoặc gia cầm chưa chín chứa ấu trùng giai đoạn 3 hoặc nguồn nước nhiễm ấu trùng giai đoạn 2 trong các giáp xác Cyclops 1. Sự phát triển ở người Nếu ấu trùng giai đoạn 3 nằm trong vật chủ trung gian II bị ăn bởi các động vật không phải là vật chủ vĩnh viễn (vật chủ chính) trong đó có người, thì ấu trùng 3 vào đến dạ dày cũng thoát nang, xuyên qua thành ruột đến cơ và các cơ quan khác. Trong tự nhiên, hiện tượng này rất phổ biến. Trong cơ thể của những vật chủ này được gọi là vật chủ chờ thời, ấu trùng giai đoạn 3 không phát triển, không thay đổi hình dạng, không thể trưởng thành được.
Ở người, ấu trùng cũng không thể trưởng thành được, đôi khi có thể lớn lên đôi chút thành giun non, chúng ta gọi tình trạng này là giun rơi vào ngõ cụt ký sinh. Trong vòng 48 giờ sau khi ăn vào, ấu trùng xâm nhập vào thành dạ dày hoặc ruột non, dẫn đến hình thành triệu chứng tại chỗ và tăng bạch cầu ái toan (BCAT).