Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng kết quả điều trị bệnh do gnathostoma spp định danh mầm bệnh trên người và vật chủ trung gian tại phía nam việt nam 2016 2017

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng kết quả điều trị bệnh do gnathostoma spp định danh, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Ký sinh trùng y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

180
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử ấu trùng, giun Gnathostoma spp

1.2. Lịch sử phát hiện ấu trùng, giun Gnathostoma spp

1.3. Ký sinh trùng Gnathostoma spinigerum

1.4. Đặc điểm hình thể của Gnathostoma spinigerum

1.5. Chu trình phát triển của Gnathostoma spinigerum

1.6. Đặc điểm dịch tễ học

1.7. Phân bố trên thế giới

1.8. Phân bố tại Việt Nam

1.9. Sinh bệnh học

1.10. Triệu chứng lâm sàng

1.11. Triệu chứng cận lâm sàng

1.12. Chẩn đoán bệnh giun đầu gai

1.13. Chẩn đoán phân biệt

1.14. Điều trị bệnh giun đầu gai

1.15. Điều trị nội khoa. Điều trị ngoại khoa

1.16. Phòng bệnh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu 1 và 2: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh do Gnathostoma spp trên người tại phía Nam Việt Nam (2016-2017). Đánh giá kết quả điều trị bệnh do Gnathostoma spp bằng ivermectin tại điểm nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Nội dung nghiên cứu

2.6. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.7. Các biến số và chỉ số đánh giá

2.8. Phương pháp xử lý số liệu

2.9. Mục tiêu 3: Xác định loài Gnathostoma spp gây bệnh cho người và vật chủ trung gian bằng phương pháp hình thái học và sinh học phân tử

2.10. Đối tượng nghiên cứu

2.11. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.12. Phương pháp nghiên cứu

2.13. Nội dung nghiên cứu

2.14. Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.15. Các chỉ số đánh giá

2.16. Phương pháp xử lý số liệu

2.17. Sai số và biện pháp hạn chế sai số

2.18. Đạo đức trong nghiên cứu

2.19. Sự phê duyệt Hội đồng Khoa học và Đạo đức y sinh

2.20. Cam kết tham gia nghiên cứu thông qua

2.21. Bảo mật thông tin và số liệu

2.22. Dịch vụ chăm sóc y tế

2.23. Sự khích lệ và động viên đối tượng tham gia hoàn tất theo dõi

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng & cận lâm sàng bệnh do Gnathostoma spp trên người tại phía Nam Việt Nam (2016-2017)

3.2. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

3.3. Các yếu tố nguy cơ

3.4. Đặc điểm lâm sàng

3.5. Đặc điểm cận lâm sàng

3.6. Đánh giá kết quả điều trị bệnh do Gnathostoma spp bằng ivermectin tại điểm nghiên cứu

3.7. So sánh sự thay đổi về lâm sàng trước (n=112) và sau điều trị 2 tháng (n=107) trên bệnh nhân nghiên cứu

3.8. So sánh sự thay đổi về cận lâm sàng trước và sau điều trị 2 tháng trên bệnh nhân nghiên cứu

3.9. So sánh sự thay đổi về lâm sàng trước và sau điều trị 6 tháng trên bệnh nhân nghiên cứu

3.10. So sánh sự thay đổi về cận lâm sàng trước (n=112) và sau điều trị 6 tháng (n=102) trên bệnh nhân nghiên cứu

3.11. Đánh giá tác dụng không mong muốn của ivermectin

3.12. Xác định loài Gnathostoma spp trên người và vật chủ trung gian bằng phương pháp hình thái học & sinh học phân tử

3.13. Xác định loài Gnathostoma spp trên vật chủ trung gian

3.14. Định danh ấu trùng giun Gnathostoma spp bằng hình thái học

3.15. Định danh ấu trùng giun Gnathostoma spp bằng sinh học phân tử

3.16. Kết quả giải trình tự gen định loài giun đầu gai Gnathostoma spp bằng gen 5.8S rRNA-ITS2 đặc hiệu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng & cận lâm sàng bệnh do Gnathostoma spp trên người tại phía Nam Việt Nam (2016-2017)

4.2. Đặc điểm hành chính

4.3. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố nguy cơ

4.4. Về triệu chứng cận lâm sàng ở bệnh nhân mắc Gnathostoma

4.5. Đánh giá kết quả điều trị bệnh do Gnathostoma spp bằng ivermectin tại điểm nghiên cứu

