Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tài nguyên rừng giữ vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, cân bằng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp lâm sản. Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên tại Việt Nam đã trải qua giai đoạn suy thoái đáng kể. Theo số liệu của Mauran (1943), tổng diện tích rừng Việt Nam từng đạt 14,3 triệu ha, nhưng đến giai đoạn 1992 - 1993 theo số liệu của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng chỉ còn 9,3 triệu ha (giảm 5 triệu ha sau 50 năm, trung bình mỗi năm giảm 100.000 ha). Rừng bị thu hẹp diện tích, chia cắt manh mún và suy giảm chất lượng nghiêm trọng.
Nhằm phục hồi diện tích rừng, nhiều chương trình và dự án lâm nghiệp đã được triển khai như Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Dự án 327, Chương trình 661 và các dự án hợp tác quốc tế (Việt Nam - Hà Lan). Mặc dù vậy, công tác phát triển rừng trong giai đoạn trước đây chủ yếu tập trung vào các loài cây sinh trưởng nhanh như Keo, Bạch đàn, Mỡ, trong khi các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao chưa được nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm cấu trúc lâm phần, sinh vật học và sinh thái học.
Nghiến (Excentrodendron tonkinense (Gagnep) Chang & Miau, 1978) là loài cây gỗ lớn thuộc họ Đay (Tiliaceae), bộ Bông (Malvales), thuộc nhóm gỗ quý hiếm (nhóm II). Gỗ Nghiến có màu nâu đỏ, thớ thẳng, vân đẹp, độ cứng cao và ít co rút, được sử dụng trong xây dựng, đóng thuyền, làm bệ máy và đồ mỹ nghệ. Loài phân bố đặc trưng trên các dãy núi đá vôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hòa Bình, Sơn La. Tại Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Nghiến phân bố tự nhiên rải rác nhưng số lượng cá thể suy giảm do tác động khai thác của người dân địa phương và tình trạng khai thác trái phép. Đồng thời, việc xúc tiến tái sinh tự nhiên còn gặp nhiều khó khăn do thiếu các dữ liệu nghiên cứu về đặc điểm lâm học và quy luật kết cấu rừng tự nhiên.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Cung cấp thông tin về đặc điểm lâm học cơ bản của loài Nghiến tại VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này tại địa phương và Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định những đặc điểm cơ bản về hình thái và vật hậu của loài Nghiến tại Ba Bể.
- Xác định một số đặc điểm sinh thái, phân bố và đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Nghiến tại khu vực nghiên cứu.
- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Nghiến ở Ba Bể và Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Nghiến (Excentrodendron tonkinense (Gagnep) Chang & Miau, 1978).
- Phạm vi không gian: Các trạng thái rừng tự nhiên trên núi đá vôi thuộc địa giới hành chính Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (tập trung tại các xã Nam Mẫu, Khang Ninh và Cao Thượng).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được hoàn thành và bảo vệ năm 2015, dựa trên số liệu điều tra thực địa ngoại nghiệp và các tài liệu kế thừa về quy hoạch rừng giai đoạn 2011 - 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và tổng quan học thuật
Khóa luận vận dụng các lý thuyết cơ bản trong lâm học nhiệt đới:
- Lý thuyết về cấu trúc tầng thứ và phân tầng rừng nhiệt đới của Davis và Richards (1933 - 1934), Cousens (1951), Champion và Griffith (1948), Richards (1952, 1968) và Baur (1962).
- Lý thuyết về quá trình tái sinh tự nhiên và ảnh hưởng của hoàn cảnh rừng (ánh sáng, độ tàn che) đến cây con của Van Steenis (1956).
- Kế thừa các công trình nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài cây gỗ bản địa ở Việt Nam: nghiên cứu Lát hoa của Nguyễn Bá Chất (1996), Phỉ ba múi của Trần Minh Tuấn (1997), Chò đãi của Vũ Văn Cần (1997), Dẻ ăn quả của Nguyễn Thanh Bình (2003), Trai lý của Lê Phương Triều (2003), Căm xe của Vương Hữu Nhị (2003), Dẻ anh của Nguyễn Toàn Thắng (2008), Vối thuốc của Hoàng Văn Chúc (2009) và các công bố về Nghiến tại vùng núi đá vôi Hòa Bình của Phạm Quang Tùng.
