Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu (từ trang 4 đến trang 20) Chƣơng 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (từ trang 21 đến trang 27) Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận (từ trang 28 đến trang 65) Kết luận và đề nghị (trang 66) Tài liệu tham khảo e 4 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây đậu tƣơng 1. Nguồn gốc và phân loại đậu tương Cây đậu tương thuộc họ Đậu (Fabaceae), bộ Fabales là một trong những cây trồng xuất hiện sớm nhấtcùng với nền văn minh của nhân loại, đậu tương có tên khoa học là Glycine Max (L) Merrill.
Cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ XI trước công nguyên. Từ Trung Quốc cây đậu tương được phân bố đến nhiều nước trên thế giới như Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Mỹ, Brazin, Acgentina… ở Việt Nam cây đậu tương được du nhập từ Trung Quốc rất sớm. Do xuất phát từ những yêu cầu, căn cứ và tiêu chí phân loại khác nhau nên cũng có nhiều cách phân loại. Nhưng đến nay, hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc thể được nhiều người sử dụng.
Theo hệ thống này, ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja. Chi Glycine được chia ra thành 7 loài hoang dại lâu năm, và chi phụ Soja được chia ra làm 2 loài: loài đậu tương trồng trọt Glycine (L.) Merrill và loài hoang dại hàng năm G. Đặc điểm hình thái của đậu tương Rễ đậu tương (đậu nành) là rễ cọc có rễ chính và rễ phụ. Trên rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ.
Trên rễ chính và rễ phụ có nhiều nốt sần cố định đạm do vi khuẩn cộng sinh Rhizobium japonicum, có khả năng cố định nitơ cung cấp đạm cho cây và có vai trò trong việc cải tạo đất. Thân cây đậu tương thuộc thân thảo, có hình tròn, trên thân có nhiều lông nhỏ. Màu sắc của thân khi còn non có liên quan chặt chẽ với màu sắc của hoa sau này. Nếu thân lúc còn non màu xanh thì hoa màu trắng và nếu khi còn non thân có màu tím thì hoa có màu tím đỏ.
Thân cây trung bình 14-15 lóng. e 5 Lá đậu tương gồm 3 loại lá: lá mầm, lá đơn và lá kép (có 3 lá chét đôi khi có 4-5 lá chét). Hoa mọc thành chùm ở nách lá, mỗi chùm hoa có từ 10-15 hoa, có màu trắng hoặc tím. Hoa đậu tương tự thụ phấn hoàn toàn.
Quả có thể thẳng hoặc cong có nhiều lông. Mỗi chùm hoa có từ 2-20 quả và có tới 400 quả trên một cây. Một quả chứa từ 1-5 hạt nhưng thông thường là 2-3, vỏ hạt đậu tương có màu nâu, đen, vàng, xanh. Khối lượng hạt rất đa dạng từ 20-400 mg/hạt.
Hạt đậu tương không có nội nhũ mà chỉ có một lớp vỏ bao quanh phôi và 2 lá mầm [4], [7]. Đậu tương là loại cây trồng tương đối mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh. Trong tập đoàn đậu tương có những giống chỉ trồng vào vụ hè, có những giống chỉ trồng vào vụ đông. Trong quá trình sinh trưởng của đậu tương chịu tác động bởi nhiều yếu tố: nhiệt độ, ánh sáng, đất, độ ẩm….
Thành phần dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cây đậu tương 1. Thành phần dinh dưỡng của đậu tương Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng tương đối cao, gồm có protein, lipid, hydratcacbon và các chất khoáng. Trong hạt đậu tương, hàm lượng protein chiếm khoảng 36-44%, nhiều hơn bất cứ các loại thực phẩm nào, kể cả thịt động vật. Protein của đậu tương là loại protein dễ tiêu và phẩm chất tốt nhất trong số các protein của thực vật.
Protein đậu tương hội tụ đủ các thành phần axit amin thiết yếu với hàm lượng cao, đậu tương được coi là một nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các axit amin cần thiết cho cơ thể. Đậu tương là loại thực phẩm nhiều protein nhưng lại ít chất béo bão hòa và hoàn toàn không có cholesterol. Các thực phẩm làm từ đậu tương được xem là một loại “thịt không xương” vì chứa tỉ lệ đạm thực vật dồi dào, có thể thay thế cho nguồn đạm từ thịt động vật. e 6 Hạt đậu tương cũng rất giàu vitamin như vitamin B 1, B2, B3, B6, A, E, D,… và các chất khoáng như canxi, sắt, kẽm,… hàm lượng chất xơ trong hạt đậu tương cũng khá cao [4].
Giá trị sử dụng Đậu tương có nhiều giá trị sử dụng khác nhau, từ hạt đậu tương người ta đã chế biến được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại làm thực phẩm được chế biến bằng cả phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dưới dạng tươi, khô và lên men như làm giá, đậu phụ, tương, xì dầu. đến các sản phẩm cao cấp khác như cà phê đậu tương, bánh kẹo và thịt nhân tạo. Đậu tương còn là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột. Đậu tương là thức ăn tốt cho những người bị bệnh đái đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng.
Ngoài ra, đậu tương còn là loại thức ăn tốt cho gia súc, cứ 1 kg hạt đậu tương là tương ứng với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi. Không chỉ hạt của đậu tương mà thân, lá và quả cũng có hàm lượng đạm khá cao nên thân, lá tươi của đậu tượng có thể làm thức ăn cho gia súc đem lại giá trị năng suất rất cao. Đậu tương còn được sử dụng trong việc cải tạo đất vì nhờ vào các nốt sần trên rễ cây. Nếu bố trí việc trồng cây đậu tương hợp lý thì sẽ có tác dụng đối với việc trồng cây đợt sau, trong việc góp phần tăng năng suất cho cây trồng và giảm chi phí cho bón phân đạm [13].
