Đặt vấn đề Ốc cạn là nhóm động vật Thân mềm chân bụng sống ở trên cạn, môi trường sống chủ yếu là trên mặt đất. Ốc cạn có đặc điểm di chuyển chậm, do đó chịu ảnh hưởng nhiều bởi các nhân tố môi trường sống, đặc biệt là các nhân tố trong môi trường đất, như kim loại nặng trong đất dẫn tới thay đổi về ĐDSH ở từng cấp độ. Ốc cạn có vai trò rất lớn trong hệ sinh thái vì bản thân nó là một mắt xích trong chuỗi thức ăn ở cạn, vừa là sinh vật tiêu thụ thức ăn có nguồn gốc từ thực vật bậc thấp và mùn bã ở tầng thảm mục, vừa là thức ăn cho động vật có xương sống như loài thú ăn thịt nhỏ hay một số loài chim, nếu thiếu đi mắt xích này sẽ có tác động mạnh đến hệ sinh thái. Trong hệ sinh thái, ốc cạn đóng vai trò là yếu tố chỉ thị sinh cảnh, chỉ thị về sự tác động của con người lên thảm thực vật.
Loài ốc cạn là nhóm động vật rất nhạy cảm với các tác động của con người cũng như BĐKH gây ra. Việc sử dụng ốc cạn làm sinh vật chỉ thị có thể đánh giá nhanh hàm lượng một số kim loại nặng trong đất, qua đó cảnh báo, dự báo ô nhiễm môi trường, từ đó có kế hoạch bảo tồn, bảo vệ ĐDSH, khai thác hợp lí nguồn lợi tự nhiên, bảo vệ môi trường giữ vững tính ổn định của hệ sinh thái. Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc của Việt Nam, có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú cả về trữ lượng và chất lượng như: quặng sắt, quặng chì, kẽm, vàng… Trên địa bàn tỉnh hiện có nhiều nhà máy đang hoạt động như: nhà máy tuyển luyện chì, kẽm Ngân Sơn; Khu liên hiệp gang thép của Công ty Cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Vạn Lợi; Nhà máy Luyện kim phi cốc của Công ty Cổ phần và Thiết bị toàn bộ Matexim… Đặc biệt là khu vực Chợ Đồn thuộc tỉnh Bắc Kạn hiện có các mỏ quặng sắt, chì, kẽm… với trữ lượng lớn. Những ngành công nghiệp này phát triển dẫn đến việc chất 2 lượng môi trường bị giảm thiểu do quá trình phát tán các kim loại nặng, chất ô nhiễm ra môi trường xung quanh.
Với tình hình như vậy ít nhiều cũng có ảnh hưởng nhất định đến môi trường đất và ĐDSH các nhóm sinh vật, trong đó có ốc cạn. Thành phần, dạng tồn tại, thời gian tác động và hàm lượng kim loại nặng trong đất có ảnh hưởng tới ĐDSH nói chung và ĐDSH ốc cạn nói riêng ở các mức độ khác nhau. Các kim loại nặng có thể tác động đến hình thái, sinh sản, tập tính, ảnh hưởng đến số lượng cá thể, sự phân bố, mật độ và đa dạng về thành phần loài ốc cạn. Do đó việc: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng sinh học thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên cạn với hàm lượng kẽm, cadimi trong đất tại xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất lớn.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định được mối quan hệ giữa ĐDSH thân mềm chân bụng trên cạn (ốc cạn) với hàm lượng kẽm, cadimi trong đất tại xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Nội dung nghiên cứu Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra cần tập trung thực hiện các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau: 1. Nghiên cứu, xác định hàm lượng kẽm, cadimi trong đất tại các điểm khảo sát thuộc xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; 2. Nghiên cứu, xác định các chỉ số đa dạng sinh học gồm thành phần loài, chỉ số đa dạng loài Margalef (d), chỉ số cân bằng Peilou (J'), chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (H') của ốc cạn tại các điểm khảo sát thuộc xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; 3.
Nghiên cứu, xác định mối quan hệ giữa đa dạng sinh học thân mềm chân bụng trên cạn (ốc cạn) với hàm lượng kẽm, cadimi trong đất tại xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu Bản Thi là một xã thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Xã Bản Thi có diện tích 64,7 km², dân số năm 1999 là 1796 người mật độ dân số đạt 28 người/km² [1].