4.6. Triệu chứng lâm sàng trên từng cơ quan sau điều trị

4.7. Triệu chứng cận lâm sàng sau điều trị

4.8. Một số tác dụng không mong muốn của ivermectin

4.9. Xác định loài Gnathostoma spp trên người và vật chủ trung gian bằng phương pháp hình thái học & sinh học phân tử

4.10. Xác định loài Gnathostoma spp Trên vật chủ trung gian

4.11. Xác định loài giun đầu gai Gnathostoma spp trên bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh do Gnathostoma spp tại Việt Nam

Bệnh do Gnathostoma spp là một bệnh ký sinh trùng nghiêm trọng, lây nhiễm qua thực phẩm. Tại Việt Nam, bệnh này đã được ghi nhận từ những năm 1965 và có xu hướng gia tăng. Các loài Gnathostoma chủ yếu gây bệnh cho người bao gồm Gnathostoma spinigerum. Bệnh thường gặp ở những người có thói quen ăn thực phẩm sống hoặc chưa được nấu chín. Việc hiểu rõ về bệnh này là cần thiết để nâng cao nhận thức và cải thiện chẩn đoán.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh Gnathostomiasis

Triệu chứng lâm sàng của bệnh Gnathostomiasis rất đa dạng, bao gồm đau bụng, sốt, và nổi mẩn ngứa. Các triệu chứng này có thể kéo dài và gây khó khăn trong việc chẩn đoán. Nhiều bệnh nhân có thể gặp phải hội chứng ấu trùng di chuyển ngoài da, gây ra sự lo lắng và khó chịu.

1.2. Nguyên nhân và cách lây nhiễm bệnh Gnathostoma

Bệnh do Gnathostoma spp lây nhiễm chủ yếu qua việc tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm ấu trùng. Các loài thủy sản như cá, lươn, và ếch là những nguồn lây nhiễm chính. Việc ăn thực phẩm sống hoặc chưa được nấu chín làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

II. Thách thức trong chẩn đoán bệnh do Gnathostoma spp

Chẩn đoán bệnh do Gnathostoma spp gặp nhiều khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu và dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. Nhiều bác sĩ lâm sàng chưa quen thuộc với bệnh này, dẫn đến việc chẩn đoán sai hoặc chậm trễ. Điều này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân.

2.1. Những khó khăn trong việc nhận diện triệu chứng

Triệu chứng của bệnh Gnathostomiasis có thể tương tự như các bệnh khác như dị ứng hoặc nhiễm trùng. Điều này làm cho việc chẩn đoán trở nên phức tạp và dễ bị bỏ sót.

2.2. Thiếu kiến thức về bệnh trong cộng đồng y tế

Nhiều bác sĩ và nhân viên y tế chưa được đào tạo đầy đủ về bệnh do Gnathostoma spp. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán sai và điều trị không hiệu quả, ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân.

III. Phương pháp điều trị bệnh do Gnathostoma spp hiệu quả

Điều trị bệnh do Gnathostoma spp thường bao gồm việc sử dụng thuốc kháng sinh và thuốc chống ký sinh trùng như ivermectin. Việc điều trị sớm và đúng cách có thể giúp giảm thiểu triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng.

3.1. Sử dụng ivermectin trong điều trị

Ivermectin là thuốc chính được sử dụng để điều trị bệnh Gnathostomiasis. Nghiên cứu cho thấy thuốc này có hiệu quả cao trong việc tiêu diệt ấu trùng và giảm triệu chứng lâm sàng.

3.2. Các phương pháp điều trị hỗ trợ khác

Ngoài việc sử dụng ivermectin, các phương pháp điều trị hỗ trợ như điều trị triệu chứng và chăm sóc dinh dưỡng cũng rất quan trọng. Điều này giúp cải thiện tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân.

IV. Kết quả nghiên cứu về bệnh do Gnathostoma spp tại Việt Nam

Nghiên cứu về bệnh do Gnathostoma spp tại Việt Nam đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng. Các kết quả cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức và cải thiện các biện pháp phòng ngừa. Việc xác định loài Gnathostoma gây bệnh cũng rất quan trọng để có phương pháp điều trị hiệu quả.

4.1. Tỷ lệ mắc bệnh và đặc điểm bệnh nhân

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh Gnathostomiasis cao hơn ở những người có thói quen ăn thực phẩm sống. Đặc điểm bệnh nhân cũng cho thấy sự đa dạng về độ tuổi và giới tính.

