Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ trọng tâm trước thực trạng suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên sinh vật do các hoạt động khai thác thiếu hợp lý của con người. Loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa tại Việt Nam, phân bố tự nhiên trên các đỉnh núi đá vôi có độ cao từ 500 m đến 1.500 m so với mực nước biển (tập trung tại các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn). Đây là loài thân gỗ nhỡ, chất lượng gỗ tốt, mang giá trị cao về mặt sinh thái, khoa học, thương mại và cảnh quan. Tuy nhiên, phạm vi phân bố tự nhiên của loài đang bị thu hẹp nhanh chóng, số lượng cá thể trưởng thành suy giảm nghiêm trọng do khai thác thương mại, môi trường sống bị chia cắt và khả năng tái sinh tự nhiên rất kém. Loài đã được xếp ở cấp Sắp nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ IUCN, đồng thời được đề nghị bổ sung vào danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại). Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu dừng lại ở mức mô tả sơ bộ hình thái, thiếu dữ liệu định lượng về sinh thái học quần xã và khả năng tái sinh tự nhiên trên núi đá vôi.

Khóa luận xác định mục đích và hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn nhằm đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài.
  • Mục tiêu lý luận: Xác định được các đặc điểm lâm học cơ bản bao gồm sinh thái, phân bố, hình thái, cấu trúc quần xã thực vật và đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn tại khu vực nghiên cứu.
  • Mục tiêu thực tiễn:
    1. Cung cấp cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp bảo tồn, phát triển loài và nâng cao tính đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Kim Hỷ;
    2. Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo về loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 6 nội dung cụ thể):
    1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn;
    2. Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái của loài;
    3. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có loài phân bố;
    4. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài;
    5. Nghiên cứu thành phần loài cây bụi và thảm tươi đi kèm;
    6. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài tại khu vực.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) sinh trưởng trong các lâm phần rừng tự nhiên.
  • Phạm vi không gian: Triển khai thực địa tại 02 xã Kim Hỷ và Ân Tình (thuộc huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn), nằm trong vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa và thu thập số liệu được thực hiện từ tháng 02/2014 đến tháng 05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các lý thuyết kinh điển về sinh thái học cá thể và sinh thái học quần xã rừng nhiệt đới của Richards P.W. (1952, 1968), Baur G.N. (1962), Odum E., cùng quan điểm phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978). Về mặt phân loại học, nghiên cứu sử dụng hệ thống phân loại thực vật của Fu (1975), Farjon (1990) và Bộ thực vật chí Đông Dương của Lecomte (1907–1952). Khung pháp lý và phân hạng bảo tồn dựa trên Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra ngoại nghiệp trên thực địa và phân tích nội nghiệp bằng thống kê toán học lâm nghiệp:

