Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong văn hóa ẩm thực truyền thống, màu sắc là yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cảm quan của món ăn. Từ lâu đời, các cộng đồng dân cư đã biết khai thác các nguồn nguyên liệu tự nhiên như củ nghệ, quả gấc, lá cẩm để tạo màu cho thực phẩm. Sự phát triển của công nghiệp thực phẩm kéo theo việc lạm dụng phẩm màu tổng hợp hóa học nhờ ưu thế giá thành rẻ, màu sắc đa dạng và độ bền cao. Tuy nhiên, các nguy cơ gây hại sức khỏe từ phẩm màu tổng hợp dẫn đến xu hướng quay trở lại sử dụng phẩm màu có nguồn gốc tự nhiên, an toàn và có hoạt tính sinh học.

Tại Việt Nam, các loài cây cho chất nhuộm màu phân bố nhiều ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc, gắn liền với tri thức bản địa của các đồng tộc thiểu số. Dù vậy, việc khai thác phần lớn vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, chưa được quy hoạch bảo tồn nguồn gen hay ứng dụng sản xuất ở quy mô công nghiệp. Nhằm bảo tồn nguồn gen thực vật và hệ thống hóa tri thức dân gian, đề tài "Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái của các loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang" được thực hiện.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen các loài cây nhuộm màu thực phẩm, góp phần nâng cao sự phong phú về đa dạng sinh học.
  2. Nắm vững các đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài cây được điều tra.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định danh lục các loài cây nhuộm màu thực phẩm hiện diện trên địa bàn nghiên cứu, ghi nhận sự phân bố, mô tả nhận biết và phân loại học.
  2. Đề xuất cơ sở bảo tồn và phát triển các loài cây, góp phần duy trì tập quán, bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.

Về nhiệm vụ và ý nghĩa:

  • Trong học tập: Tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ trẻ và sinh viên ngành Lâm nghiệp thuộc Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên; khai thác hiệu quả trang thiết bị nghiên cứu của nhà trường; cung cấp dữ liệu cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về chiết tách chất màu quy mô công nghiệp và thiết lập ngân hàng gen thực vật.
  • Trong thực tiễn sản xuất: Đẩy mạnh phát triển sản xuất cây nhuộm màu bản địa, bảo tồn tri thức truyền thống của đồng bào miền núi phía Bắc và đa dạng hóa sản phẩm hàng hóa phục vụ công nghiệp chế biến thực phẩm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm hình thái và sinh thái của các loài cây cho chất nhuộm màu thực phẩm.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Quang Minh và xã Bằng Hành thuộc huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Các điểm điều tra thực địa tập trung tại 3 thôn: thôn Quang Tiến, thôn Minh Thắng (xã Quang Minh) và thôn Thác (xã Bằng Hành).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ ngày 01/7/2013 đến ngày 30/4/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Một chất màu sử dụng trong công nghệ chế biến thực phẩm phải đáp ứng 3 tiêu chuẩn y tế bắt buộc đối với phụ gia thực phẩm:

  1. Nhuộm thực phẩm đạt màu sắc theo mục đích công nghệ chế biến.
  2. Không chứa độc tính (bao gồm độc tính cấp tính, bán cấp và trường diễn).
  3. Không phải là nguyên nhân hoặc tác nhân gây bệnh, đồng thời không gây mùi lạ làm biến đổi chất lượng thực phẩm.

Trên thế giới, các hướng nghiên cứu chất màu thực phẩm tập trung vào 4 nhóm: điều tra chiết tách từ tự nhiên (chủ yếu là thực vật); bán tổng hợp từ các hợp chất thực vật (nhóm Carotene, monoazo); sản xuất bằng công nghệ sinh học (nuôi cấy mô tế bào, lên men vi sinh vật); và tổng hợp các chất vô cơ không độc (chủ yếu là một số oxit sắt, tuy nhiên xu hướng hiện nay là hạn chế nguồn gốc vô cơ). Cho đến thời điểm tác giả tổng quan, thế giới công nhận 73 hợp chất hoặc dịch chiết thực vật làm chất nhuộm màu thực phẩm, tiêu biểu như sản phẩm Cutch từ cây Acacia catechu (sản lượng khoảng 6.000 tấn/năm) hay Annatto từ cây Điều nhuộm Bixa orellana (sản lượng khoảng 10.000 tấn/năm).