4.2. Đánh giá hiệu quả điều trị

Kết quả điều trị cho thấy ivermectin có hiệu quả cao trong việc giảm triệu chứng và cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Tuy nhiên, cần theo dõi các tác dụng phụ có thể xảy ra.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về bệnh do Gnathostoma spp

Bệnh do Gnathostoma spp là một vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được chú ý. Việc nâng cao nhận thức và cải thiện chẩn đoán là rất quan trọng. Tương lai cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về bệnh và phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức về bệnh Gnathostomiasis trong cộng đồng và giới y tế là rất cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định các yếu tố nguy cơ và phát triển các phương pháp điều trị mới cho bệnh do Gnathostoma spp.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử ấu trùng, giun Gnathostoma spp 1. Lịch sử phát hiện ấu trùng, giun Gnathostoma spp Gnathostoma spp là loài giun sống ký sinh trong vách dạ dày của các loại động vật ăn thịt sống như chó, mèo, hổ, báo, sư tử, chồn, chim,. Năm 1836, Gnathostoma spp được tìm thấy trong một khối u vách dạ dày của một con hổ con đã chết tại vườn thú London và được Owen đặt tên là Gnathostoma spinigerum.

Tại Việt Nam, Gnathostoma spp được nói đến từ đầu thế kỷ XX. spinigerum được tìm thấy ở những u dưới niêm mạc dạ dày của 2,23% mèo ở Bắc bộ (Houdemer, 1938). Houdemer bắt được giun non ở dưới phúc mạc trên mặt những cột của cơ hoành một con mèo xiêm ở Hà Nội (1938), Bauche bắt được giun này ở dạ dày 1 con hổ ở Huế [37]. Lịch sử phát hiện giun đầu gai trên người Năm 1889, ca bệnh giun đầu gai đầu tiên ở người được phát hiện bởi bác sĩ Deutzer, Ông đã bắt được ấu trùng tại một nốt dưới da xung quanh vùng vú một phụ nữ người Thái Lan, ấu trùng này được Levinsen đặt tên là Cheiracanthus siamensis, và sau được xác định là G.

Bệnh giun đầu gai được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới như Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Lào, Đài Loan, Bangladesh, Pakistan và Israel. Bệnh Phổ biến nhất và có số ca chiếm tỷ lệ cao là ở Thái Lan, Nhật Bản [107]. Tại Việt Nam, ca đầu tiên được báo cáo năm 1965, bởi tác giả Lê Văn Hòa tại Sài Gòn. Bệnh nhân là một bé trai 4 tuổi ở Tây Ninh, nhập bệnh viện Bình Dân vì có 1 khối u ở mí mắt, tại đây Bác sỹ bắt được một con giun và giun này được định danh là ấu trùng giai đoạn 3 của G.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ký sinh trùng Gnathostoma spinigerum Về phân loại khoa học, giun Gnathostoma spp thuộc ngành Nematoda, lớp Secernentea, bộ Spirurida, phân bộ Spirurina, liên họ Spiruroidea, họ Gnathostomatidae, giống Gnathostoma và trong giống này có nhiều loài khác nhau [31], [77]. Giới Animalia Ngành Nematoda Lớp Secernentea Bộ Spirurida, phân bộ: Spirurina Liên họ Spiruroidea Họ Gnathostomatidae Giống Gnathostoma Loài G. spinigerum Tên khoa học Gnathostoma spinigerum Levinsen, 1889 Hình 1.1: Phân loại giun Gnathostoma spp Hình 1.2: Đầu Gnathostoma spp trưởng thành (x1000) (Nguồn: An Illustrated Book of Helminthic Zoonoses, 1991) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Giống Gnathotoma gồm nhiều loài, loài đầu tiên được Owen định danh năm 1836 là G.

spinigerum, đến nay có nhiều loài khác được phát hiện. Theo các tác giả Thái Lan thì có 23 loài, nhưng theo Miyazaky thì chỉ có 12 loài có những đặc điểm riêng biệt, còn những tên khác có thể là trùng lắp tên với những loài đã được phát hiện trước. Tác giả Daengsvang và Nawa cũng ghi nhận 12 loài. Theo Diaz JH ghi nhận 13 loài, trong đó 6 loài gây bệnh cho người [62].1: Số loài Gnathostoma spp được phát hiện [62] Báo Loài Gnathostoma Vật chủ TT Phân bố địa lý cáo ở đã được phát hiện trung gian người Chó mèo hoang 1 G.

