Tác động của kim loại chì đến moina dubia trong hệ sinh thái nước ngọt hồ Hà Nội

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu tính độc của kim loại pb đối với moina dubia trong hệ sinh thái nước ngọt hồ hà nội, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Trường đại học

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

180
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Hiện trạng chất lượng nước mặt khu vực Hà Nội

1.2. Vai trò của động vật nổi trong hệ sinh thái

1.3. Sinh vật thử nghiệm Moina dubia

1.3.1. Sự phù hợp của Moina dubia là sinh vật thử nghiệm

1.3.2. Đặc điểm hình thái Moina dubia

1.4. Nghiên cứu độc học của Pb đến Moina dubia

1.4.1. Chì và tác động gây độc của Pb trong môi trường nước

1.4.2. Ảnh hưởng của môi trường tới ngưỡng độc cấp tính của chì đối với M.

1.5. Tổng quan về mô hình liên kết phối tử sinh học (BLM)

1.5.1. Sự phát triển của mô hình liên kết phối tử sinh học

1.5.2. Cấu trúc mô hình BLM

1.5.3. Nghiên cứu và ứng dụng BLM

1.6. Độc mạn tính của chì đối với sinh vật

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Tính chất nước hồ tự nhiên và phân bố Moina dubia

2.1.1. Phương pháp thu mẫu nước và phân tích mẫu nước

2.1.2. Phương pháp thu mẫu và phân loại động vật nổi

2.2. Thuần hóa sinh vật thử nghiệm

2.3. Phương pháp tính toán độc cấp tính của chì và ứng dụng mô hình BLM

2.3.1. Xác định ngưỡng độc cấp tính EC50 của chì trong phòng thí nghiệm

2.3.2. Giải thuật toán học của mô hình BLM

2.3.3. Xác định ảnh hưởng của nồng độ các ion Ca2+, Mg2+, Na+, K+, H+ tới EC50 của chì đối với M.

2.3.4. Xác định dung lượng hấp phụ tối đa của kim loại trên bề mặt sinh vật

2.3.5. Phương pháp hiệu chỉnh mô hình

2.4. Nghiên cứu độc mạn tính của kim loại đối với M.

2.5. Xử lý số liệu thống kê

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm chất lượng nước và hệ sinh thái hồ tự nhiên tại Hà Nội

3.1.1. Tính chất nước cơ bản tại các hồ Hà Nội

3.1.2. Thành phần và mật độ động vật nổi trong nước hồ Hà Nội

3.2. Kết quả nuôi thích nghi loại M. dubia trong phòng thí nghiệm

3.3. Ngưỡng độc cấp tính của chì và ứng dụng mô hình BLM

3.3.1. Ảnh hưởng của nồng độ các ion Ca2+, Mg2+, Na+, K+, H+ đến giá trị EC50 của chì đối với M.

3.3.2. Xác định hệ số hấp phụ lớn nhất của chì trên bề mặt M.

3.3.3. Tính toán các hệ số của mô hình và phương trình của mô hình

3.3.4. Hiệu chỉnh mô hình trong điều kiện nước nền tự nhiên

3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng mạn tính của chì lên cơ thể sinh vật

3.4.1. Tác động mạn tính của chì tới chỉ số phát triển của cơ thể của M.

3.4.2. Khả năng phục hồi các ảnh hưởng sau phơi nhiễm

3.5. Đề xuất tích hợp kết quả nghiên cứu vào quá trình đánh giá rủi ro ô nhiễm kim loại và đề xuất các biện pháp kiểm soát ô nhiễm kim loại trong môi trường nước

3.5.1. Đề xuất tích hợp kết quả của quả nghiên cứu trong đánh giá rủi ro ô nhiễm kim loại trong môi trường nước

3.5.2. Đề xuất các biện pháp kiểm soát ô nhiễm kim loại và hạn chế phát thải kim loại chì ra môi trường

KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của kim loại chì

Nghiên cứu về kim loại chì cho thấy đây là một trong những chất ô nhiễm phổ biến trong môi trường nước, đặc biệt là trong hệ sinh thái nước ngọt. Moina dubia, một loài động vật phù du, được chọn làm đối tượng nghiên cứu do tính nhạy cảm của nó với các chất ô nhiễm. Chì có khả năng gây độc cấp tính và mạn tính, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh lý của sinh vật. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ chì trong nước có thể gây ra các tác động tiêu cực đến sự sống còn của Moina dubia, dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học trong hệ sinh thái. Việc xác định ngưỡng độc cấp tính của chì là cần thiết để bảo vệ môi trường nước và duy trì sự cân bằng sinh thái.

