MỞ ĐẦU Tỉnh Quảng Trị thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, có diện tích rừng chiếm trên 50% tổng diện tích toàn tỉnh. Quảng Trị ạng sinh học (ĐDSH) cao với hàng nghìn loài động, thực vậ ặc hữ - ,. Tuy nhiên, sau nhiều năm chiến tranh ác liệt kéo dài, đời sống kinh tế của ngƣời dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số nhƣ Vân Kiề ất nhiều khó khăn. Sự gia tăng dân số ạn săn bắt động vật hoang dã, chặt phá rừng và phát rừng làm rẫy bất hợp pháp kéo dài trong nhiề ể ồn tài nguyên rừ (WWF), BTTN (Birdlife International),.
(KBTTN) BHH đƣợc thành lậ "Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH; Bảo vệ quần thể của các loài động thực vật quí hiếm, các loài đang bị đe dọa, các loài đặc hữu cho Việt Nam và HSTR núi thấp Miền Trung. Duy trì giá trị ức năng phòng hộ đầu nguồn của khu vực đối với các con sông lớn nhƣ Sông Bến Hải, Rào Quán, Cam Lộ , 2006). Khu bảo tồn nằm ở phía bắc huyện Hƣớng Hóa, là vùng địa hình cao nhất của tỉnh Quảng Trị với hai đỉnh núi cao nổi trội là đỉnh Sa Mù (1.550 m) và đỉnh Voi Mẹp (1. Toàn bộ KBTTN BHH đƣợc bao phủ bở ờng xanh mƣa mùa nhiệt đới ở độ cao dƣới 1.000m và kiểu rừng kín thƣờng xanh á nhiệt đới ở độ cao trên 1.
ột phần thảm 2 rừng nguyên đã bị ừng thứ (Mahood, et al. ủ TR trong KBTTN BHH, luận án thực hiện luận án ”Nghiên cứu đa dạng sinh họ trị dịch vụ ệ sinh thái rừ ảo tồn thiên nhiên Bắc Hướ ”. : - Nghiên cứu tính ĐDSH về loài và HSTR nhằm xác định các giá trị bảo tồn quan trọng của KBTTN BHH. - Bƣớc đầu nghiên cứu và lƣợng hóa đƣợ ảnh quan và giá trị chống xói mòn đất của KBTTN BHH.
- Xác định sinh cảnh, loài có giá trị bảo tồn cao và các tác động tiêu cực để đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả KBTTN BHH. : - ấ ẫn liệu khoa họ ề ;C ,.) - HSTR trong KBTTN BHH ống xói mòn đất. - BHH 3 x ả R theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, ngày 24 tháng 9 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính phủ. : - Luận án sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu hiện đại, lần đầu tiên đƣợc áp dụng cho nghiên cứu ĐDSH tại tỉnh Quảng Trị nhƣ phƣơng pháp bẫy ảnh, phƣơng pháp phân tích GIS để xác định các sinh cảnh ƣu thích của một số loài có giá trị bảo tồn cao, sử dụng ảnh viễn thám trong nghiên cứu HSTR… - Lần đầu tiên giá trị chống xói mòn đất và giá trị cảnh quan ở KBTTN BHH đƣợc lƣợng hóa, từ đó đã chứng minh rõ vai trò phòng hộ, cảnh quan môi trƣờng rừng.
