Luận án tiến sĩ file word nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu file word nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

169
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về các chất ma túy

1.2. Khái niệm về các chất ma túy

1.3. Các chất ma túy thường gặp ở Việt Nam

1.4. Thực trạng và xu hướng sử dụng ma túy hiện nay

1.5. Đặc điểm dịch tễ học nhiễm HBV, HCV ở người nghiện ma túy

1.6. Một số đặc điểm của vi rút và biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm HBV, HCV

1.7. Đột biến kháng thuốc DAA ở vi rút viêm gan C

1.8. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Thiết bị, vật liệu nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đánh giá tỷ lệ nhiễm HBV, HCV, tải lượng vi rút và hoạt độ enzyme gan ở đối tượng nghiên cứu

3.3. Xác định kiểu gen của HBV, HCV và các đột biến gen liên quan đến kháng thuốc DAA của HCV ở đối tượng nghiên cứu

3.4. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.5. Đặc điểm về giới và tuổi

3.6. Đặc điểm về chất gây nghiện, thời gian nghiện, đường sử dụng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu HBV HCV ở người nghiện ma túy tại TP

Nghiên cứu về HBVHCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM là một vấn đề cấp thiết. Tình hình nhiễm vi rút viêm gan B và C trong nhóm đối tượng này đang gia tăng, gây ra nhiều thách thức cho hệ thống y tế. Việc hiểu rõ về đặc điểm cận lâm sàng và kiểu gen của các vi rút này sẽ giúp cải thiện công tác điều trị và phòng ngừa.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học nhiễm HBV HCV ở người nghiện ma túy

Tỷ lệ nhiễm HBVHCV ở người nghiện ma túy cao hơn so với cộng đồng. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm HCV có thể lên đến 97,2%, trong khi tỷ lệ nhiễm HBV dao động từ 20% đến 40%.

1.2. Tác động của ma túy đến sức khỏe gan

Sử dụng ma túy có thể làm tăng nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan. Các chất như heroin và methamphetamine có thể gây tổn thương gan, làm tăng hoạt độ enzyme gan và dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu HBV HCV ở người nghiện ma túy

Nghiên cứu về HBVHCV ở người nghiện ma túy gặp nhiều thách thức. Việc thu thập dữ liệu chính xác và đầy đủ là rất khó khăn do sự kỳ thị và thiếu thông tin. Hơn nữa, việc điều trị cho nhóm đối tượng này cũng gặp nhiều trở ngại.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế

Nhiều người nghiện ma túy không dám đến cơ sở y tế để kiểm tra và điều trị do lo ngại về sự kỳ thị. Điều này dẫn đến tình trạng nhiễm vi rút không được phát hiện và điều trị kịp thời.

2.2. Tình trạng kháng thuốc DAA ở HCV

Kháng thuốc DAA là một vấn đề nghiêm trọng trong điều trị HCV. Các đột biến gen liên quan đến kháng thuốc đang gia tăng, làm giảm hiệu quả điều trị và tăng nguy cơ tái phát.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng của HBV HCV

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp cận lâm sàng để đánh giá tình trạng nhiễm HBVHCV. Các xét nghiệm như HBsAg, Anti-HCV và tải lượng vi rút được thực hiện để xác định mức độ nhiễm bệnh.

3.1. Xét nghiệm và phân tích mẫu

Mẫu máu được thu thập từ người nghiện ma túy tại các trung tâm cai nghiện. Các xét nghiệm được thực hiện để xác định sự hiện diện của HBVHCV cũng như tải lượng vi rút.

3.2. Phân tích kiểu gen của HBV HCV

Phân tích kiểu gen giúp xác định các biến thể gen của HBVHCV. Điều này rất quan trọng trong việc tiên lượng và điều trị bệnh.

IV. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HBV HCV ở người nghiện ma túy

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HBVHCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM cao hơn so với các nhóm khác. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

4.1. Tỷ lệ nhiễm HBV và HCV trong nhóm nghiên cứu

Tỷ lệ nhiễm HBV là khoảng 30% và HCV là 70%. Điều này cho thấy sự phổ biến của các vi rút này trong nhóm người nghiện ma túy.

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người nhiễm HBVHCV thường có các triệu chứng lâm sàng như mệt mỏi, vàng da và tăng hoạt độ enzyme gan.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu về HBV HCV

Nghiên cứu về HBVHCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM đã chỉ ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả để giảm tỷ lệ nhiễm và cải thiện sức khỏe cho nhóm đối tượng này.