Phương pháp nghiên cứu thực địa
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa các tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo đa dạng sinh học và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng VQG Ba Bể.
- Phương pháp lập tuyến điều tra: Bố trí 3 tuyến điều tra xuyên qua các khu vực phân bố của loài Nghiến, chạy song song với đường đồng mức, bề rộng tuyến là 1 m:
- Tuyến 1 (Nam Mẫu): Chiều dài 1.500 m, độ cao 415 m.
- Tuyến 2 (Khang Ninh): Chiều dài 1.200 m, độ cao 350 m.
- Tuyến 3 (Cao Thượng): Chiều dài 1.300 m, độ cao 560 m.
- Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình: Lập các OTC diện tích 1.000 m² (kích thước 40 m x 25 m) tại các trạng thái rừng đại diện bằng địa bàn cầm tay và thước dây (sai số khép kín cho phép 1/200).
- Phương pháp điều tra tầng cây cao:
- Xác định tên loài cây (tên Việt Nam và tên khoa học).
- Đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) tại vị trí 1,3 m bằng thước kẹp kính vạch cm.
- Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao hoặc sào khắc vạch 10 cm.
- Đo độ tàn che của tán rừng bằng thước ngắm quang học thẳng đứng tại xấp xỉ 200 điểm phân bố đều trong OTC (gặp tán ghi 1, mép tán ghi 0,5, không gặp tán ghi 0).
- Phương pháp điều tra cây tái sinh và tầng thảm tươi, cây bụi:
- Trong mỗi OTC, bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m x 5 m) theo phương pháp hệ thống (1 ô ở tâm và 4 ô ở 4 góc).
- Cây tái sinh: Điều tra các cá thể thân gỗ có đường kính $D < 6$ cm; phân chia theo 2 cấp chiều cao ($H_{vn} < 1$ m và $H_{vn} > 1$ m); xác định nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi); đánh giá chất lượng sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu).
- Cây bụi và thảm tươi: Xác định thành phần loài, đo chiều cao bình quân và ước lượng tỷ lệ che phủ (%).
- Phương pháp phỏng vấn cộng đồng: Sử dụng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc với 10 người gồm người dân bản địa, cán bộ lâm nghiệp và kiểm lâm về tri thức bản địa, hiện trạng khai thác và phân bố của cây Nghiến.
Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
- Mật độ cây tái sinh ($N/\text{ha}$):
$$N/\text{ha} = \frac{10.000 \times n}{S_{di}}$$
(Trong đó $n$ là tổng số cây tái sinh điều tra được trong các ODB; $S_{di}$ là tổng diện tích các ODB tính bằng m²).
- Tổ thành loài tầng cây cao và tầng tái sinh:
- Xác định ngưỡng tham gia công thức tổ thành: $X = \frac{N}{m}$ ($N$ là tổng số cây, $m$ là tổng số loài). Chỉ các loài có số lượng $n_i \ge X$ mới được đưa vào công thức tổ thành.
- Hệ số tổ thành loài ($k_i$): $k_i = \frac{n_i}{N} \times 10$.
- Quy ước viết công thức tổ thành (CTTT): Loài có $k_i \ge 1$ viết hệ số trước ký hiệu tên loài; $0,5 \le k_i < 1$ ghi dấu $(+)$; $k_i < 0,5$ ghi dấu $(-)$; các loài có số cá thể nhỏ hơn trung bình được gộp vào nhóm loài khác (LK).
- Phân loại trạng thái rừng: Dựa trên hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1999).
- Phần mềm xử lý: Thống kê toán học lâm nghiệp trên máy vi tính ứng dụng phần mềm Excel 5.0 theo hướng dẫn của Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi (1996).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tổng quan về thực trạng tài nguyên rừng Việt Nam, giá trị kinh tế và sinh thái của cây Nghiến (Excentrodendron tonkinense), sự cần thiết của việc nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Nghiến tại VQG Ba Bể, cùng mục tiêu và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước: Tổng thuật các công trình nghiên cứu về phân loại thực vật, sinh thái cá thể, cấu trúc tầng thứ, tái sinh rừng nhiệt đới và các nghiên cứu chuyên sâu về các loài cây gỗ bản địa ở Việt Nam.