1.1. Tác động môi trường của chì

Chì là một kim loại nặng không phân hủy sinh học, có khả năng tích tụ trong cơ thể sinh vật. Nghiên cứu cho thấy rằng ngay cả nồng độ chì thấp cũng có thể gây ra các tác động mạn tính, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản của Moina dubia. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng chì có thể gây ra đột biến gen và làm giảm khả năng sinh sản của sinh vật. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp bảo vệ môi trường và quản lý chất lượng nước hiệu quả.

II. Đánh giá độc tính của chì đối với Moina dubia

Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá độc tính của chì đối với Moina dubia thông qua các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy rằng nồng độ chì cao có thể gây ra độc cấp tính, với giá trị EC50 được xác định. Các yếu tố môi trường như pH và nồng độ ion cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến độc tính của chì. Việc sử dụng mô hình liên kết phối tử sinh học (BLM) giúp dự đoán chính xác hơn về tác động của chì trong môi trường nước. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các quy chuẩn về chất lượng nước và quản lý ô nhiễm kim loại.

2.1. Phương pháp nghiên cứu độc tính

Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc xác định nồng độ chì trong nước và đánh giá tác động của nó đến Moina dubia. Các thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện kiểm soát, cho phép xác định ngưỡng độc cấp tính và mạn tính. Kết quả cho thấy rằng chì có thể gây ra các tác động tiêu cực đến sự phát triển và sinh sản của sinh vật, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý ô nhiễm kim loại trong môi trường nước.

III. Đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các biện pháp bảo vệ môi trường cần được đề xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm chì trong hệ sinh thái nước ngọt. Việc quản lý chất lượng nước và kiểm soát nguồn phát thải chì là rất quan trọng. Các biện pháp như cải thiện quy trình xử lý nước thải, tăng cường giám sát chất lượng nước và nâng cao nhận thức cộng đồng về ô nhiễm kim loại sẽ góp phần bảo vệ Moina dubia và các sinh vật thủy sinh khác. Điều này không chỉ giúp duy trì đa dạng sinh học mà còn bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

3.1. Quản lý ô nhiễm kim loại

Quản lý ô nhiễm kim loại cần được thực hiện thông qua các chính sách và quy định chặt chẽ. Việc xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng nước phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam là cần thiết. Đồng thời, cần có các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về tác động của ô nhiễm kim loại đến sức khỏe và môi trường. Các nghiên cứu tiếp theo cũng cần được thực hiện để cập nhật thông tin và điều chỉnh các biện pháp quản lý cho phù hợp.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHÊN CỨU 1.1 Hiện trạng chất lượng nước mặt khu vực Hà Nội Hà Nội là vùng đất có vị trí đặc biệt có nhiều hồ bao quanh. Hồ Hà Nội có chức năng chính là thoát nước và điều tiết tiểu khí hậu cho thành phố. Tuy nhiên do quá trình phát triển đô thị, số lượng hồ nội thành Hà Nội đã giảm cả số lượng và tổng diện tích các hồ. Tại 6 quận lõi nội thành Hà Nội có 122 hồ năm 2010 và số lượng hồ suy giảm còn 112 hồ năm 2015.