5.1. Đề xuất giải pháp can thiệp

Cần triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe và tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người nghiện ma túy. Điều này sẽ giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu cần tiếp tục để theo dõi tình trạng nhiễm HBVHCV cũng như các đột biến gen liên quan đến kháng thuốc. Điều này sẽ giúp cải thiện hiệu quả điều trị và phòng ngừa.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ file word nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I của Luật phòng chống ma túy được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2000 [17]: Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần, tiền chất được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Chất ma túy có nhiều loại: loại tự nhiên, loại bán tổng hợp, loại tổng hợp. Các chất ma túy thường gặp ở Việt Nam 1. Ma túy nhóm Opiats (chất dạng thuốc phiện: CDTP) Ma túy nhóm Opiats (CDTP) là những chất có nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dược lý tương tự thuốc phiện, bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin, Buprenorphin, Methadon, Levo- alpha- acetyl- methadon (LAAM)…[18] Thuốc phiện (Opium) + Thuốc phiện hay á phiện, a phiến, nha phiến được chiết xuất từ các hạt trong vỏ mầm cây anh túc (tên khoa học: Papaver Somniferum (L) papaveraceace).

4 + Thành phần hóa học: cây thuốc phiện có trên 40 hợp chất alcaloids khác nhau, trong đó quan trọng nhất là: Morphine: chiếm từ 4 - 21%, Codein: 0,7 - 3%… + Đây là loại ma túy rất phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Tên khác: Á phiện, “Nàng tiên nâu”, “Ả phù dung”, dung dịch để chích màu nâu có tên “xì ke”. Morphine: morphine là hợp chất alcaloid chính của thuốc phiện. Được sử dụng nhiều trong y tế loại ống 10 mg/ml.

Heroin + Còn có tên gọi khác: “Bạch phiến”, “Cái chết trắng” + Là chất ma túy phổ biến nhất trên thế giới và Việt Nam. Heroin hầu như thay thế cả thuốc phiện và được bán tổng hợp từ morphine bằng cách Diacetyl hóa, tên khác Diacetylmorphine, Diamorphine. Hiện trên thị trường còn có các chất ma túy tổng hợp tác dụng giống morphine như: Pethidine, Fentanyl, Methadone, Mecloqualone, Ketamine, Buprenorphin, Tramadol. Các chất kích thích và gây ảo giác Cây cần sa: trong các chất Cannabinoide có trong cây cần sa, chủ yếu Tetrahydrocannabinol (THC) là chất có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, trong đó 9 - THC là hoạt chất gây ảo giác.

LSD (Lysergic Saure Diethylamid): LSD là chất gây ảo giác rất mạnh với hàm lượng 25 microgam đã có tác dụng rõ rệt bằng đường uống hay tẩm ngậm dưới lưỡi. Cocaine: là alcaloid chính được chiết xuất từ lá của cây coca. Tên khoa học là Erythroxylon coca (L) Erythroxylaceace. Cocaine tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: borate, citrate, formate, iodhydrate, bromhydrate, nitrate, lactate, sulfate, tartrate, salicylate.

Cocain gây nghiện, gây hoang tưởng. 5 Ngoài ra còn một số chất gây ảo giác khác là hoạt chất chiết xuất từ các loại nấm như Psilocybine (Indocybine), Mescaline, Dimethyltriptamine, Phencyclidine. Các chất ức chế hệ thần kinh Trung ương (Depressants) Nhóm an thần gây ngủ loại Benzodiazepine Thuốc ngủ nhóm Barbiturate: tùy theo gốc R cho ra các chất khác nhau: phenobarbital, secobarbital, vinyl barbital, barbital… 1. Một số tiền chất (precursor chemicals) Là những hóa chất cần thiết để tổng hợp hay bán tổng hợp hay sản xuất ra các chất ma túy.

Theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 07 năm 2013 của Chính phủ tổng cộng hiện nay có 41 tiền chất [19]. Một số tiền chất chủ yếu: Ephedrine, Pseudo Ephedrine, Anhydric acetic, Safrole và Isosafrole, Gama-hydroxybutyric acid (GHB) gặp ở dạng muối và gama-butyrolactone (GBL) ở dạng dầu. Các chất ma túy tổng hợp ATS Các chất ma túy tổng hợp ATS - “Thuốc lắc”- phần lớn có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, tăng huyết áp, tăng nhịp tim, làm tỉnh táo và thông minh hơn, tạo trạng thái đi mây về gió (euphoric), tăng nhịp thở, tăng nhiệt độ cơ thể ở liều trung bình từ 20 mg đến dưới 100 mg. Khi sử dụng liều cao có tác dụng gây ảo giác.