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là cây trồng lấy hạt, cung cấp dầu quan trọng bậc nhất trong các cây lấy dầu. Ngoài ra trồng đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất vì vậy đậu tương được trồng ở khắp các châu lục. Trên thế giới, diện tích đậu tương ngày càng được mở rộng, năng suất e 7 ngày càng tăng.
Đậu tương có mặt ở khắp các châu lục, tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ, tiếp đến là châu Á và một số nơi khác trên thế giới. Hiện nay Mỹ vẫn là quốc gia có sản lượng đậu tương cao nhất trên thế giới, chiếm 31,9% tổng sản lượng toàn thế giới. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên Thế giới năm 2015 % so với tổng sản lƣợng Tên nƣớc Sản lƣợng (triệu tấn) toàn thế giới Mỹ 93,08 31,90 Brazil 85,00 27,90 Agrentina 53,50 17,60 Trung Quốc 12,50 4,84 Ấn Độ 12,00 4,10 Các nước khác 16,12 5,29 (Nguồn: Theo USDA của Bộ Nông nghiệp Mỹ năm 2015) Hàng năm trên thế giới trồng thêm khoảng hơn 3 triệu ha với năng suất bình quân khá cao 22-25 tạ/ha đã tạo ra một sản lượng đậu tương gấp hơn 2 lần so với 20 năm về trước. Các nước trồng đậu tương đứng hàng đầu trên thế giới về diện tích gieo trồng và sản lượng là Mỹ, Braxin, Acgentina và Trung Quốc [4].
Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Ở Việt Nam, cây đậu tương được trồng tương đối sớm và chủ yếu mang tính tự cung tự cấp. Những năm gần đây, diện tích đất trồng và năng suất của đậu tương tăng khá nhanh. Diện tích đất gieo trồng được mở rộng và được chia thành 6 vùng sản xuất chính: vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất chiếm 26,2% diện tích đậu tương cả nước, miền núi Bắc Bộ 24,7%; đồng bằng sông Hồng 17,5%; đồng bằng sông Cửu Long 12,4%; còn lại là vùng đồng bằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên chiếm 33,4%. Về sản lượng, 3 vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long e 8 chiếm 63% sản lượng đậu tương cả nước.
Đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long với 12,4% diện tích nhưng lại chiếm 20,9% sản lượng đậu tương cả nước, năng suất bình quân đạt 16 tạ/ha [13]. Diện tích, năng suất và sản lƣợng đậu tƣơng Việt Nam từ 2015–2018 Chỉ tiêu 2015 2016 2017 2018 Diện tích (nghìn/ha) 100,8 94 100 105 Sản lượng (tấn/ha) 1,45 1,57 1,57 1,6 Tổng sản lượng (nghìn tấn/ha) 146,4 147,5 157 168 (Nguồn: Tổng cục Thống kê (GSO), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Tại Bình Định, đậu tương là cây trồng truyền thống và có đầu ra khá thuận lợi, đặc biệt đối với những vùng ít nước vì có một số giống đậu tương có khả năng chịu hạn rất tốt. Nhưng năng suất của đậu tương vẫn chưa cao và hiệu quả thấp, thường nhiễm nhiều sâu bệnh. Vì vậy, năm 2010, Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ tiếp tục tổ chức khảo nghiệm 20 giống đậu tương để chọn tạo các giống đậu tương mới vừa có tiềm năng năng suất cao, vừa có hàm lượng protein cao để bổ sung vào bộ giống của tỉnh, đáp ứng nhu cầu sản xuất của nông dân địa phương.
Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trong đất và ô nhiễm chì trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trong đất và ô nhiễm kim loại chì trên thế giới Theo Liên hiệp Hóa học và ứng dụng (IUPAC), kim loại nặng là những nguyên tố kim loại có tỷ trọng lớn hơn 5 mg/cm3. Một số nguyên tố kim loại nặng thường gặp như chì (Pb), sắt (Fe), đồng (Cu), kẽm (Zn), thủy ngân (Hg), crôm (Cr), cadimi (Cd)…(Lê Huy Bá, 2008) [1]. Đất ô nhiễm kim loại nặng (KLN) là mối quan tâm ở hầu hết các quốc gia.
Phục hồi sinh thái đất bị ô nhiễm do các hoạt động của con người đang là e 9 một thách thức lớn trong những thập kỷ gần đây. Khoảng 1/6 tổng diện tích đất nông nghiệp ở Trung Quốc bị ô nhiễm KLN, hàm lượng KLN trong đất canh tác nông nghiệp vượt tiêu chuẩn chiếm 16,1%. Khoảng 3,5 triệu địa điểm ở Châu Âu được ước tính có khả năng bị ô nhiễm với 0,5 triệu địa điểm bị ô nhiễm cao và cần được khắc phục.000 điểm ô nhiễm đất ở các nước châu Âu. Tại Mỹ, khoảng 600.000 ha đất đã bị ô nhiễm KLN.000 vùng công nghiệp ở Mỹ trong tình trạng ô nhiễm, trong đó trên 40% là ô nhiễm KLN như Pb, Cd, Cr, As [9].
Ở Phần Lan, hầu hết ô nhiễm KLN trong đất là do nước thải từ chế biến thực vật, nhà máy cưa, chế biến gỗ, khu vực săn bắn, gara ô tô và kho phế liệu.