Đặt vấn đề Nhện (Araneae, Arachnida) đã được ghi nhận xuất hiện trên Trái Đất cách đây khoảng 400 triệu năm. Nhện phân bố rộng khắp và chiếm ưu thế về số lượng loài cũng như số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện. Chúng hầu như được tìm thấy ở tất cả các môi trường sống trên cạn (như hệ sinh thái đài nguyên, rừng taiga, rừng mưa nhiệt đới, sa mạc, v.v) và một số môi trường sống dưới nước: các hệ sinh thái ngập nước và bán ngập nước trên trái đất. Một số loài nhện là thành viên của một họ nhện có gốc Á - Âu (Argyronetidae), được tìm thấy ở môi trường nước ngọt và biển (Foelix, 1996).
Một số ít trong chúng đã tiến hóa đặc biệt hơn so với đồng loại để có thể tồn tại trong vài môi trường sống khắc nghiệt. Nhện còn được tìm thấy cả trên đỉnh núi Everest, là một trong số ít loài động vật có thể sống sót ở cực Bắc. Nhện được tìm thấy ở mọi nơi: trong nhà, vườn cây, trên cánh đồng lúa, công viên, trong rừng, ven suối,… Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Clause I., 1996, Jean – Pierre Maelfaitl, 1997, nhện được coi là một trong những sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi trường khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái. Theo Barrion and Litsinger (1995), bộ nhện (Araneae, Arachnida) được xếp vào trong nhóm động vật có sự biến động mật độ cao và độ đa dạng đứng thứ bảy thế giới.
Các nghiên cứu hệ ĐVKXS nói chung và nhện nói riêng ở các khu bảo tồn, VQG đang ngày trở nên quan trọng dù chỉ mới phát triển bước đầu và tiến hành ở mức kiểm kê. Những khảo sát khu hệ nhện Việt Nam của nhiều tác giả trong nước và ngoài nước còn khá hạn chế và chủ yếu tập trung vào liệt kê danh sách thành phần loài, công bố loài mới (Phạm Đình Sắc, 2005). Là vườn quốc gia được thành lập đầu tiên trong cả nước, Vườn quốc gia (VQG) Cúc Phương có hệ động thực vật vô cùng đa dạng và phong phú, đặc biệt có hơn 1800 loài côn trùng thuộc 200 họ, nhiều loài côn trùng có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên những nghiên cứu về nhện tại VQG Cúc Phương còn chưa nhiều, chưa 1 đánh giá đầy đủ sự đa dạng khu hệ nhện tại khu vực này.
Các nghiên cứu trước đây mới chỉ dừng lại ở việc kiểm kê, thu bắt định tính mà chưa có những nghiên cứu về mặt sinh thái nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của chất lượng môi trường đến đa dạng nhện (Lin & Pham & Li, 2009). Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng nhện ở Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng (tỉnh Ninh Bình)” nhằm góp phần bổ sung dẫn liệu cho những nghiên cứu về nhện tại địa điểm nghiên cứu này. Mục tiêu của đề tài Xác định thành phần loài và đặc điểm phân bố của nhện tại một số sinh cảnh điển hình của khu vực VQG Cúc Phương, phân bố nhện theo mùa, góp phần khôi phục, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng trong các hệ sinh thái ở khu vực nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu - Thành phần loài nhện tại VQG Cúc Phương tỉnh Ninh Bình.
- Phân bố của các loài nhện theo sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng keo tai tượng, trảng cỏ cây bụi. - Phân bố nhện theo mùa: mùa mưa, mùa khô, khoảng thời gian giữa 2 mùa mưa và mùa khô. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về nhện Tên khoa học: Araneae Tên tiếng Anh: Spider Tên Việt Nam: Nhện Bộ nhện (Araneae) là một bộ lớn thuộc lớp hình nhện (Arachnida), ngành chân khớp (Arthropoda).