Đặc biệt người sử dụng rất nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng, màu sắc dễ xúc động (agitation), rung lắc (tremor), ngắt quãng (episode), giảm trí nhớ, hoang tưởng (Paranoid delusions), bạo lực, gây chán ăn (unappetide). Sử dụng trong điều trị suy nhược thần kinh, tâm thần phân liệt, làm tăng cường thể lực nhưng dễ bị lạm dụng, một số chất có tác dụng kích thích tình dục. Đôi khi có sự lạm dụng trong giới thể thao để tăng thành tích thi đấu, trong các đối tượng thanh niên, sinh viên, học sinh, thậm chí cả những nhà điều hành. Một số chất ma túy ATS thường gặp [20]: 6 - Amphetamine (AM) - MethAmphetamine (MA): xuất hiện trên thị trường chủ yếu ở dạng hydrochloride-chlorhydrate [21].

- Methylene Dioxymethyl Amphetamine (MDMA) hay còn gọi là Ecstasy. - Methylene dioxy Amphetamine (MDA): được tổng hợp hoàn toàn, thường ở dạng muối hydrochloride. Xuất hiện dạng viên (tablet) màu trắng có hình âm dương ngũ hành. ở dạng viên nén hay viên capsules.

- Methylene DioxyEthyl Amphetamine (MDEA): thường tồn tại trên thị trường dạng chlohydrite hay chlorhydrate. Ký hiệu có trên viên tablet: Eve, HOL xanh rêu… 1. Thực trạng và xu hướng sử dụng ma túy hiện nay 1. Thực trạng và xu hướng chung Ở cấp độ toàn cầu, có sự gia tăng sản xuất và lạm dụng chất gây nghiện mới (NPS), tức là các chất mới chưa bị ảnh hưởng bởi sự kiểm soát quốc tế.

Số lượng NPS xuất hiện trên thị trường ngày càng tăng đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt cho sức khỏe cộng đồng, không chỉ vì số lượng sử dụng ngày càng tăng mà còn vì thiếu các nghiên cứu khoa học cũng như sự hiểu biết về tác dụng phụ của chúng. Theo báo cáo của các thành viên UNODC, số lượng NPS tăng từ 126 chất vào cuối 2009 lên 450 chất vào năm 2014, tăng gần 4 lần [22]. Lần đầu tiên, số lượng NPS thực sự vượt quá tổng số số chất được kiểm soát quốc tế (234) [23]. Cho đến giữa năm 2012, phần lớn các NPS được xác định là cần sa tổng hợp (23%), phenethylamines (23%) và cathinones tổng hợp (18%), tiếp theo là tryptamines (10%), các chất dựa trên thực vật (8%) và piperazines (5%) [23].

Để đánh lừa các cơ quan, các nhà cung cấp cũng có tiếp thị và quảng cáo sản phẩm của họ tích cực và bán chúng dưới tên tương đối vô hại hàng ngày các sản phẩm như nước hoa xịt phòng, muối tắm, thảo dược hương và thậm chí cả phân bón cây. 7 Năm 2011, ước tính từ 167 đến 315 triệu người trong độ tuổi 15 - 64 (tương đương 3,6 – 3,9% dân số trưởng thành) đã sử dụng ít nhất một chất ma túy. Văn phòng Ma túy và tội phạm Liên hợp Quốc (UNODC) ước tính trong năm 2011 có khoảng 11,2 triệu đến 22 triệu người trên toàn thế giới trong độ tuổi 15 – 64 (chiếm 0,24 – 0,48% dân số trong độ tuổi này) tiêm chích ma túy [23]. Trong số các nước báo cáo tăng số lượng người tiêm chích ma túy đáng chú ý có Pakistan, Liên bang Nga và Việt Nam, trong khi các nước báo cáo giảm đáng kể bao gồm Brazil, Indonesia, Nam Phi, Thái Lan và Hoa Kỳ [23].

Ở Việt Nam Lạm dụng ma túy tăng mạnh gần gấp ba lần trong 10 năm qua. Bắt đầu từ khu vực nông thôn miền núi, lạm dụng ma túy bất hợp pháp lan truyền nhanh chóng đến các khu vực đô thị. Trong khi đó, độ tuổi trung bình của người sử dụng ma túy đã giảm và nhiều phụ nữ đã tham gia vào tiêu thụ ma túy. Đồng thời, heroin đã thay thế thuốc phiện để trở thành thuốc được ưa chuộng nhất trên thị trường ma túy bất hợp pháp của đất nước, đặc biệt là trong những người dùng trẻ ở khu vực thành thị [24].