Tại Việt Nam, cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc bảo tồn nguồn gen gắn liền với Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (BAP) năm 1995 cùng các công ước quốc tế đã phê chuẩn. Lưu Đàm Cư và Trần Minh Hợi (1995) từng ghi nhận trên 200 loài cây cho chất màu thuộc 57 chi, 28 họ; Lưu Đàm Cư (2003) thống kê 114 loài cây có thể dùng nhuộm màu thực phẩm. Theo quy định của Bộ Y tế thời điểm nghiên cứu, trong số 35 chất màu được phép sử dụng cho thực phẩm chỉ có 10 chất chiết xuất từ thực vật và đều phải nhập khẩu.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực địa bao gồm:

  • Phương pháp luận: Tiếp cận hệ thống, nhìn nhận cây làm phẩm màu thực phẩm là một thành phần sinh học trong cấu trúc hệ sinh thái rừng.
  • Phương pháp kế thừa: Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các công trình khoa học chuyên ngành liên quan tại khu vực nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra dân tộc thực vật học:
    • Liệt kê tự do: Phỏng vấn người cung cấp tin (NCCT) theo bộ câu hỏi chuẩn hóa, đề nghị ghi nhận tên cây bằng tiếng dân tộc bản địa (Tày, Dao, Thái...) để tránh nhầm lẫn danh pháp giữa các nền văn hóa.
    • Điều tra theo tuyến: Thiết lập 3 tuyến điều tra đi từ trung tâm cộng đồng tỏa ra các hướng, cắt qua các dạng địa hình và thảm thực vật khác nhau. Khảo sát 10 hộ gia đình trên mỗi tuyến (tổng cộng 30 hộ dân) để thu thập thông tin về tên địa phương, bộ phận dùng và phương thức chế biến màu.
  • Phương pháp nghiên cứu thực vật học:
    • Thu mẫu tiêu bản trên các tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn (OTC), chụp ảnh chi tiết các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản.
    • Ghi chép tại thực địa: Mô tả dạng sống, hình thái thân, cành, lá, hoa, quả, màu sắc nhựa/mủ, mùi vị, điều kiện lập địa và mật độ phân bố.
    • Xử lý tiêu bản: Cắt tỉa mẫu vật, kẹp giữa hai lớp giấy báo kích thước 45 x 30 cm, tẩm dung dịch cồn 40° - 90°, ép kẹp mắt cáo và tiến hành phơi hoặc sấy khô.
    • Định danh học thuật: Sử dụng phương pháp hình thái học so sánh để xác định tên khoa học, tham khảo ý kiến chuyên gia phân loại đối với các mẫu phức tạp. Danh lục thực vật được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái Latinh của họ và loài.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu thực tiễn về an toàn vệ sinh thực phẩm và xu thế sử dụng phẩm màu tự nhiên thay thế hóa chất tổng hợp. Phần này xác định rõ mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với công tác đào tạo học thuật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như giá trị thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nội dung chương tổng hợp lịch sử nghiên cứu chất màu thực phẩm trên thế giới và tại Việt Nam, nêu bật khoảng trống về công nghệ chiết tách và bảo tồn gen tại nước ta. Đồng thời, tác giả trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của 2 xã nghiên cứu thuộc huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang:

  • Xã Quang Minh: Địa hình đồi núi thấp dạng bát úp, độ dốc 5 - 20°; có sông Lô chảy qua dài 28,9 km cùng 23 con suối; thu nhập bình quân năm 2011 đạt 13,6 triệu đồng/người/năm; lao động chiếm 62,5% dân số.
  • Xã Bằng Hành: Tổng diện tích tự nhiên 3.823,3 ha (đất rừng chiếm 2.267 ha); có tuyến Quốc lộ 279 chạy qua; thành phần gồm 6 dân tộc (Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng, Ráy). Theo thống kê sản xuất nông nghiệp (Bảng 2.1 của khóa luận), xã có 250 ha lúa, 12 ha ngô, 29 ha lạc, 17,12 ha cây lâu năm; đàn vật nuôi gồm 1.268 con trâu, 3.873 con lợn, 411 con dê và 37.500 con gia cầm.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này quy định đối tượng nghiên cứu là đặc điểm hình thái và sinh thái của cây nhuộm màu; địa bàn tại 3 thôn (Quang Tiến, Minh Thắng, Thôn Thác) trong thời gian từ tháng 7/2013 đến tháng 4/2014. Tác giả chi tiết hóa 5 nội dung nghiên cứu cùng quy trình kỹ thuật thu thập số liệu, từ kỹ thuật phỏng vấn dân tộc học, kỹ thuật điều tra theo tuyến đến các bước xử lý mẫu tiêu bản thực vật học và phương pháp lập danh lục khoa học.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu điều tra thực địa:

  • Thống kê thành phần loài: Xác định được 13 loài cây thuộc 13 chi của 9 họ thực vật hạt kín.
  • Mức độ sử dụng: Phân tích tần suất sử dụng của 30 hộ dân đối với 14 loại nguyên liệu tạo màu (bao gồm dạng kết hợp).
  • Cơ cấu nhóm màu: Thống kê tỷ lệ sử dụng 5 gam màu chính trong cộng đồng.
  • Đặc điểm dạng sống, bộ phận sử dụng và mùa vụ thu hái của từng loài cây.
  • Mô tả chi tiết hình thái, sinh thái, vùng phân bố và công dụng (nhuộm màu thực phẩm và làm thuốc) của các loài cây thu thập được tại địa bàn.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm tắt các kết quả đạt được về thành phần loài, dạng sống, tỷ lệ sử dụng nhóm màu và giá trị văn hóa bản địa. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị về nghiên cứu quy trình nhân giống, xây dựng mô hình bảo tồn nguồn gen tại chỗ và tiếp tục thử nghiệm chiết tách hoạt chất màu ở quy mô bán công nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã ghi nhận danh lục 13 loài cây thuộc 13 chi và 9 họ thực vật thuộc ngành Hạt kín (Angiospermae) được người dân 2 xã Quang Minh và Bằng Hành sử dụng làm phẩm màu thực phẩm. Họ Gừng (Zingiberaceae) chiếm ưu thế lớn nhất với 3 loài; họ Cúc (Asteraceae) có 2 loài; các họ còn lại gồm Bầu bí (Cucurbitaceae), Mồng tơi (Basellaceae), Ô rô / Hoa môi (Acanthaceae / Lamiaceae), Đậu (Fabaceae), Dứa dại (Pandanaceae), Hòa thảo (Poaceae), Đoạn / Gai (Tiliaceae / Urticaceae) và Bọ chó (Buddlejaceae) mỗi họ có 1 loài đại diện.

STT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ thực vật Dạng sống Bộ phận sử dụng Màu nhuộm
1 Cẩm tím, đỏ Peristrophe bivalvis (L.) Merr. Acanthaceae Cỏ đứng Thân, lá Đỏ, tím
2 Gấc Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng. Cucurbitaceae Dây leo Quả, hạt (màng hạt) Đỏ
3 Huyết đằng Spatholobus suberectus Dunn Fabaceae Dây leo Hoa Đỏ
4 Ngải cứu Artemisia vulgaris L. Asteraceae Cỏ đứng Thân, lá Xanh
5 Dứa thơm Pandanus amaryllifolius Roxb. Pandanaceae Cỏ đứng Lá Xanh
6 Mồng tơi Basella rubra Lin. Basellaceae Cỏ đứng / Dây leo Lá Xanh
7 Rau khúc Gnaphalium affine D. Don Asteraceae Cỏ đứng Thân, lá Xanh
8 Riềng Alpinia officinarum Hance Zingiberaceae Cỏ đứng Lá Xanh
9 Gừng Zingiber officinale (Willd.) Roscoe Zingiberaceae Cỏ đứng Lá Xanh
10 Nghệ vàng Curcuma longa L. Zingiberaceae Cỏ đứng Thân rễ (củ) Vàng
11 Mật mông hoa Buddleia officinalis Maxim. Buddlejaceae Bụi Hoa Vàng
12 Gai Boehmeria nivea (L.) Gaudich. Urticaceae Cỏ đứng Lá Đen
13 Rơm nếp hương Oryza sativa var. (kết hợp Cẩm tím) Poaceae Thảo thảo Thân (tro rơm) Xanh

Về mức độ sử dụng theo hộ gia đình (khảo sát trên 30 hộ):