binucleatum Trung và Nam Mỹ Có và chó mèo nuôi Heo hoang và có 2 G.doloresi Nhật Bản và Đông Nam Á Có thể là heo nuôi Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Heo hoang và 3 G. hispidum Có Đông Nam Á, Úc, Trung Mỹ heo nuôi 4 G. malaysiae Nhật Bản và Đông Nam Á Chuột Có 5 G. nipponicum Nhật Bản và Hàn Quốc Chồn Có Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Chó mèo hoang 6 G.

spinigerum Á, Ấn Độ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và Có và chó mèo nuôi Đông Phi (Botswana, Zambia) 7 G. didelphilis Bắc Mỹ Chồn Opossum Chưa 8 G. lamothei Bắc Mỹ và Trung Mỹ Gấu Trúc Đỏ Chưa 9 G. procyonis Bắc Mỹ và Trung Mỹ Gấu Trúc Đỏ Chưa 10 G.

miyazakii Nhật Bản, Đông Nam Á và Bắc Mỹ Rái Cá Chưa 11 G. socialis Bắc Mỹ Chồn nâu Chưa Chồn Opossum 12 G. turgidum Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ Chưa và gấu (Bắc Mỹ) 13 G. vietnamicum Trung Quốc, Đông Nam Á Rái cá Chưa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đặc điểm hình thể của Gnathostoma spinigerum Giun trưởng thành: có màu nâu hơi đỏ, giống màu rỉ sét, thân mình hơi cong, đầu là một khối tròn, có 8 hàng gai - móc, giống gai hoa hồng, xếp thành hàng đồng tâm vòng quanh đầu. Đầu và thân giun cách nhau một rảnh cổ, tận cùng của phần đầu là miệng, miệng có hai môi (môi lưng và môi bụng) bao quanh và tiếp nối với thực quản. Phần ngay phía dưới đầu thót lại, tạo thành cổ. Điểm đặc biệt của G spinigerum là phần đầu có thể thụt sâu vào hõm cổ nên có những lúc không thấy được đầu giun.

spinigerum được bao phủ các gai cu-tin, gai gần cổ có kích thước rộng hơn, chân gai có 3 răng, những gai ở giữa thân hẹp hơn, chỉ có 1 răng, ở thân trước gai lớn, dày đặc. Càng về phía sau thân, gai thưa dần và nhỏ hơn, đến nửa thân sau thì không có gai phủ, phần sau cơ thể hơi cong về mặt bụng [34] [38] [77]. Giun đực dài 11 - 25mm, đuôi tù, hai gai giao hợp dài không bằng nhau, gai trái dài 1,2 mm, gai phải dài 0,42 mm. Giun cái dài 25 - 54 mm, rộng 1,2 mm, lỗ sinh dục cái nằm ở nửa sau cơ thể.

spinigerum đực Hình 1. spinigerum trưởng thành (Nguồn: An Illustrated Book of Helminthic Zoonoses, 1991) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4: Các móc gai phần đầu và đuôi G. spinigerum cái (Nguồn An Illustrated Book of Helminthic Zoonoses, 1991) Trứng: Có hình bầu dục, 2 lớp vỏ mỏng, bên trong chứa 1-2 tế bào phôi, một đầu có nắp nhô ra, kích thước trứng 0,06-0,07 x 0,036-0,040 mm.5: Hình thể trứng của giun G. spinigerum A: Trứng giun 1 phôi đang phân chia B: Trứng giun 04 phôi C: Trứng có ấu trùng (Nguồn: Parasitology today, 2016) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ấu trùng giai đoạn 3: Đầu là một khối tròn, miệng có hai môi hình bán nguyệt, tiếp theo lỗ miệng là thực quản và ruột có màu nâu, hậu môn ở phần bụng cuối cơ thể.

Túi cổ nhìn rõ ở vùng thực quản. Đầu có 4 hàng gai, mỗi gai có 1 móc nhọn, số lượng gai trung bình ở mỗi hàng là: 43,2mm ở hàng 1, 44,8mm ở hàng thứ 2, 46,7mm ở hàng thứ 3 và 52,3mm ở hàng thứ 4. Gai bao phủ 2/3 cơ thể về phía trước. Chiều dài từ 0,5 – 4mm, chiều rộng 0,19 – 0,23mm.

spinigerum giai đoạn 3 A, B: Ấu trùng giai đoạn 3 G. spinigerum C: Đầu ấu trùng G. spinigerum giai đoạn 3 với 4 hàng gai (Nguồn: Parasitology today, 2016) 1. Chu trình phát triển của G.