Nhiều khảo sát cho thấy rằng việc xả thải trực tiếp nước thải sinh hoạt từ các hộ dân, nhà hàng quán xung quanh các hồ đã làm giảm chất lượng nước hồ [9]. Mật độ dân cư và các dịch vụ xung quanh đông đúc cùng với sự xâm lấn của rác thải cũng là một trong các nguyên nhân khiến cho chất lượng nước hồ suy giảm. Trong số 30 hồ nội thành Hà Nội được nghiên cứu từ 2010 đến 2015 giá trị BOD5 trong các hồ năm 2010 dao động từ 65 đến 80 mg/L. Trong khi đó năm 2015 giá trị BOD5 dao động từ 40 đến 60 mg/L.

TSS từ 45 đến 90 mg/L trong năm 2010 và từ 40 đến 80 mg/L 2015. Phần lớn các hồ Hà Nội đều ở mức phì dưỡng, với nồng độ Chlorophyll-a trong khoảng 80 đến 700 µg/L. Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR) cho thấy có 7 hồ ở mức độ phì dưỡng, 21 hồ ở mức độ siêu phì dưỡng và 2 hồ thiếu dữ liệu đánh giá. Một số hồ điển hình như hồ Tây, hàm lượng Chlorophyll-a từ 110 µg/L đến 120 µg/L.

Nghiên cứu mới nhất (2020) cho thấy hàm lượng Chlorophyll-a trong hồ Gươm là 114,8 µg/L đến hơn 700 µg/L[10]. Tuy chất lượng nước trong những giai đoạn từ 2010 đến 2015 được cải thiện nhưng các chỉ số chính như amoni, nitrat, photphat vẫn vượt quá QCVN 08-MT:2015/BTNMT (B1). Nguyên nhân chủ yếu là do các hồ nội thành có chức năng chính tiêu thoát nước, lượng nước thải chưa qua xử lý một số nhà hàng ven bờ, nước chảy tràn từ đường phố làm giảm chất lượng nước các hồ. Một số hồ có chức năng xử lý nước thải, tuy nhiên khi mật độ dân số đô thị và các hoạt động sinh hoạt và sản xuất tăng lên khiến cho lưu lượng nước thải đưa vào hồ vượt quá khả năng chịu tải của hồ, khiến các hồ trở lên phì dưỡng.

Đối với các hồ ở khu vực trung tâm, chức năng chủ yếu là điều tiết nước và tạo cảnh quan đô thị. Tuy nhiên, do các hoạt động xây dựng 8 luan an phát triển đô thị và ô nhiễm kéo dài, một số hồ bị thu hẹp, lấn chiếm, bồi lắng, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước của hồ. Tại Hà Nội, tính đến tháng 11/2016 mới có khoảng 20,62% tổng lượng nước thải sinh hoạt của thành phố được xử lý, còn lại trên 700.000 m3/ngày đêm vẫn chưa được xử lý mà thải trực tiếp vào môi trường [11]. Các khu dân cư xung quanh một số hồ chưa tiếp cận với hệ thống thu gom nước thải nên xả trực tiếp nước thải sinh hoạt vào hồ.

Phần lớn các hồ nội đô đều là các hồ kín, khả năng lưu thông kém nên các hồ này đều ô nhiễm chất hữu cơ và dinh dưỡng. Các dòng sông chảy quanh thành phố như sông Sét, sông Lừ, sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch cũng có chất lượng nước giảm sút và ô nhiễm ở nhiều mức độ khác nhau. Nồng độ các chất ô nhiễm chủ yếu là chỉ tiêu Nitơ tổng, Photpho tổng là 3,0-8,0 mg/L N , 0,15-0,56 mg/L P [12]. Nước các sông nội đô thực chất là hỗn hợp của nhiều dòng nước thải bao gồm nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt, nước thải dịch vụ và nước mưa chảy tràn[13].