  • Phương pháp ngoại nghiệp:
    • Thiết lập 30 ô tiêu chuẩn (ÔTC) điển hình tạm thời có diện tích $500\text{ m}^2$ ($20\text{ m} \times 25\text{ m}$) trên núi đá vôi tại 2 đai độ cao:
      • Đai I (độ cao dưới 700 m): Lập 13 ÔTC (gồm các ô Ân Tình 1 đến Ân Tình 10, Ân Tình 14, Ân Tình 15 và Kim Hỷ 5).
      • Đai II (độ cao trên 700 m): Lập 17 ÔTC (gồm Ân Tình 11 đến Ân Tình 13 và Kim Hỷ 1 đến Kim Hỷ 4, Kim Hỷ 6 đến Kim Hỷ 15).
    • Vị trí các ÔTC được định vị tọa độ bằng máy định vị GPS.
    • Đo đếm tầng cây cao: Điều tra toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) $\ge 6\text{ cm}$, ghi nhận các chỉ tiêu $D_{1.3}$ (cm), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$, m), độ tàn che.
    • Nghiên cứu hình thái: Chọn 5 cây mẹ tiêu chuẩn/đai cao, theo dõi 3 cành tiêu chuẩn ở 3 tầng tán (ngọn, giữa, dưới) để đo đếm kích thước thân, cành, vỏ, lá non, lá già, nón cái và hạt.
    • Điều tra cây tái sinh: Thiết lập 30 ô dạng bản (ÔDB) có diện tích $4\text{ m}^2$ ($2\text{ m} \times 2\text{ m}$) trong mỗi ÔTC (tổng số 900 ÔDB trên toàn tuyến khảo sát). Đo đếm tên loài, chiều cao, đánh giá nguồn gốc (hạt/chồi) và phẩm chất (tốt, trung bình, xấu).
    • Điều tra cây bụi thảm tươi: Ghi nhận thành phần loài, độ che phủ và chiều cao tầng cây bụi, thảm tươi đi kèm.
  • Phương pháp nội nghiệp:
    • Xác định tổ thành tầng cây cao bằng chỉ số giá trị quan trọng ($IV%$) của Daniel Marmillod: $$IV%_i = \frac{N%_i + G%_i}{2}$$ (Trong đó $N%_i$ là tỷ lệ phần trăm số cá thể loài $i$; $G%_i$ là tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang loài $i$). Loài tham gia công thức tổ thành khi có $IV% \ge 5%$.
    • Mật độ lâm phần ($N/\text{ha}$) tính theo công thức: $N/\text{ha} = (n / S) \times 10.000$.
    • Tỷ lệ tổ thành cây tái sinh tính theo tỷ lệ phần trăm cá thể ($n%$). Loài tham gia công thức tổ thành tái sinh khi $n% \ge 5%$.
    • Toàn bộ số liệu được phân tích, tổng hợp và xử lý thống kê trên phần mềm Microsoft Excel theo tài liệu hướng dẫn của nhóm tác giả Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh và Ngô Kim Khôi (2006).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập từ 30 ÔTC và 900 ÔDB trên thực địa tại 2 xã Kim Hỷ và Ân Tình; dữ liệu thứ cấp gồm bản đồ tài nguyên rừng tỉnh Bắc Kạn, báo cáo điều tra đa dạng sinh học và chuỗi số liệu khí tượng thủy văn của Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn các loài thực vật quý hiếm trên núi đá vôi, đặc biệt là loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Xác định rõ mục đích, mục tiêu lý luận, mục tiêu thực tiễn, ý nghĩa khoa học và 6 nội dung nghiên cứu chính của đề tài.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Tổng hợp các công trình nghiên cứu về hình thái, sinh thái, phân loại, cấu trúc lâm phần và quy luật tái sinh rừng nhiệt đới trên thế giới (Carriere, Farjon, Richards, Baur, Odum) và tại Việt Nam (Thái Văn Trừng, Lecomte, Nguyễn Bá Chất, Trần Minh Tuấn, Vũ Văn Cần, Nguyễn Thanh Bình, Cao Đinh Sơn...). Đồng thời, phần này giới thiệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ:

  • Thành lập theo Quyết định số 1804/QĐ-UB ngày 01/09/2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn; diện tích tự nhiên 14.772 ha, vùng đệm 20.347 ha.
  • Địa hình núi đá vôi hiểm trở thuộc cánh cung Ngân Sơn và Bắc Sơn, độ dốc trung bình 25–35° (nhiều nơi vách đứng $> 45^\circ$). Hiện tượng karst hóa bề mặt và karst ngầm diễn ra mạnh mẽ.
  • Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm $21,6^\circ\text{C}$ (tối cao $38,6^\circ\text{C}$, tối thấp $2,0^\circ\text{C}$); lượng mưa bình quân 1.500–1.680 mm/năm (tập trung 60% vào tháng 6–7); độ ẩm không khí trung bình năm 82%. Mùa khô thiếu nước mặt nghiêm trọng do nước rút xuống các hang ngầm karst.
  • Đa dạng sinh học động vật ghi nhận các loài nguy cấp: Vượn Đen Đông Bắc (Nomascus nasutus), Voọc Má Trắng (Trachypithecus francoisi), Hươu Xạ (Moschus berezovski), Báo Hoa Mai.
  • Kinh tế - xã hội: Dân số vùng đệm gồm 5 dân tộc (Tày, Dao chiếm đa số, Nùng, Kinh, H'Mông), tổng dân số 10.868 người thuộc 61 thôn, trong đó có 8 thôn nằm trong vùng lõi.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết đối tượng khảo sát, phạm vi thời gian (tháng 02–05/2014), địa điểm (xã Kim Hỷ và Ân Tình). Mô tả chi tiết kỹ thuật lập 30 ÔTC ($500\text{ m}^2$) và các ÔDB ($4\text{ m}^2$), quy trình đo đếm chỉ tiêu lâm học và các công thức toán học xác định tổ thành ($IV%$), mật độ ($N/\text{ha}$), chất lượng và nguồn gốc tái sinh.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương trình bày toàn bộ phát hiện định lượng thực địa của đề tài thông qua các nội dung chính:

1. Đặc điểm hình thái và phân loại

  • Vị trí phân loại: Thuộc Bộ Thông (Pinales), Họ Thông (Pinaceae), Chi Hoàng sam (Pseudotsuga), loài Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975.
  • Hình thái thân và vỏ: Cây thân gỗ mọc đứng, tán tròn rộng; vỏ nứt sâu dạng vẩy màu xám nâu/nâu đen, độ dày vỏ trung bình 0,5 cm. Dưới lớp vỏ ngoài là lớp vỏ màu đỏ nâu, trong cùng là lớp vỏ mỏng màu trắng. Thân dưới cành thẳng, tròn đều, cành phân nhánh chữ thập theo đốt (khoảng cách 3–6 cm/tầng cành). Gỗ có giác lõi phân biệt: lõi màu nâu đỏ, giác màu nâu nhạt. Rễ cọc dài, cắm sâu vào các khe nứt đá vôi.
  • Kích thước cá thể: Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) biến thiên từ 5 m đến 24 m (trung bình đạt 12,3 m); đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) dao động từ 5 cm đến 42 cm (trung bình đạt 16,3 cm).
  • Hình thái lá: Lá cây non dài tới 5,5 cm, rộng 5 mm, dạng dải hoặc cong lưỡi liềm đầu nhọn. Lá trưởng thành xếp xoắn ốc thành 2 hàng, dạng dải đầu tù, gân giữa lõm ở mặt trên, mặt dưới có 2 dải lỗ khí khổng màu trắng rất rõ rệt.
  • Hình thái cơ quan sinh sản: Nón cái mọc đơn độc ở chồi bên ngắn, rủ chúc xuống, hình trứng, dài tới 6 cm, đường kính 5 cm. Vảy nón hóa gỗ tròn rộng; vảy kèm thò dài ra ngoài chia 3 thùy (thùy giữa dài hơn 2 thùy bên). Nón chín trong 1 năm, tách nứt giải phóng hạt ngay trên cành mà không rụng nón. Hạt hình trứng ba cạnh, có cánh màu nâu đỏ.

2. Đặc điểm địa hình và phân bố

Khảo sát 30 ÔTC cho thấy loài phân bố tại các sườn núi đá vôi có độ dốc từ 30° đến 40°, độ cao tuyệt đối từ 606 m đến 812 m.

  • Tổng số cá thể trưởng thành bắt gặp là 169 cây trên diện tích $15.000\text{ m}^2$ (30 ÔTC), trung bình đạt gần 6 cây/ÔTC.
  • ÔTC có số cây trưởng thành cao nhất là Kim Hỷ 3 và Ân Tình 6 (10 cây/ô); thấp nhất là Ân Tình 11 (3 cây/ô).
  • Số lượng cây tái sinh rất hiếm hoi, chỉ ghi nhận 35 cây trên toàn bộ 30 ÔTC (trong đó xã Ân Tình có 28 cây phân bố ở 3 ÔTC; xã Kim Hỷ chỉ có 7 cây tại 1 ÔTC duy nhất là Kim Hỷ 2).