- Tổng quan khu vực nghiên cứu (VQG Ba Bể):
- Điều kiện tự nhiên: VQG Ba Bể có tổng diện tích 44.750 ha (vùng lõi 10.048 ha gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.931 ha, phục hồi sinh thái 6.083 ha, hành chính dịch vụ 34 ha; vùng đệm 34.702 ha). Tọa độ địa lý từ 22°21'11" đến 22°25' vĩ Bắc, 105°36' đến 105°38'59" kinh Đông. Địa hình núi đá vôi phân cắt mạnh, độ cao từ 150 m đến 1.500 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22°C (cao nhất 39°C, thấp nhất 0,6°C), lượng mưa trung bình 1.378 mm/năm, độ ẩm 83,3%. Thủy văn nổi bật với Hồ Ba Bể diện tích mặt nước 301 ha (hoặc 450 ha lưu vực mặt hồ), nằm ở độ cao 150 m.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Có 11.007 hộ sinh sống tại 55 thôn bản thuộc 6 xã, gồm 5 dân tộc chính (Tày, Dao, Nùng, Kinh, Mông); tỷ lệ hộ nghèo chiếm 50%; đời sống phụ thuộc nhiều vào khai thác lâm sản.
- Khu hệ thực vật: Ghi nhận 1.268 loài thực vật bậc cao có mạch; tồn tại các kiểu phụ thảm thực vật như rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi (độ cao 400 - 1.000 m), rừng trên núi đất (700 - 1.500 m), trảng cây bụi và rừng tre nứa ven sông suối.
Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
Quy định rõ đối tượng nghiên cứu là loài Nghiến; xác định 4 nội dung nghiên cứu (hình thái - vật hậu, đặc điểm sinh thái, đặc điểm tái sinh tự nhiên, đề xuất giải pháp); chi tiết hóa phương pháp điều tra thực địa trên 3 tuyến, lập các OTC điển hình 1.000 m², hệ thống 5 ODB 25 m² và các công thức toán học lâm nghiệp xử lý số liệu.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
- Đặc điểm hình thái và vật hậu học:
- Thân và vỏ: Cây gỗ lớn thường xanh, thân thẳng, phân cành cao, gốc có bạnh vè lớn. Chiều cao vút ngọn đạt 33 - 40 m, đường kính ngang ngực đạt 80 - 115 cm. Vỏ thân nứt nẻ sần sùi; cành non nhẵn không lông, chuyển sần sùi khi già.
- Lá: Lá đơn mọc cách, phiến hình trứng rộng kích thước 10 - 12 cm x 7 - 10 cm, mép nguyên, cuống lá dài 3 - 5 cm (không phình). Gân bên có 5 - 7 đôi, trong đó có 3 gân gốc rõ rệt. Khi già lá chuyển màu vàng đỏ và rụng tập trung vào tháng 11 - 12.
- Hoa: Hoa đơn tính, màu trắng vàng; hoa đực đường kính khoảng 1,5 cm, đài hoa hình chuông xẻ 5 thùy sâu, 5 cánh hoa dài 1,3 cm, nhị hoa gồm 25 nhị xếp thành 5 bó, bao phấn hình bầu dục dài 3 mm.
- Quả và hạt: Quả nang khô tự mở, màu xanh khi non, chia 5 cạnh rõ rệt, dài 3 - 4 cm, đường kính 1,8 cm, cuống quả dài 3 - 5 cm. Cây từ 4 tuổi bắt đầu ra nón/quả.
- Vật hậu: Mùa ra hoa vào tháng 2 - 3, mùa quả chín từ tháng 6 - 7. Trong năm có hai nhịp sinh trưởng dinh dưỡng chính: nhịp mùa xuân (tháng 2 - 3) và nhịp mùa thu (tháng 6 - 7).