Chu trình phát triển ở vật chủ vĩnh viễn (vật chủ chính) Vòng đời của G. spinigerum được Prommas và Daengsvang mô tả vào năm 1933-1937, gồm một vật chủ vĩnh viễn (chó, mèo) và hai vật chủ trung gian. Vật chủ trung gian thứ nhất là loài giáp xác (Cyclops spp) và vật chủ trung gian thứ hai là cá nước ngọt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Giun trưởng thành sống trong các bướu ở thành dạ dày của vật chủ vĩnh viễn. Giun cái đẻ trứng ở vách dạ dày, trứng rơi vào lòng dạ dày qua lỗ của bướu, được thải ra ngoại cảnh theo phân.

Khi trứng gặp nước, trứng nở ra ấu trùng giai đoạn 1 trong vòng 7 ngày và sau đó ấu trùng sẽ được Cyclops spp nuốt. Trong cơ thể giáp xác này, ấu trùng phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2, có đầu phình mang 4 hàng gai. Khi Cyclops spp bị vật chủ trung gian thứ II (cá, lươn, ếch, chim và bò sát), ấu trùng giai đoạn 2 được giải phóng trong ruột. Chúng di chuyển qua các mô, đóng nang trong cơ của vật chủ này, và phát triển thành ấu trùng giai đoạn 3 có khả năng gây nhiễm.

Khi được ăn bởi một vật chủ vĩnh viễn thích hợp (chẳng hạn như mèo và chó), ấu trùng được giải phóng trong đường tiêu hóa, từ đó chúng di chuyển đến gan và khoang bụng. Sau khoảng 4 tuần, chúng trở lại dạ dày, xâm lấn vào thành dạ dày, nơi đây, chúng tạo ra một khối u, có một lỗ để trứng có thể được thoát xuống dạ dày. Tại đây, chúng phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian cần để hoàn thành vòng đời thường trong khoảng 6 tháng.

Giun cái đẻ trứng và trứng được thải ra môi trường theo phân của vật chủ khoảng 8 đến 12 tháng sau khi vật chủ vĩnh viễn nuốt phải ấu trùng giai đoạn ba. [57] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.7: Vòng đời của Gnathostoma spp (Nguồn CDC - USA) Chú thích hình: 1. Trứng hình thành phôi khi ở trong môi trường nước và phóng thích ra ấu trùng giai đoạn 1 2. Ấu trùng thoát ra khỏi vỏ trứng 3.

Các loài giáp xác nhỏ (Cyclops, vật chủ trung gian I), ăn phải ấu trùng giai đoạn 1 sẽ phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các loài giáp xác Cyclops nhiễm ấu trùng giai đoạn 2 bị cá, ếch hoặc rắn (vật chủ trung gian II) tiêu hóa, ấu trùng giai đoạn 2 sẽ di chuyển vào cơ và phát triển thành ấu trùng giai đoạn 3 5. Khi vật chủ trung gian II bị tiêu hóa bởi vật chủ chính, ấu trùng giai đoạn 3 phát triển thành con trưởng thành trong thành dạ dày 6. Các vật chủ trung gian II có thể bị ăn bởi các vật chủ như chim, rắn và ếch, trong đó ấu trùng giai đoạn 3 không phát triển thêm nhưng vẫn gây nhiễm cho các động vật ăn thịt tiếp theo 7.

Người bị nhiễm do ăn phải cá nấu chưa chín hoặc gia cầm chưa chín chứa ấu trùng giai đoạn 3 hoặc nguồn nước nhiễm ấu trùng giai đoạn 2 trong các giáp xác Cyclops 1. Sự phát triển ở người Nếu ấu trùng giai đoạn 3 nằm trong vật chủ trung gian II bị ăn bởi các động vật không phải là vật chủ vĩnh viễn (vật chủ chính) trong đó có người, thì ấu trùng 3 vào đến dạ dày cũng thoát nang, xuyên qua thành ruột đến cơ và các cơ quan khác. Trong tự nhiên, hiện tượng này rất phổ biến. Trong cơ thể của những vật chủ này được gọi là vật chủ chờ thời, ấu trùng giai đoạn 3 không phát triển, không thay đổi hình dạng, không thể trưởng thành được.

Ở người, ấu trùng cũng không thể trưởng thành được, đôi khi có thể lớn lên đôi chút thành giun non, chúng ta gọi tình trạng này là giun rơi vào ngõ cụt ký sinh. Trong vòng 48 giờ sau khi ăn vào, ấu trùng xâm nhập vào thành dạ dày hoặc ruột non, dẫn đến hình thành triệu chứng tại chỗ và tăng bạch cầu ái toan (BCAT).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