Các nghiên cứu môi trường nước mặt các khu vực ngoại đô Hà Nội khẳng định các giếng khoan ở đồng bằng Bắc bộ có hàm lượng phốt phát cao hơn mức cho phép (0,4mg/L) chiếm tới 71%, hàm lượng amoni lên đến 23,30 mg/L (gấp >200 lần tiêu chuẩn cho phép) ở Tân Lập (Đan Phượng) vào mùa khô, còn có 17/32 mẫu có hàm lượng mangan (Mn) vượt quá hàm lượng tiêu chuẩn. Chất lượng nước mặt tại các khu vực ngoại thành dùng cho nông nghiệp có hàm lượng TSS: 7 - 1018,6 mg/L; COD: 6,0 - 331,6mg/L; Nitrit: 0,001 - 0,756mg N/L; nitrat: 0,01 - 2,61mg N/L; amoni: 0,02 - 3,11mg N/L; phốtphát: 0,01 - 2,50mgP/L; phốtpho tổng số: 0,1 - 5,0mgP/L [14]. Chất lượng nước mặt khu vực ngoại thành chủ yếu ảnh hưởng của các hoạt động nông nghiệp do dư thừa và rửa trôi hàm lượng phân bón và xả thải công nghiệp. Tuy vậy so sánh với các hồ tự nhiên khu vực ngoại thành, nơi không có các tác động của các hoạt động nông nghiệp, hoạt động xả thải, xâm lấn thì chất lượng nước tại các hồ nội đô và ven đô kém hơn rất nhiều.

Tại Việt Nam, tình trạng ô nhiễm chì trong các thủy vực xuất hiện phổ biến ở nhiều địa phương do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những hoạt động chính gây nên ô nhiễm chì tại nhiều thủy vực. Tại miền Bắc Việt Nam các mỏ khai thác kim loại tại các tỉnh Thái Nguyên, Lào Cai hiện 9 luan an đang khai thác với trữ lượng lớn. Do hiện trạng khai thác lộ thiên với công nghệ lạc hậu đa phần gây ô nhiễm tại các khu vực khai khoáng.

Nước thải từ hoạt động khai thác mỏ và chế biến các sản phẩm khai thác theo dòng nước ảnh hưởng tới thủy vực và môi trường đất, tích lũy vào các cây lương thực và gián tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Nồng độ chì trong giếng khoan của khu vực chợ Điền, nơi có các mỏ khoáng sản là 30 (0-121) mg/L, trong nước suối là 12 (0-32) mg/L và giếng đào là 13,5 (9-18) mg/l [15]. Các số liệu này đều vượt quy chuẩn Việt Nam QCVN 01/2009 do bộ Y Tế ban hành. Một số mẫu tại các giếng khoan, lượng chì lên tới 121 mg/l cao gấp 12 làn quy định của Bộ Y Tế.

Các kết quả quan trắc nồng độ chì ở nước mặt tại các địa phương ảnh hưởng bởi hoạt động mỏ cho thấy, nồng độ chì trong nước mặt quanh khu mỏ trung bình là 0,107 mg/l cao hơn mức quy định trong QCVN 01/2009 do bộ Y Tế ban hành. Trong số đó có những mẫu nước mặt có hàm lượng chì lên tới 0,564 mg/l và 0,423 mg/l cao gấp 5 lần quy chuẩn cho phép. Điều đó chứng tỏ, hoạt động khai thác và chế biến các khoáng sản mỏ đang trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm chì trong nước mặt Việt Nam. Một nghiên cứu khác về hàm lượng chì trong nước mặt tại các khu vực khác gần khu khai thác mỏ cho thấy, hàm lượng chì từ 0,353 đến mức 0,286 mg/l với tất cả các mẫu đều vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT loại B1.

Bên cạnh đó hoạt động tái chế đang gây ô chì trong nước mặt nghiệm trọng. Nồng độ chì trong nước mặt xung quanh các làng nghề tái chế ở Việt Nam thường cao gấp 1,5-1,6 lần quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT loại B1.Nguyên nhân chính là do đa số các làng nghề đều có quy mô nhỏ nên thường không có hệ thống xử lý nước thải và khí thải, dẫn đến trong số các làng nghề có tới 46% làng nghề ô nhiễm nặng và 17% ô nhiễm vừa bao gồm cả ô nhiễm chì. Không chỉ nước thải của các làng nghề tái chế, nước thải từ các khu công nghiệp do hạn chế trong quản lý xử lý nước thải nên cũng đã gây ra ô nhiễm chì trong nước mặt. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc và công sự (2020) cho thấy, tại khu vực tạp trung sản xuất công nghiệp như khai mỏ, hóa chất, xi măng, đóng tài ở Thủy Nguyên, Hải Phòng, nồng độ chì trong nước mặt trung bình 0,17 (0,003-0,39) mg/L phần lớn các mẫu vượt quá Quy chuẩn chất lương nước mặt cho phép QCVN 08:2008/BTNMT[16].