- Đặc điểm sinh thái và cấu trúc rừng:
- Môi trường phân bố: Nghiến phân bố chủ yếu trong kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới trên núi đá vôi ở đai cao dưới 800 m, nơi có lượng mưa trên 1.378 mm/năm và độ ẩm không khí trung bình trên 80%.
- Cấu trúc tầng thứ: Rừng phân hóa thành 4 tầng rõ rệt:
- Tầng 1 (tầng vượt tán/tầng cây gỗ lớn): Chiều cao trung bình 28 m, gồm Nghiến, Bồ đề, Lát hoa, tán cây tiếp xúc liên tục.
- Tầng 2 (tầng ưu thế sinh thái/gỗ nhỏ): Chiều cao trung bình 22 - 25 m, gồm Dẻ, Chẹo, Vối, tán khép kín.
- Tầng 3 (tầng dưới tán/cây bụi và tái sinh cao): Chiều cao từ 3 - 10 m, phân bố thưa thớt không liên tục.
- Tầng 4 (tầng thảm tươi và cây tái sinh nhỏ): Chiều cao từ 0,5 - 2 m gồm Dương xỉ, Guột, Dong, Riềng và các loài thuộc họ Acanthaceae, Taccaceae.
- Độ tàn che và thảm tươi: Rừng có độ tàn che trung bình cao (0,82). Tầng cây bụi (gồm Răng cá, Mua đất, Cau núi, Xặt, Trọng đũa, Hoa đá) có chiều cao trung bình 1,25 m và độ che phủ 29,87%. Tầng thảm tươi có chiều cao bình quân 0,23 m.
- Tổ thành tầng cây cao: Nghiến xuất hiện hỗn giao cùng các loài đi kèm phổ biến gồm Mùng quân (Flacourtia jangomas), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Hu đay (Trema orientalis), Trai lý (Garcinia fagraeoides), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Vối (Cleistocalyx operculatus), Thung (Tetrameles nudiflora), Trám trắng và Sồi.
- Đặc điểm tái sinh tự nhiên:
- Mật độ tái sinh của loài Nghiến rất thấp, chỉ dao động từ 80 đến 160 cây/ha, chiếm tỷ lệ không đáng kể so với tổng mật độ tái sinh tự nhiên của lâm phần (từ 3.784 đến 4.960 cây/ha).
- Nghiến là loài chịu bóng ở giai đoạn cây con nhưng chuyển sang ưa sáng mạnh khi trưởng thành. Dưới tán rừng có độ tàn che lớn (0,82) kết hợp thảm mục và cây bụi dày, hạt Nghiến khó nảy mầm và cây con khó phát triển vươn lên tầng trên. Toàn bộ cây tái sinh Nghiến điều tra được trong ODB đều có chiều cao $< 1$ m, không ghi nhận cây $> 1$ m. Do hệ số tổ thành thấp ($k_i < 0,5$), Nghiến không xuất hiện trong công thức tổ thành tầng cây tái sinh ở cả 3 tuyến điều tra.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển:
- Giải pháp xã hội và sinh kế: Tạo sinh kế bền vững, hỗ trợ vay vốn chuyển đổi sản xuất cho người dân vùng đệm nhằm giảm thiểu áp lực khai thác gỗ và lâm sản trái phép.
- Giải pháp quản lý bảo vệ: Khoanh vùng bảo tồn các diện tích có Nghiến phân bố trên bản đồ, cắm biển báo, tăng cường lực lượng tuần tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
- Giải pháp kỹ thuật lâm sinh: Áp dụng biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên có tác động bằng cách phát dọn dây leo, cây bụi rậm rạp xung quanh các điểm có cây tái sinh Nghiến, mở tán cục bộ để tạo không gian dinh dưỡng và điều kiện ánh sáng cho cây con sinh trưởng.