3. Cấu trúc tầng cây cao

Quần xã thực vật tầng cây cao có sự tham gia của 19 loài cây gỗ, trong đó có 8 loài ưu thế sinh thái.

Chỉ tiêu lâm phần Đai độ cao dưới 700 m (13 ÔTC) Đai độ cao trên 700 m (17 ÔTC)
Tổng số loài ghi nhận 12 loài (259 cá thể) 16 loài (303 cá thể)
Mật độ lâm phần chung 398 cây/ha 356 cây/ha
Mật độ Thiết Sam Giả Lá Ngắn 93 cây/ha (63 cây điều tra) 91 cây/ha (77 cây điều tra)
$D_{1.3}$ trung bình của loài 14,85 cm 18,27 cm
$H_{vn}$ trung bình của loài 12,01 m 12,77 m
Tổng tiết diện ngang ($\sum G$) $1,48\text{ m}^2$ $2,30\text{ m}^2$
Chỉ số quan trọng ($IV%$) 31,75% (đứng đầu) 33,17% (đứng đầu)
Công thức tổ thành (CTTT) $31,75\text{Ts} + 15,92\text{Xr} + 14,41\text{Cc} + 8,42\text{Nq} + 7,45\text{C} + 6,72\text{Q} + 15,32\text{Lk}$ $33,17\text{Ts} + 20,32\text{Cc} + 10,98\text{Q} + 10,36\text{N} + 6,57\text{Xr} + 5,33\text{K} + 13,27\text{Lk}$

(Ký hiệu loài: Ts: Thiết Sam Giả Lá Ngắn; Xr: Xoài Rừng; Cc: Cẩm Chỉ; Nq: Nhiệt Quế; C: Chân Chim; Q: Quéo; N: Nghiến; K: Kháo; Lk: Loài khác).

Ở cả 2 đai cao, Thiết Sam Giả Lá Ngắn đều giữ vai trò loài ưu thế sinh thái quan trọng nhất với $IV% > 30%$, vượt trội so với các loài đi kèm như Cẩm Chỉ, Xoài Rừng, Nghiến và Quéo.

4. Cấu trúc tầng cây tái sinh

Điều tra lớp cây tái sinh cho thấy sự biến động rõ rệt về cấu trúc và sự suy giảm ưu thế của Thiết Sam Giả Lá Ngắn:

  • Đai dưới 700 m (199 cây tái sinh điều tra): Ghi nhận 8 loài tham gia công thức tổ thành. Cẩm Chỉ chiếm ưu thế cao nhất ($39,83%$). Thiết Sam Giả Lá Ngắn đạt tỷ lệ tham gia $7,58%$ (19 cây).
    • Công thức tổ thành tái sinh: $39,83\text{Cc} + 14,36\text{C} + 7,58\text{Ts} + 6,77\text{Ct} + 6,77\text{Q} + 5,96\text{Xr} + 5,69\text{Ccách} + 5,14\text{Hn} + 7,86\text{Lk}$.
  • Đai trên 700 m (517 cây tái sinh điều tra): Chỉ có 4 loài tham gia công thức tổ thành gồm Cẩm Chỉ ($31,52%$), Nghiến ($14,70%$), Xoài Rừng ($6,57%$) và Dè ($5,22%$). Thiết Sam Giả Lá Ngắn chỉ ghi nhận 7 cây ($1,35% - 1,96%$), do $< 5%$ nên không xuất hiện trong công thức tổ thành.
    • Công thức tổ thành tái sinh: $31,52\text{Cc} + 14,70\text{N} + 6,57\text{Xr} + 5,22\text{D} + 42,00\text{Lk}$.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các chỉ số thực địa chính, khẳng định mức độ suy giảm nghiêm trọng của lớp cây tái sinh tự nhiên và kiến nghị các biện pháp quản lý, nghiên cứu bổ sung nhằm bảo tồn nguồn gen.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu

  1. Dẫn liệu hình thái - trắc lượng: Cây trưởng thành có $D_{1.3}$ trung bình đạt 16,3 cm (dao động 5–42 cm), $H_{vn}$ trung bình đạt 12,3 m (dao động 5–24 m). Độ dày vỏ trung bình 0,5 cm. Nón cái dài tới 6 cm, đường kính 5 cm, vảy kèm xẻ 3 thùy thò ra ngoài vảy nón.
  2. Cấu trúc tầng cây cao: Trên diện tích 30 ÔTC ($1,5\text{ ha}$), phát hiện 169 cây Thiết Sam Giả Lá Ngắn. Mật độ cá thể của loài đạt 93 cây/ha (đai $< 700\text{ m}$) và 91 cây/ha (đai $> 700\text{ m}$). Loài giữ vai trò chi phối sinh thái trong quần xã với chỉ số $IV%$ lần lượt là $31,75%$ và $33,17%$.
  3. Hiện trạng tái sinh tự nhiên: Toàn bộ 900 ÔDB chỉ ghi nhận 35 cây tái sinh. Ở đai $< 700\text{ m}$, loài tham gia công thức tổ thành tái sinh với tỷ lệ $7,58%$, nhưng ở đai $> 700\text{ m}$ tỷ lệ này sụt giảm xuống dưới $2%$ ($1,35%$), không thể tham gia vào công thức tổ thành tầng cây tái sinh.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Bảo tồn nguyên vị (in-situ): Tăng cường tuần tra, kiểm soát nghiêm ngặt của lực lượng kiểm lâm phối hợp với chính quyền 2 xã Kim Hỷ và Ân Tình nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng chặt phá, khai thác gỗ thương mại.
  • Biện pháp kỹ thuật lâm sinh:
    • Tác động hỗ trợ tái sinh tự nhiên: Tiến hành phát luỗng dây leo, cây bụi rậm rạp chèn ép xung quanh các cây mẹ; điều chỉnh độ tàn che tán rừng tạo các lỗ trống đón ánh sáng để hạt nảy mầm và cây con phát triển.
    • Tỉa thưa, loại bỏ các cây tái sinh cong queo, sâu bệnh của các loài cạnh tranh không mục đích.
  • Bảo tồn chuyển vị và nhân giống (ex-situ): Thu hái nón cái khi chín để thu hạt giống, nghiên cứu thử nghiệm hoàn thiện quy trình kỹ thuật gieo ươm cây con trong vườn ươm, phục vụ trồng bổ sung và làm giàu rừng trên các sườn núi đá vôi.
  • Công tác xã hội hóa: Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng đệm và vùng lõi khu bảo tồn.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã bổ sung hệ thống dẫn liệu điều tra định lượng có độ tin cậy thực tế cao về cấu trúc mật độ, tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh của loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, lấp đầy khoảng trống dữ liệu về lâm học của loài cây lá kim đặc hữu, quý hiếm này tại khu vực núi đá vôi tỉnh Bắc Kạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian điều tra thực địa của khóa luận chỉ diễn ra trong 4 tháng (từ tháng 02/2014 đến tháng 05/2014), do đó chưa theo dõi được trọn vẹn toàn bộ chu kỳ vật hậu học (mùa ra hoa, đậu quả, chín và phát tán hạt) qua các mùa trong năm. Số lượng cây tái sinh bắt gặp trên thực địa còn rất ít (chỉ tập trung ở 4/30 ÔTC), dẫn đến dung lượng mẫu phân tích về phẩm chất và động thái sinh trưởng của cây con còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Mở rộng diện tích và thời gian theo dõi định kỳ để đánh giá quy luật vật hậu học và tỷ lệ sống sót của cây con tái sinh theo các mùa trong năm;
    2. Nghiên cứu thực nghiệm về kỹ thuật thu hái, bảo quản hạt giống và phương pháp xử lý kích thích nảy mầm của hạt Thiết Sam Giả Lá Ngắn trong vườn ươm;
    3. Đánh giá chi tiết các chỉ tiêu vi khí hậu và đặc tính hóa lý tầng đất kẽ đá vôi ảnh hưởng đến khả năng tái sinh tự nhiên của loài.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Quản lý môi trường.
  • Các nội dung đáng tham khảo:
    • Phương pháp bố trí hệ thống ô tiêu chuẩn và ô dạng bản điều tra thực vật trên địa hình núi đá vôi hiểm trở;
    • Quy trình ứng dụng chỉ số $IV%$ của Daniel Marmillod trong phân tích cấu trúc tổ thành quần xã thực vật;
    • Hệ thống biểu mẫu điều tra thực địa chuẩn hóa (từ Biểu 01 đến Biểu 07) phục vụ khảo sát lâm học các loài cây lá kim quý hiếm.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị trí phân loại học của loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn được xác định như thế nào trong khóa luận?