Lạm dụng ma túy đã lan rộng trên tất cả 64 tỉnh thành hiện nay trong cả nước ở các mức độ khác nhau. Theo số liệu của UNODC tại Việt Nam, tính đến năm 2004, số người NMT tại Việt Nam đã lên đến 170.400 người, tăng 6% so với năm 2003, riêng tại TPHCM số người NMT là 32.000 người (chưa kể số người bị quản lý trong các trại giam, và ước tính còn hơn 5.000 người nghiện ngoài xã hội). Theo Bộ Lao Động - Thương Binh - Xã Hội, đến cuối năm 2005 cả nước đã có trên 129.000 người NMT có hồ sơ quản lý, tăng trên 36.300 người so với năm 2000. Trong đó, TPHCM (TPHCM) tăng gần 10.000 người, Hà Nội tăng trên 6.

Đến nay đã có 64/64 Tỉnh, Thành phố và 90% quận huyện, 58% xã phường thị trấn có người NMT [25]. Trong hai thập kỷ qua đã có một sự chuyển hướng từ hút thuốc phiện và tiêm chích heroin sang sử dụng các chất hướng thần khác như 8 methamphetamine. Tuy mức độ gây nghiện, sự lệ thuộc về thể chất và tinh thần khi sử dụng ATS không bằng các chất ma túy truyền thống như heroin, thuốc phiện, cần sa nhưng cũng gây nhiều hậu quả cho cá nhân, gia đình và xã hội. Nhất là sau khi sử dụng các chất ma túy tổng hợp ATS, các đối tượng nghiện thường có xu hướng bạo lực, gây gia tăng các vụ phạm pháp hình sự, quan hệ tình dục không kiểm soát dẫn đến nguy cơ rất cao lây nhiễm HIV/AIDS.

Đặc điểm dịch tễ học nhiễm HBV, HCV ở người nghiện ma túy 1. Trên thế giới Mỗi phút, ít nhất một người chết vì viêm gan mạn tính ở Khu vực Tây Thái Bình Dương theo phân vùng địa lý của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Uớc tính trên toàn cầu có khoảng 16 triệu người NMT (11 triệu – 21,2 triệu) ở 148 quốc gia [10], trong đó nhiễm HBV và HCV là thường gặp ở nhóm người NMT, tuy nhiên, tính cấp bách của việc ngăn ngừa nhiễm HIV trong nhóm NMT đã làm lu mờ các dịch bệnh viêm gan do vi rút B và C gây ra ở nhóm đối tượng này [11]. Năm 2011, trên thế giới có khoảng 1,2 triệu người NMT nhiễm HBV mạn tính (với xét nghiệm HBsAg dương tính) và gần 6,4 triệu người NMT dương tính với HBcAb [11].

Dữ liệu về tỷ lệ có HBsAg dương tính ở người NMT đã được ghi nhận tại 59 quốc gia (chiếm khoảng 73% số người NMT trên toàn thế giới) cho thấy, tỷ lệ HBsAg dương tính trong nhóm NMT tương quan với tỷ lệ nhiễm HBV trong dân số nói chung, với tỷ lệ cao nhất gặp ở khu vực Châu Á [11]. Trong khi đó, dữ liệu về tỷ lệ HBcAb dương tính ở người NMT có ở 43 quốc gia (với khoảng 65% số người NMT trên toàn thế giới), mặc dù tỷ lệ này rất khác nhau giữa các nước, nhưng nói chung cao hơn nhiều so với tỷ lệ HBsAg dương tính [11]. 9 Không có bằng chứng Không báo cáo (92 nước) < 2% (7 nước) 2 – 5% (21 nước) 5 – 10% (21 nước) ≥ 10% (10 nước) Hình. Tỷ lệ nhiễm HBV ở nhóm người nghiện ma túy trên toàn thế giới * Nguồn: Nelson P.

và cộng sự (2011) [11] Theo phân tích của Hahné S. và cộng sự (2013) [26] tại các quốc gia Châu Âu, tỷ lệ HBsAg dương tính trong dân số nói chung dao động từ 0,1% - 5,6%, tỷ lệ này dao động 0% - 21,3% ở nhóm NMT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