Đặt vấn đề Bắc Giang là tỉnh có nghề chăn nuôi phát triển đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình, trong đó chăn nuôi lợn luôn giữ vai trò chủ đạo. Do vậy, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện nhiều dự án nạc hoá đàn lợn, hỗ trợ con giống, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ. Theo số liệu cục thống kê tỉnh Bắc Giang tại thời điểm 01/04/2017 [3], tổng đàn lợn của tỉnh đạt 1.188 con; trong đó, đàn lợn nái là 191.957 con và đàn lợn thịt là 939. Trên địa bàn tỉnh có 545 trang trại chăn nuôi lợn tập trung với quy mô mỗi trang trại có 20 nái và 100 lợn thịt trở lên.
Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Tuy nhiên, song song với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, hàng năm làm chết nhiều đầu lợn của tỉnh. Theo báo cáo phòng chống dịch bệnh của Chi cục chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang năm 2017 [2], năm 2016 toàn tỉnh có 89.430 con lợn bị ốm trong đó 7.675 con lợn bị ốm và 6.100 con chết, gây thiệt hại lớn về kinh tế, hay gặp và phổ biến là bệnh viêm phổi ở lợn, trong đó vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae được đánh giá là nguyên nhân gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất. Bệnh viêm phổi ở lợn rất phổ biến, là bệnh rất khó ngăn chặn và kiểm soát.
Bệnh có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng và khả năng tiêu thụ thức ăn của vật nuôi, trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến tử vong cho một số đàn lợn. Về mặt kỹ thuật, việc kiểm soát bệnh viêm phổi ở lợn đòi hỏi sự hiểu biết về mối tương quan giữa các vi sinh vật có thể gây bệnh với vật nuôi và việc quản lý môi trường chăn nuôi. Nguyên nhân gây nên các bệnh viêm phổi ở lợn vô cùng đa dạng trong đó có h 2 cả vi khuẩn và virus. Có những trường hợp bệnh có sự tham gia cùng lúc của nhiều tác nhân.
Trên thực tế lâm sàng hiện nay có rất nhiều các ca bệnh viêm phổi - màng phổi xảy ra kế phát cùng với các virus gây bệnh trên đường hô hấp như (PRRS) làm nghiêm trọng hơn tình trạng bệnh hô hấp trong đàn cũng như gây khó khăn cho việc chẩn đoán, điều trị. Bệnh viêm phổi màng phổi do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae (APP) gây ra, vi khuẩn này hiện có hơn 15 serotypes và mỗi serotype có độc lực khác nhau. Các serotypes xuất hiện khác nhau ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, serotype 2 và 5 khá phổ biến, bệnh gây những tổn thương nghiêm trọng ở phổi và gây ra tổn thất kinh tế rất lớn cho người chăn nuôi.
Bệnh lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua không khí ở khoảng cách gần và mầm bệnh chỉ tồn tại bên ngoài con vật vài ngày. Bệnh có thể xảy ra trên lợn từ lúc cai sữa đến khi giết thịt. Thời gian ủ bệnh thường rất ngắn, vào khoảng 12 giờ. Các độc tố do vi khuẩn A.
pleuropneumoniae sản sinh ra gây tổn thương nặng cho mô phổi. Bệnh ảnh hưởng đến năng suất của trại chăn nuôi, giảm tỷ lệ tăng trọng trên lợn và làm tăng tỷ lệ tiêu hao thức ăn. Ở thể quá cấp tính có khả năng gây đột tử ở lợn. Tại Bắc Giang, các công trình nghiên cứu về bệnh viêm phổi - màng phổi do vi khuẩn A.
pleuropneumoniae chưa nhiều, đặc biệt là việc phân lập, nghiên cứu xây dựng quy trình chẩn đoán, biện pháp phòng chống bệnh còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra tại huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị” 1. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi trên đàn lợn nuôi tại một số xã của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
h 3 - Đưa ra một số phác đồ điều trị cho lợn mắc bệnh đạt hiệu quả cao. - Đánh giá hiệu quả điều trị của một số loại thuốc kháng sinh đối với bệnh viêm phổi màng phổi. Yêu cầu - Xác định được tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm phổi màng phổi tại một số xã của huyện huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. - Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh cho lợn khi mắc viêm phổi ở các trang trại, hộ chăn nuôi tại cơ sở.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. - Phân lập, xác định được đặc tính sinh hóa học của vi khuẩn A. - Xác định tính mẫn cảm của các chủng vi khuẩn A. pleuropneumoniae phân lập được với một số loại kháng sinh từ đó xây dựng phác đồ điều trị.
- Làm phong phú tài liệu khoa học, làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu về vi khuẩn A. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Lịch sử hình thành Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet được thành lập tháng 12 năm 2002, hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: Sản xuất vacxin phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi… cùng thời điểm đó Đảng và Nhà nước ta tăng cường giám sát, quản lý, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải phát huy hết nội lực, sản xuất sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn Quốc tế, hướng đến xuất khẩu, theo đó những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y vừa và nhỏ, máy móc trang thiết bị cũ và lạc hậu, sản xuất manh múm, tận dụng, cơ hội sẽ khó tồn tại được.