Cũng 10 luan an tại vị trí đó, nồng độ chì trong nước giếng cũng tăng cao 0,12 mg/l (0,01-0,42) cao hơn QCVN 01/2009 do bộ Y Tế ban hành. Chì là một kim loại được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống, sơn, mĩ phẩm, thiết bị kim loại vì vậy, chì từ nước thải sinh hoạt cũng là nguồn gây ô nhiễm cho nước mặt. Kết quả quan trắc môi trường nước mặt tại khu vực phía Nam năm 2020 của Tổng cục môi trường cho thấy, nồng độ chì tại Cầu Ông Buông - sông Sài Gòn; cảng Phú Định - sông Vàm Cỏ đếu vượt quá giới hạn cho phép QCVN 08-2015 B1. Nghiên cứu chỉ ra các sông này đều nhận lượng lớn nước thải từ các khu có mật độ dân số cao và các hộ kinh doanh phân tán nhỏ lẻ.

Ở Miền Bắc, nồng độ chì tại một số dòng sông ngoại thành Hà Nội ảnh hưởng do xả nước thải chưa qua xử lý như sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu trong khoảng 100-220 µg/L [17] cao hơn giới hạn trong quy chuẩn nước mặt QCVN 08-2015 B1. Chì đang trở thành nguyên tố kim loại có khả năng gây rủi ro cho hệ sinh thái trong đời sống hiện đại. Nồng độ kim loai Pb, trong các hồ Hà Nội cũng là một trong những chất ô nhiễm chủ yếu 3- 66µg/L có những điểm lớn hơn quy chuẩn cho phép về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (B1)[18]. Nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển, nơi nền công nghiệp sản xuất và tiêu dùng đang tăng trưởng mạnh, ô nhiễm kim loại chì ngày càng trở nên phổ biến.

Tóm lại: Chất lượng nước mặt khu vực nội thành Hà Nội bị suy thoái do ảnh hưởng của các dòng nước thải từ nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và nước thải nông nghiệp tại các vùng ven đô. Tại các nơi tiếp nhận nguồn thải xuất hiện ô nhiễm hữu cơ, dư thừa nitơ và photpho, và nguy cơ cao ô nhiễm kim loại như Mn, Pb, Cd. Trái lại, chất lượng nước các hồ tự nhiên ngoại thành Hà Nôi, nơi chịu ảnh hưởng ít hơn từ các hoạt động sản xuất và nông nghiệp thì tốt hơn. Tại một số khu vực nồng độ Pb được tìm thấy trong nước mặt là vượt quá quy chuẩn cho phép.

Hiện trạng chất lượng nước mặt hiện nay của Hà Nội có thể sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái và gián tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Tác động của kim loại chì đến moina dubia trong hệ sinh thái nước ngọt hồ Hà Nội" của tác giả Phạm Thị Hồng, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Hoàng Thị Thu Hương và TS. Đinh Văn Khương, nghiên cứu về ảnh hưởng của kim loại chì đến loài động vật giáp xác moina dubia trong môi trường nước ngọt. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ tác động của ô nhiễm kim loại nặng đến sinh thái mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc bảo vệ và quản lý hệ sinh thái nước ngọt tại Hà Nội. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách mà ô nhiễm kim loại nặng ảnh hưởng đến các loài sinh vật, từ đó nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến sinh thái và môi trường, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế", nơi nghiên cứu về các loài động vật thân mềm trong hệ sinh thái nước ngọt. Bên cạnh đó, bài viết "Luận văn thạc sĩ về phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về chất lượng nước và các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế cộng đồng lưu vực sông Kỳ Lộ" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái và cộng đồng sống trong khu vực đó. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề môi trường và sinh thái hiện nay.