Phần 5: Kết luận, tồn tại và khuyến nghị
Tổng kết các kết quả định lượng đạt được về đặc tính hình thái, vật hậu, sinh thái và tái sinh tự nhiên của loài Nghiến, đồng thời nêu các kiến nghị phục vụ công tác quản lý và bảo tồn tại VQG Ba Bể.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Dữ liệu thực nghiệm về cấu trúc lâm phần và tái sinh
Các kết quả điều tra định lượng tại 3 tuyến nghiên cứu thuộc VQG Ba Bể được tổng hợp trong các bảng dưới đây:
Bảng 1: Cấu trúc mật độ tầng cây cao và loài Nghiến theo tuyến điều tra
| TT |
Tuyến điều tra |
Mật độ rừng chung (cây/ha) |
Mật độ Nghiến (cây/ha) |
$D_{1.3}$ trung bình Nghiến (cm) |
$H_{vn}$ trung bình Nghiến (m) |
| 1 |
Nam Mẫu (độ cao 415 m) |
730 |
47 |
102,2 |
35,2 |
| 2 |
Khang Ninh (độ cao 350 m) |
823 |
33 |
100,3 |
34,6 |
| 3 |
Cao Thượng (độ cao 560 m) |
840 |
53 |
98,3 |
34,8 |
Bảng 2: Mật độ và cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh theo tuyến điều tra
| TT |
Tuyến điều tra |
Độ cao (m) |
Mật độ tái sinh chung ($N/\text{ha}$) |
Mật độ tái sinh Nghiến ($NN/\text{ha}$) |
Hệ số tổ thành Nghiến ($k_i$) |
Công thức tổ thành tầng cây tái sinh (CTTT) |
| 1 |
Nam Mẫu |
415 |
4.960 |
160 |
0,32 |
$0,8\text{TL} + 0,8\text{BD} + 2,74\text{MQ} + 1,12\text{HD} + 2,09\text{MT} + 1,12\text{LH}$ |
| 2 |
Khang Ninh |
350 |
4.800 |
80 |
0,17 |
$1,0\text{TL} + 0,83\text{BD} + 3,0\text{MQ} + 2,16\text{MT}$ |
| 3 |
Cao Thượng |
560 |
3.784 |
160 |
0,40 |
$2,8\text{MQ} + 1,2\text{HD} + 2,6\text{MT}$ |
(Ghi chú ký hiệu loài trong CTTT: TL: Trai lý; BD: Bồ đề; MQ: Mùng quân; HD: Hu đay; MT: Mạy tèo; LH: Lát hoa).
Đóng góp mới của tác giả
- Dữ liệu lâm học thực địa: Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chi tiết về trắc lượng ($D_{1.3}$, $H_{vn}$), cấu trúc 4 tầng thứ, độ tàn che (0,82), và công thức tổ thành của các lâm phần có Nghiến phân bố tại VQG Ba Bể.
- Làm rõ rào cản tái sinh tự nhiên: Xác định chính xác mật độ tái sinh của Nghiến chỉ đạt từ 80 đến 160 cây/ha và toàn bộ cá thể tái sinh trong ô điều tra đều có chiều cao $< 1$ m. Kết quả chứng minh sự thiếu hụt nghiêm trọng lớp cây tái sinh triển vọng ($H_{vn} > 1$ m), lý giải nguyên nhân Nghiến không thể tham gia vào công thức tổ thành tái sinh dưới tán rừng tự nhiên khép tán.
- Đề xuất biện pháp lâm sinh phù hợp sinh thái: Đề xuất phương pháp tác động mở tán cục bộ và dọn thực bì cạnh tranh, bám sát đặc tính sinh thái chuyển đổi từ chịu bóng sang ưa sáng của loài Nghiến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Quản lý môi trường sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp điều tra thực địa, lập tuyến, lập ô tiêu chuẩn và xử lý công thức tổ thành tầng cây cao và tầng tái sinh.
- Cán bộ quản lý và bảo tồn: Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể, Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn và các khu bảo tồn thiên nhiên vùng núi đá vôi phía Bắc tham khảo số liệu để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, khoanh vùng bảo tồn loài nguy cấp và thiết kế biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu cấu trúc rừng theo 4 tầng tán và tính toán hệ số tổ thành loài ($k_i$).