Bộ nhện chiếm ưu thế về số lượng loài và số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện (bao gồm: Acarina, Amblypygi, Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpiones, Ricinulei, Schizomida, Scopionoides, Solifugae, Thelyphonida). Nhện được chia làm hai phân bộ dựa vào số đôi phổi sách (book-lungs) thuộc cơ quan hô hấp và số cặp núm nhả tơ (spinnerets) thuộc bộ phận nhả tơ. Cụ thể Platnick (2014) đã chia hai phân bộ nhện là: Mygalomorphae: có 2 đôi phổi sách và 2 cặp núm nhả tơ Araneomorphae: có 1 đôi phổi sách và 3 cặp núm nhả tơ Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid và Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và Aranei. Đến năm 1801, Latreille đưa ra tên bộ nhện là Araneida.
Năm 1862, Dallas cũng nêu ra tên của bộ nhện là Araneida. Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay (Platnick. Đặc điểm hình thái học của nhện Đặc điểm nổi bật của nhện là có 4 đôi chân (trong khi côn trùng có 3 đôi chân), cơ thể chia 2 phần rõ rệt: phần giáp đầu – ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen) được nối với nhau bởi cuống bụng (pedicel). - Phần đầu - ngực bao gồm tấm lưng ngực và tấm bụng ngực.
+ Phía trên đầu của giáp đầu - ngực có: miệng, 1 đôi chân kìm, 1 đôi chân xúc giác. 3 Chân số I Chân xúc giác (xúc biện) Chân kìm Chân số II Mắt Giáp đầu ngực Bụng Bộ phận nhả tơ Chân số III Hậu môn Chân số IV Hình 1: Hình thái bên ngoài của nhện (mặt lƣng) Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực, xếp dọc hai bên ức theo thứ tự từ trước ra sau là I, II, III và IV. Mỗi chân gồm bảy đốt: háng (coax) nối liền với ngực, chuyển (trochanter), đùi (femur), gối (patella), cẳng hay ống (tibia), bàn trong hay đốt bàn (metatasus) và bàn ngoài hay đốt cổ chân (tarsus). Thông thường đốt bàn ngoài mang hai hoặc ba móng vuốt (mấu nhọn) (claws) tùy theo loài, nếu có ba vuốt thì hai trong số ba vuốt tạo thành một đôi và vuốt còn lại nằm ở giữa.
Các vuốt có thể không có răng lược hoặc có răng lược để kéo tơ. 4 Đốt đầu gối Đốt đùi Đốt ống chân Đốt chuyển Đốt háng Đốt cổ chân Đốt bàn chân Móng vuốt Hình 2: Các bộ phận của chân nhện. Ngoài ra, chân nhện còn được phủ bởi lông, túm lông hoặc gai cứng đặc biệt. Chiều dài, hình dạng của các chân, hình dáng và vị trí cũng như số lượng các lông hay gai là những đặc điểm được sử dụng trong phân loại và định danh nhện.
+ Tấm lưng ngực có vị trí của mắt. Phần lớn các nhóm nhện thường gặp có 8 mắt xếp thành hai hàng phía trước phần đầu: hàng mắt trước (AE) và hàng mắt sau (PE). Mỗi hàng gồm bốn mắt: hai mắt trong (ME) và hai mắt ngoài (LE). Vì thế, trong phân loại nhện, người ta gọi tên như sau: bốn mắt của hàng mắt trước gồm một cặp mắt trong (AME) và một cặp mắt ngoài (ALE), bốn mắt của hàng sau gồm một cặp trong (PME) và một cặp ngoài (PLE).
Hai mắt trong của hàng mắt trước và hai mắt trong của hàng mắt sau tạo thành tứ giác mắt (MOQ). Hình dạng, kích thước, vị trí, khoảng cách của các mắt và tứ giác mắt được sử dụng trong phân loại nhện. Ngoài ra có những nhóm nhện có 6 hoặc 4 hoặc 2 mắt.Hình vẽ cách sắp xếp mắt của một số họ nhện (http://www.us/articles/identification) 1. Họ Agelenidae, giống Eratigena 2.
Họ Agelenidae, giống Agelenopsis 3. Họ Salticidae, giống Lyssomanes 15. Họ Selenopidae, giống Selenops 4. Họ Sparassidae, giống Heteropoda 5.