Xã có vị trí: - Phía Bắc giáp xã Sơn Phú (Na Hang, Tuyên Quang), xã Xuân Lạc; - Phía Đông giáp xã Đồng Lạc, xã Quảng Bạch, xã Ngọc Phái; - Phía Nam giáp xã Yên Thượng, xã Yên Thịnh; - Phía Tây giáp xã Yên Thịnh, xã Thanh Tương (Na Hang, Tuyên Quang). Xã Bản Thi được chia thành các thôn bản: Hợp Tiến, Khuổi Kẹn, Kéo Nàng, Bản Nhượng, Than Tàu, Bản Nhài, Phia Khao, Phiêng Lằm. Hoạt động khai khoáng chì kẽm tại Bản Thi [1] Vùng mỏ chì - kẽm Phia Khao qua Pù Ngần - Nà Túm đến Lủng Váng của huyện Chợ Đồn là vùng mỏ lớn nhất Việt Nam, bên cạnh thành phần chính là chì (Pb), kẽm (Zn), còn có các quặng khác như: Fe, Ag, Au. nằm trong đá vôi, đá hoa, đá phiến - vôi.
Các mỏ chì - kẽm ở Chợ Đồn đã được khảo sát, thăm dò từ lâu. Nhiều mỏ đã được khai thác từ thời Pháp thuộc như Phia Khao, Chợ Điền. Hàm lượng Pb + Zn chiếm gần 80%, trữ lượng thăm dò của toàn vùng có hàm lượng hơn 14%. Ngoài các quặng chì kẽm Nà Tùm, Ba Bồ, Chợ Đồn còn có khoáng sắt và sắt - mangan có nguồn gốc phong hoá, hàm lượng không đồng đều giữa các mỏ.
Bản đồ hành chính xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Nguồn: maps.com) 5 Việc khai thác mỏ chì kẽm Chợ Điền được Công ty TNHH MTV Kim loại màu Thái Nguyên giao cho Công ty TNHH MTV Kim loại màu Bắc Kạn (địa chỉ xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn), là công ty con của Công ty TNHH MTV Kim loại màu Thái Nguyên. Công ty đang tiến hành khai thác tại các địa điểm Phia Khao, Lũng Hoài, Mán – Suốt, Po Pen, Bình Chai, Cao Bình, Sơn Thịnh, Lapointa với tổng diện tích là 920 ha, trong đó Phia Khao là điểm nằm trên địa bàn xã Bản Thi. Sản lượng khai thác từ năm 2009 đến tháng 5/2013 là: Sản lượng khai thác theo năm (Tấn quặng) TT Loại quặng 2009 2010 2011 2012 8/2013 1 Quặng o xít 10.225 Theo kết luận Thanh tra số 2404/KLTT-ĐCKS của Bộ Tài nguyên Môi trường ngày 15/10/2013 về việc chấp hành pháp luật về khoáng sản trong hoạt động khai thác tại mỏ kẽm chì Chợ Điền, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn của Công ty TNHH MTV Kim loại màu Thái Nguyên cho thấy: Công tác an toàn trong khai thác đã được Công ty TNHH MTV Kim loại màu Bắc Kạn thực hiện, đủ điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, đảm bảo điều kiện an ninh trật tự đối với các kho VLNCN, đủ điều kiện về an ninh trật tự để làm ngành nghề kinh doanh có điều kiện, có giấy phép sử dụng VLNCN. Về lĩnh vực bảo vệ môi trường, công ty đã ký quỹ đủ số tiền 199.000 đồng, thực hiện quan trắc khu vực sản xuất, môi trường xung quanh đúng tần suất quy định trong báo cáo ĐTM.
Tuy nhiên một số kết quả quan trắc tiếng ồn (đợt 1/2013), Chì (đợt 1/2012, IV/2012), BOD5 và COD (đợt 11/2013) cao hơn giới hạn cho phép. Công ty TNHH MTV Kim loại màu Thái Nguyên đã có Báo cáo về việc khắc phục tồn tại trong hoạt động khai thác mỏ chì kẽm Chợ Đồn. Bản đồ khoáng sản xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn [2] 7 1. Đặc điểm địa chất, khoáng sản của các mỏ, điểm khoáng sản tại xã Bản Thi [2] Điểm khoáng sản sắt - mangan tây bắc Keo Nàng 4.