Dành chỗ cho những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y chất lượng cao, uy tín, hợp vệ sinh thú y, trang thiết bị máy móc hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn Quốc tế, giá thành rẻ, hiệu quả kinh tế và hiệu quả điều trị cao. Nhận thức sâu sắc được điều đó tập thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên công ty Marphavet quyết tâm xây dựng một thương hiệu Marphavet với chiến lược sản phẩm có chiều sâu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng. Tại đây có một tập thể các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành. Có đội ngũ bác sĩ thú y giỏi, đội ngũ công nhân tay nghề cao.
Cùng với sự phát triển của chăn nuôi cả nước Đức Hạnh Marphavet không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, phát triển hệ tá dược mới kết hợp với thảo dược có nguồn gốc tự nhiên. Sản phẩm của Đức Hạnh Marphavet khá đa dạng, phong phú về chủng loại. Trụ sở nhà máy đặt tại xã Trung Thành - Phổ Yên - Thái Nguyên. Với 12 chi nhánh khác trên cả nước như: chi nhánh Cần Thơ, chi nhánh Quận 9 - h 5 TPHCM, chi nhánh Đồng Nai, chi nhánh Đắk Lắc, chi nhánh Nha Trang, chi nhánh Đà Nẵng, chi nhánh Huế, chi nhánh Hải Phòng và chi nhánh Mỹ Đình - Hà Nội.
Cơ cấu bộ máy và tổ chức của công ty Marphavet có đội ngũ nhân sự chuyên môn trình độ cao với hơn 1.000 CBNV bao gồm 1 giáo sư, 3 phó giáo sư, 8 Ttiến sỹ, 29 thạc sỹ, trên 500 bác sĩ thú y và kĩ sư chăn nuôi, 15 dược sĩ nhân y, 12 cử nhân Công nghệ sinh học có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn 250 cử nhân kinh tế, kế toán, luật, nhân văn, quản trị kinh doanh, marketing, cơ khí chế tạo máy, điện lạnh…có trình độ chuyên môn thường xuyên được tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến. Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt với các Bộ, Cục, Vụ, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đại học trong và ngoài nước. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất nơi thực tập Nhờ có sự giúp đỡ của công ty Marphavet mà em được phân công hỗ trợ đại lý thuốc thú y Dương Thúy. Đại lý nằm trên địa bàn xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm huyện 0,3km.
Cơ sở thực tập do TS. Lê Văn Dương quản lý và điều hành. Đại lý gồm 1 quản lý, 1 kỹ thuật viên kiêm marketing, 1 nhân viên và 2 thực tập sinh. Nhờ có sự hợp tác của công ty Marphavet và TS.
Lê Văn Dương nên đã đào tạo 5 đợt sinh viên thực tập từ trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, học viện Nông Nghiệp Hà Nội, đại học Nông Lâm Bắc Giang. Các mặt hàng thuốc, chế phẩm sinh học, dụng cụ thú y bày bán được sắp xếp gọn gàng, khoa học. Lê Văn Dương và Đoàn Thế Thắng (kỹ thuật viên) có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình, yêu nghề và có tinh thần trách nhiệm cao, luôn chỉ dạy và giúp đỡ tận tình các thực tập sinh. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề nghiên cứu Bệnh viêm phổi màng phổi lây lan rộng và được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới, nơi có nền công nghiệp chăn nuôi lợn phát triển.
Bệnh có mặt và lan truyền ở hầu hết các nước Châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vi khuẩn A. pleuropneumoniae đã được phân lập và được đánh giá là một trong những nguyên nhân gây bệnh hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc quy mô lớn. Đặc điểm dịch tễ học Mặc dù vi khuẩn A.
pleuropneumoniae có nhiều serotype khác nhau nhưng ở mỗi quốc gia, chỉ có một vài serotype nhất định lưu hành và gây bệnh trên đàn lợn, như serotype 2 có ở Thụy Điển, Đức và Thụy Sĩ và serotype 1, 5 ở Mỹ và Canada. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhiều serotype cùng lưu hành trên đàn lợn ở cùng một nước cũng đã được phát hiện. (Maldonado và cs, 2009 [20]) trong 127 chủng vi khuẩn A. pleuropneumoniae phân lập được ở Tây Ban Nha có 4,7% số chủng thuộc serotype 2, 4,7% thuộc serotype 4, 68,5% thuộc serotype 7, 1,6% thuộc serotype 11, và 26 chủng không xếp loại được.
Về độc lực, có một số serotype có tính độc yếu và dịch tễ của chúng không quan trọng ở một số nước nhất định, song lại có thể gây nên dịch ở một số nước khác (Brandreth và Smith, 1985)[14]. pleuropneumoniae là vi khuẩn cư trú ở đường hô hấp và có tính đặc hiệu với lợn.