Họ Pisauridae, giống Dolomedes 17. Họ Sparassidae, giống Olios 6. Họ Pisauridae, giống Pisaurina 18. Họ Sicariidae, giống Loxosceles 7.
Họ Uloboridae, giống Hyptiotes 8. Họ Zoropsidae, species Zoropsis 9. Họ Philodromidae spinimana 10. Họ Deinopidae, species Deinopis spinosa 11.
Họ Tetragnathidae, giống Tetragnatha 22. Họ Diguetidae, giống Diguetia 12. Họ Thomisidae, giống Xysticus 23. Họ Antrodiaetidae, giống Antrodiaetus 24.
Họ Scytodidae 6 Cơ quan sinh dục con cái nằm mặt dưới của bụng. Cơ quan sinh dục con đực trưởng thành nằm ở hai đốt cuối cùng của đôi chân xúc giác, hai đốt này phình to và có cấu tạo phức tạp. Con cái có chân xúc giác bình thường, thuôn dài đều. Dippenaar-Schoeman, 2007) Hình 4.
Cơ quan sinh dục cái Hình 5. Cơ quan sinh dục đực Việc phân loại nhện chỉ tiến hành trên nhện trưởng thành, đặc điểm cơ bản nhất sử dụng trong phân loại đến cấp độ giống và loài là xúc biện của con đực (đốt ngoài cùng của chân xúc giác) và bộ phận sinh dục của con cái. Phần cuối của bụng là hậu môn và bộ phận nhả tơ (núm nhả tơ – Spinnerests). Bộ phận nhả tơ thường có 2 ống nhả tơ bên trước (ALS), 2 ống nhả tơ bên sau (PLS), một số loài có thêm 2 ống nhả tơ giữa sau (PMS).
Một số loài nhện thuộc bộ Araneomorphae có tấm nhả tơ (cribellum – cribella) ở phía trước bộ phận nhả tơ. Vị trí tấm nhả tơ (cribellum) và núm nhả tơ (spinnerets) 1. Đặc điểm cấu tạo bên trong của nhện Bên trong nhện chứa hệ thống tiêu hóa và bài tiết, tuần hoàn, hô hấp, bộ máy sinh dục và các giác quan có liên quan đến hệ thần kinh và các tuyến nội tiết. Nhện mang tuyến tơ nằm dưới cuống bụng.
Theo Rod & Ken (1998), công dụng của tơ nhện là tạo thành mạng lưới để bắt mồi. hoặc tạo thành kén để bảo vệ trứng (Gasterocantha, Plesippus, Heteropoda,…) hoặc dùng để di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Tất cả các loài nhện đều có bộ phận sản xuất tơ. Bản chất của tơ nhện là Protein, được cấu thành bởi nhiều amino acid, trong đó có một số amino acid đặc biệt nên tơ nhện có độ bền rất vững chắc đã được nghiên cứu sử dụng trong sản xuất áo quân sự và kính chống đạn.
So sánh các vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo thì tơ nhện là vật liệu đáng chú ý: nó có độ bền và sự dẻo dai gấp 2 đến 3 lần xenlulo, cao su, xương, gân và bằng 1/2 độ bền của sắt thép. Vải sản xuất từ tơ nhện cũng như tơ tằm để thay thế một số loại vải từ sợi hoá học gây ô nhiễm môi trường. Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện Theo Foelix (1996) nhện phát triển biến thái không hoàn toàn qua 3 giai đoạn: trứng – con non – nhện trưởng thành. Nhện non phải qua nhiều lần lột xác 8 mới trưởng thành và hình thành bộ phận sinh dục đực và cái.
Nhện đực khi đến tuổi thành thục thường ngừng tìm kiếm thức ăn và chuyên tâm vào việc tìm kiếm bạn đời. Nhện đực chuyển túi tinh cho nhện cái và bị chết do chính nhện cái ăn thịt. Sau giao phối nhện cái đẻ trứng thành ổ và bao bọc ổ trứng bằng tơ nhện do chính mình tạo ra. Trứng của mỗi loài có sự khác nhau về số lượng và kích thước.