Vị trí, tọa độ địa lý: 22o16'11"; 105o28'07" 5. Đặc điểm địa chất, khoáng sản: Đã phát hiện được 4 mạch quặng sắt mangan chạy theo phương TB - ĐN nằm trong đá phiến silic, phiến sericit, xen đá vôi thuộc hệ tầng Pia Phương (D1pp2). Trong đó có 3 mạch dài 2 - 3m, dày 0,1 - 0,4m và 1 vỉa lớn nhất dài 1700m, dày 0,2 - 0,7m. Các mạch quặng đều cắm về TN với góc dốc từ 20- 70o cá biệt tới 50-60o.
Các mạch quặng dạng thấu kính và dạng ổ càng xuống sâu theo hướng cắm Bề dày giảm. Quặng màu nâu đen, xám đen dạng bở rời, dạng bột, giả phân lớp xen trong mạch thạch anh mỏng và dăm kết thạch anh. Ngoài quặng gốc còn có mangan dạng thứ sinh lắng đọng trong các khe hẻm dày từ vài cm đến 50cm. Khoáng vật quặng chủ yếu là: psilomelan, piroluzit, manganit, ngoài ra còn có kẽm, thạch anh và calcit.
Nguồn gốc trầm tích. Điểm khoáng sản sắt - mangan tây nam Đèo An 6. Vị trí, tọa độ địa lý: 22o14'30"; 105o32'40" 7. Đặc điểm địa chất, khoáng sản: Quặng phân bố trong đá phiến silic, đá phiến sericit xen đá vôi thuộc hệ tầng Pia Phương (D1pp).
Đã phát hiện 1 thân quặng sắt - mangan dài 1000m, dày 5-7m, cắm về Nam -ĐN với góc dốc 20-25o. Quặng màu xám, xám tro, xám nhạt, nâu nhạt không có từ tính. Khoáng vật quặng gồm: psilomelan 75%, gơtit, limonit 24%. Hàm lượng: Fe = 38,63-46,56%, trung bình là 42,15%; Mn = 10,31- 20,79%, trung bình là 15%; Fe+Mn trung bình là 57%; SiO2 =4,33-30,93%, trung bình là 19,55%.
Điểm khoáng sản sắt - mangan Than Tàu 8. Vị trí, tọa độ địa lý: 22o14'10"; 105o32'30" 8 9. Đặc điểm địa chất, khoáng sản: Quặng phân bố trong đá phiến silic, đá phiến sericit xen đá vôi thuộc hệ tầng Pia Phương (D1pp). Đã phát hiện được 2 vỉa quặng sắt - mangan nằm xen trong đá phiến.
Vỉa 1 dạng thấu kính dày 7-17m, chỗ phình ra to nhất tới 50m. Hai vỉa quặng này có thế nằm cắm về Nam -ĐN với góc dốc 40-50o, dài 1-1,4km. Quặng phân lớp có màu nâu, nâu nhạt. Cấu tạo dạng bột, dạng đất.
Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là psilomelan 80%, limonit 20%, ít thạch anh. Hàm lượng: Fe=24,20-40,88%, trung bình là 30%; Mn=13,81-22,41, trung bình là 18,27%, Fe+Mn=40,49-54,67%, trung bình là 43,23%; SiO2=4,46-26,93%, trung bình là 8,35%. Ngoài ra mẫu quang phổ đá gốc cho Pb=0,03-3%; Zn=0,03-2%. Điểm khoáng sản sắt – mangan Bản Thi 10.
Vị trí, tọa độ địa lý: 22o13'31"; 105o30'48" 11. Đặc điểm địa chất, khoáng sản: Cách Bản Thi về phía tây nam 1km, đã phát hiện 2 vỉa quặng sắt-mangan nằm trong đá phiến sericit, đá phiến silic, đá vôi thuộc hệ tầng Pia Phương (D1pp). Vỉa 1 dài 1km, dày 20m chạy theo phương á vĩ tuyến, cắm về tây nam với góc dốc 20-30o. Vỉa 2 ở phía tây Bản Thi có chiều dài trên 100m, Bề dày 1-10m.
Quặng cấu tạo phân lớp không có từ tính, quặng màu xám, xám tro xen trong đá phiến. Thành phần khoáng vật quặng: psilomelan, limonit, gơtit.