  • Cây Cẩm đỏ đạt tỷ lệ tuyệt đối 100% (30/30 hộ).
  • Cây Gấc đạt 97% (29/30 hộ).
  • Củ Nghệ vàng đạt 87% (26/30 hộ).
  • Cây Cẩm tím đạt 86% (26/30 hộ).
  • Cẩm tím kết hợp tro rơm nếp hương (tạo màu xanh) đạt 56% (17/30 hộ).
  • Lá Gai (nhuộm bánh màu đen) đạt 36% (11/30 hộ).
  • Ngải cứu đạt 33% (10/30 hộ).
  • Gừng đạt 30% (9/30 hộ).
  • Huyết đằng và Rau khúc cùng đạt 26% (8/30 hộ).
  • Mật mông hoa đạt 23% (7/30 hộ).
  • Dứa thơm và Mồng tơi cùng đạt 16% (5/30 hộ).
  • Cây Riềng đạt 13% (4/30 hộ).
Gam màu Tỷ lệ sử dụng (%) Ghi chú nguồn gốc tạo màu
Đỏ 35,64 Chiết xuất từ Cẩm đỏ, Gấc, Huyết đằng
Xanh 30,85 Từ lá Gừng, Riềng, Ngải cứu, Dứa thơm, Mồng tơi, Rau khúc hoặc phối hợp Cẩm tím + tro rơm nếp hương
Tím 13,83 Chiết xuất từ thân lá Cẩm tím
Vàng 13,83 Chiết xuất từ củ Nghệ vàng, hoa Mật mông hoa
Đen 5,85 Chế biến từ lá Gai (làm bánh gai, xôi đen)
Tổng 100,00

Về đặc điểm sinh thái và dạng sống:

  • Dạng cỏ đứng chiếm đa số với 11 loài/lượt ghi nhận, tương đương 78,6% cấu trúc dạng sống.
  • Dạng dây leo gồm 2 loài (Gấc và Huyết đằng), chiếm 14,3%.
  • Dạng cây bụi có 1 loài (Mật mông hoa), chiếm 7,1%.

Về bộ phận sử dụng: Thân và lá là cơ quan được khai thác phổ biến nhất (Cẩm đỏ, Cẩm tím, Ngải cứu, Rau khúc); cơ quan lá đơn lẻ (Dứa thơm, Mồng tơi, Gừng, Riềng, Gai); củ/thân rễ (Nghệ); hoa (Huyết đằng, Mật mông hoa); quả và màng hạt (Gấc). Thời điểm sử dụng tập trung vào các dịp lễ Tết cổ truyền (tháng 2 dương lịch), Tết Thanh minh (3/3 âm lịch), ngày rằm tháng 7 và các dịp cưới hỏi cuối năm.

Đóng góp của khóa luận:

  • Hệ thống hóa danh lục thực vật và cung cấp mô tả chi tiết về hình thái, sinh thái học của 13 loài cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
  • Ghi nhận và lưu giữ tri thức bản địa của đồng bào các dân tộc thiểu số trong phương thức thu hái, xử lý và phối hợp các bộ phận thực vật để tạo màu ẩm thực tự nhiên.
  • Đóng vai trò là nguồn dữ liệu thực địa phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu đa dạng sinh học và định hướng khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Quy mô điều tra thực địa giới hạn trong phạm vi 3 thôn thuộc 2 xã của huyện Bắc Quang, dung lượng mẫu phỏng vấn dừng lại ở 30 hộ dân, chưa phản ánh toàn diện nguồn tài nguyên cây màu trên toàn tỉnh Hà Giang.
  • Nghiên cứu tập trung vào phương pháp hình thái học so sánh và điều tra dân tộc học, chưa thực hiện các phân tích hóa sinh trong phòng thí nghiệm để định lượng thành phần sắc tố, hoạt tính chống oxy hóa hoặc kiểm tra độc tính trường diễn của dịch chiết.
  • Thời gian nghiên cứu diễn ra trong chu kỳ 10 tháng (7/2013 – 4/2014), chưa theo dõi liên tục biến động sinh trưởng và mùa vụ ra hoa, kết quả qua nhiều năm của các loài trong điều kiện hoang dã.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:

  • Mở rộng phạm vi điều tra sang các huyện khác thuộc vùng núi phía Bắc nhằm thu thập toàn diện nguồn gen cây làm màu thực phẩm.
  • Nghiên cứu quy trình chiết tách, tinh chế và bảo quản dịch màu thực vật phục vụ ứng dụng ở quy mô sản xuất công nghiệp.
  • Xây dựng mô hình nhân giống, bảo tồn nội vi và ngoại vi đối với các loài cây màu có giá trị sử dụng cao nhằm bảo tồn tri thức dân gian và phát triển kinh tế cộng đồng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sản ngoài gỗ, Thực vật học, Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm.
  • Người làm nghiên cứu về tri thức bản địa, dân tộc học và bảo tồn đa dạng sinh học tại các vùng núi phía Bắc.

Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật trong tài liệu:

  • Phương pháp luận kết hợp giữa điều tra tuyến dân tộc thực vật học (phỏng vấn NCCT bằng tiếng địa phương) và phương pháp thu hái, bảo quản, xử lý mẫu tiêu bản thực vật học bằng dung dịch cồn.
  • Dữ liệu chi tiết về đặc điểm hình thái cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản và đặc tính sinh thái của từng loài cây.
  • Quy trình kinh nghiệm dân gian trong việc tạo màu, đặc biệt là kỹ thuật phối chế màu xanh bằng cách kết hợp dịch chiết lá Cẩm tím với tro rơm nếp hương, hoặc phương pháp xử lý màng hạt gấc với rượu trắng để tạo sắc đỏ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận bao nhiêu loài cây nhuộm màu thực phẩm và họ thực vật nào chiếm số lượng nhiều nhất?
Khóa luận đã phát hiện và lập danh lục gồm 13 loài cây nhuộm màu thực phẩm thuộc 13 chi và 9 họ thực vật hạt kín tại 2 xã Quang Minh và Bằng Hành. Trong đó, họ Gừng (Zingiberaceae) có số loài nhiều nhất với 3 loài (Curcuma longa, Zingiber officinale, Alpinia officinarum).

2. Loài cây nào có tỷ lệ sử dụng cao nhất và gam màu nào được người dân ưa chuộng nhất?
Cây Cẩm đỏ đạt tỷ lệ sử dụng cao nhất với 100% (30/30 hộ khảo sát), tiếp theo là Gấc (97%) và Nghệ vàng (87%). Xét theo nhóm màu, màu đỏ chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu sử dụng của người dân với 35,64%, tiếp theo là màu xanh (30,85%), màu tím (13,83%), màu vàng (13,83%) và màu đen (5,85%).

3. Người dân địa phương tạo màu xanh cho thực phẩm bằng những nguyên liệu nào?
Màu xanh được tạo ra thông qua hai cách: dùng trực tiếp dịch chiết từ thân lá của các loài cây thảo như lá Gừng, lá Riềng, Ngải cứu, Dứa thơm, Mồng tơi, Rau khúc; hoặc phối hợp nước luộc thân lá cây Cẩm tím với nước tro đốt từ rơm nếp hương (Oryza sativa var.).

4. Kỹ thuật xử lý mẫu tiêu bản thực vật tại thực địa được tác giả thực hiện như thế nào?
Mẫu vật sau khi thu thập trên tuyến được cắt tỉa phù hợp, đặt kẹp giữa hai tờ báo kích thước 45 x 30 cm, ngâm trong dung dịch cồn 40° - 90° để bảo quản mang về. Sau đó, mẫu được thay sang giấy báo khô thành từng tập, dùng kẹp mắt cáo cố định để phơi hoặc sấy khô phục vụ công tác giám định hình thái.

5. Nghiên cứu thực địa được tiến hành trên bao nhiêu hộ dân và cách bố trí tuyến khảo sát ra sao?
Nghiên cứu khảo sát 30 hộ dân phân bố trên 3 tuyến điều tra định trước (mỗi tuyến 10 hộ) tại 3 thôn (Quang Tiến, Minh Thắng thuộc xã Quang Minh và Thôn Thác thuộc xã Bằng Hành). Tuyến điều tra được thiết lập lấy trung tâm cộng đồng làm tâm và đi theo 4 hướng cắt qua các dạng địa hình, thảm thực vật khác nhau.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Tiến Hoàng đã hệ thống hóa thành công danh lục 13 loài cây làm phẩm màu thực phẩm thuộc 9 họ thực vật tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, trong đó họ Gừng chiếm số lượng lớn nhất và dạng cỏ đứng chiếm ưu thế hình thái. Nghiên cứu chỉ ra rằng màu đỏ, màu xanh và màu tím là các gam màu được đồng bào bản địa sử dụng nhiều nhất, gắn liền với các dịp lễ tết và nghi lễ truyền thống. Công trình cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị về hình thái, sinh thái học và kinh nghiệm dân gian, làm tiền đề cho các định hướng nghiên cứu chiết tách chất màu tự nhiên và bảo tồn nguồn gen thực vật tại khu vực miền núi phía Bắc.