- Bảng tổng hợp các đặc tính hình thái chi tiết (thân, lá 3 gân gốc, hoa đực 5 bó nhị, quả nang 5 cạnh) và quy luật vật hậu 2 nhịp sinh trưởng/năm của loài Nghiến.
Câu hỏi thường gặp
1. Cây Nghiến tại VQG Ba Bể có những đặc điểm nhận biết hình thái nổi bật nào?
Cây thân gỗ lớn, thân thẳng, phân cành cao, gốc có bạnh vè, chiều cao vút ngọn đạt 33 - 40 m, đường kính 80 - 115 cm, vỏ nứt sần sùi. Lá hình trứng (10 - 12 cm x 7 - 10 cm), mép nguyên, có 3 gân gốc đặc trưng trong tổng số 5 - 7 đôi gân bên. Hoa màu trắng vàng, hoa đực có 25 nhị xếp thành 5 bó. Quả nang khô tự mở chia 5 cạnh, dài 3 - 4 cm.
2. Chu kỳ vật hậu và nhịp sinh trưởng trong năm của loài Nghiến diễn ra như thế nào?
Nghiến có mùa ra hoa vào tháng 2 - 3 và mùa quả chín vào tháng 6 - 7. Lá rụng nhiều nhất vào giai đoạn chuyển mùa từ tháng 11 đến tháng 12. Trong năm có hai nhịp sinh trưởng chính gồm nhịp mùa xuân (tháng 2 - 3) và nhịp mùa thu (tháng 6 - 7). Cây từ 4 tuổi bắt đầu hình thành quả/nón.
3. Mật độ và kích thước tầng cây cao của loài Nghiến tại 3 tuyến điều tra ở Ba Bể đạt bao nhiêu?
Mật độ Nghiến dao động từ 33 đến 53 cây/ha (trong tổng mật độ rừng 730 - 840 cây/ha). Đường kính ngang ngực trung bình ($D_{1.3}$) dao động từ 98,3 cm đến 102,2 cm và chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) đạt từ 34,6 m đến 35,2 m.
4. Vì sao loài Nghiến không xuất hiện trong công thức tổ thành tầng cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu?
Mật độ tái sinh của Nghiến rất thấp (chỉ đạt 80 - 160 cây/ha), dẫn đến hệ số tổ thành $k_i$ chỉ đạt từ 0,17 đến 0,40 (dưới ngưỡng quy định để ghi vào CTTT). Thêm vào đó, độ tàn che của rừng rất cao (0,82) cùng thảm cây bụi dày khiến loài cây ưa sáng khi lớn này khó phát triển; 100% cây tái sinh ghi nhận đều có chiều cao $< 1$ m, không có cây vượt qua chiều cao 1 m để trở thành cây tái sinh triển vọng.
5. Khóa luận đề xuất những giải pháp kỹ thuật lâm sinh nào để hỗ trợ tái sinh loài Nghiến?
Tác giả đề xuất thực hiện phát dọn dây leo, cây bụi rậm rạp xung quanh các điểm xuất hiện cây con Nghiến và điều chỉnh độ tàn che (mở tán cục bộ) nhằm đáp ứng nhu cầu ánh sáng khi cây bước vào giai đoạn trưởng thành, tạo điều kiện cho cây tái sinh sinh trưởng vượt qua tầng thảm tươi.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quốc Việt đã giải quyết đầy đủ các mục tiêu đề ra, làm rõ đặc điểm hình thái, chu kỳ vật hậu và đặc tính sinh thái của loài Nghiến (Excentrodendron tonkinense) tại VQG Ba Bể. Dữ liệu thực nghiệm xác định Nghiến là loài cây gỗ lớn chiếm ưu thế ở tầng vượt tán ($D_{1.3} \approx 98 - 102\text{ cm}$, $H_{vn} \approx 34 - 35\text{ m}$) nhưng lại có mật độ tái sinh tự nhiên rất thấp ($80 - 160\text{ cây/ha}$) và không có cây tái sinh triển vọng cao trên 1 m. Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn, giám sát đa dạng sinh học và áp dụng các biện pháp lâm sinh nhằm phục hồi nguồn gen loài Nghiến tại vùng núi đá vôi tỉnh Bắc Kạn.