Theo hệ thống phân loại thực vật được tác giả tổng hợp, loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) thuộc Chi Hoàng sam (Pseudotsuga), Họ Thông (Pinaceae), Bộ Thông (Pinales).

2. Kích thước sinh trưởng trung bình của Thiết Sam Giả Lá Ngắn tại KBT Kim Hỷ là bao nhiêu?

Qua điều tra đo đếm thực địa, kích thước trung bình của các cây trưởng thành đạt: đường kính ngang ngực trung bình ($D_{1.3}$) là 16,3 cm (biến thiên từ 5 cm đến 42 cm) và chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) là 12,3 m (biến thiên từ 5 m đến 24 m).

3. Chỉ số giá trị quan trọng ($IV%$) của Thiết Sam Giả Lá Ngắn tại hai đai độ cao là bao nhiêu?

Chỉ số $IV%$ của Thiết Sam Giả Lá Ngắn đứng đầu trong toàn bộ quần xã thực vật tầng cây cao ở cả hai đai:

  • Tại đai cao dưới 700 m: $IV% = 31,75%$ (mật độ 93 cây/ha);
  • Tại đai cao trên 700 m: $IV% = 33,17%$ (mật độ 91 cây/ha).

4. Tình trạng tái sinh tự nhiên của loài có điểm gì đáng chú ý giữa hai đai độ cao?

Khả năng tái sinh tự nhiên của loài rất thấp và có sự suy giảm mạnh theo độ cao. Ở đai dưới 700 m, loài còn tham gia vào công thức tổ thành cây tái sinh với tỷ lệ $7,58%$ (ghi nhận 19 cây). Tuy nhiên, ở đai trên 700 m, số lượng cây con chỉ còn 7 cây ($1,35% - 1,96%$), không đủ điều kiện ($< 5%$) để tham gia vào công thức tổ thành tái sinh của lâm phần.

5. Đề tài đã thiết lập dung lượng mẫu điều tra thực địa như thế nào?

Tác giả đã thiết lập 30 ô tiêu chuẩn tạm thời (diện tích $500\text{ m}^2$/ô, tổng diện tích $15.000\text{ m}^2$) phân bố tại 2 xã Kim Hỷ và Ân Tình (gồm 13 ÔTC ở đai $< 700\text{ m}$ và 17 ÔTC ở đai $> 700\text{ m}$). Trong mỗi ÔTC thiết lập 30 ô dạng bản (diện tích $4\text{ m}^2$/ô), tổng cộng có 900 ô dạng bản được điều tra để đánh giá tầng cây tái sinh.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Văn Thiện đã cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về đặc điểm hình thái, phân bố và cấu trúc lâm học của loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn. Mặc dù loài giữ vai trò ưu thế sinh thái vượt trội ở tầng cây cao với chỉ số quan trọng $IV% > 31%$ tại cả hai đai độ cao, song nguồn cây tái sinh tự nhiên lại suy giảm nghiêm trọng (đặc biệt ở đai trên 700 m chỉ chiếm dưới $2%$). Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn nguyên vị, hỗ trợ tái sinh và định hướng gieo ươm nhân tạo nhằm bảo vệ nguồn gen cây lá kim nguy cấp này.