Vì vậy, những cơ quan, ngƣời hƣởng lợi từ các DVMT sẽ tự nguyện chi trả, đây là điểm đóng góp quan trọng cho việc thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng tại tỉnh Quảng Trị. - Lần đầu tiên quan điểm về phân chia các phân khu chức năng trong KBTTN đƣợc đề xuất thực hiện theo quan điểm về BTTN (phân chia theo mục tiêu bảo tồn loài dựa trên tập tính sinh thái và sinh cảnh yêu thích của loài), ví dụ: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt đƣợc phân chia theo mục đích bảo tồn HST cụ thể, sinh cảnh cho loài ƣu tiên bảo tồn hiện có trong KBTTN, mà có thể không liền nhau; Đồng thời, các khu vực mà rừng và đất rừng chỉ ở trạng thái Ia, Ib, Ic,IIa chƣa chắc đã cần phục hồi lại rừng giàu; Vì đây là sinh cảnh sống phù hợp của một số loài quí hiếm nhƣ loài móng guốc, các loài gà… khác với quan điểm lâm sinh là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt thƣờng là khu vực rừng nguyên sinh hay rừng ở trạng thái rừng giàu. Và đây là đề xuất đƣợc áp dụng cho việc quy hoạch lại các phân khu chức năng của KBTTN BHH, đồng thời có thể áp dụng cho các KBTTN khác. : 105 (4 - u (25 trang); Chƣơng - (20 trang); Chƣơng 3 - (52 , tồn tạ ế (2 trang); Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án (1 trang); trong nƣớc và nƣớc ngoài (10 trang) (62 : 19 , 20 hình và 24 hình ảnh minh họa.1 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học Công ƣớc Đa dạng sinh học (1992): "ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)”.
Đa dạng loài là sự phong phú về số loài và trữ lƣợng các loài trong các HST hay khu vực nhất định. Đa dạng loài có tầm quan trọng trong việc duy trì tính ổn định của các quần thể và HST. Đa dạng loài hoàn toàn bao trùm đa dạng gen và có xu hƣớng quan hệ thuận chiều với đa dạng HST. Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của loài ngƣời phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên của trái đất, nhấ , con ngƣờ ụng trong việc khai thác các nguồn tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đế ả là sự suy thoái ĐDSH trên trái đất đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Nguyên nhân sâu xa củ ự tăng dân số quá nhanh trên trái đất dẫn đến việc khác thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng tăng. (in-situ (ex-situ có tính bổ sung cho nhau. Bảo tồn tại chỗ là bảo tồn các HST và nơi cƣ trú tự khôi phục số lƣợng các loài trong môi trƣờng tự nhiên của chúng. Bảo tồn tại chỗ 5 đƣợc xem là phƣơng thức bảo tồn phù hợp nhất vì nó đảm bảo đƣợc điều kiện sống phù hợp nhất cho các loài và duy trì tiềm năng tiến hoá của các loài và các HST tự nhiên.
Bảo tồ ẹn toàn bộ một quần xã sinh vật (không phải chỉ từng loài riêng biệt của quần xã) là cách bảo tồn có hiệu quả nhất tính ĐDSH của mỗi khu vực và trên toàn cầu. Một trong các hình thức bảo vệ tại chỗ phổ biến nhất hiện nay trên thế giới là xây dựng và quản lý tốt hệ thống các khu bảo vệ thiên nhiên. Ngoài ra, bảo tồn tại chỗ còn bao gồm cả bảo tồn các HST bên ngoài các KBTTN. : Đối với nhiều loài bị đe dọa thì bảo tồn tại chỗ chƣa phải là giải pháp khả thi do những áp lực của con ngƣời ngày cành gia tăng.
Nếu quần thể còn sót lại là quá nhỏ để tiếp tục tồn tại, hoặc nếu nhƣ tất cả những cá thể còn sót lại chỉ có ở bên ngoài các khu vực đƣợc bảo vệ thì bảo tồn tại chỗ sẽ không có hiệu quả. Trong những trƣờng hợp này, giải pháp duy nhất để ngăn cho loài khỏi bị tuyệt chủng là chuyển các cá thể đó vào bảo tồn trong những nơi có điều kiện nuôi giữ nhân tạo dƣới sự giám sát của con ngƣời. Giải pháp này gọi là bảo tồn chuyển chỗ. Các cơ sở để bảo tồn chuyển chỗ động vật gồm vƣờn thú, trại nuôi động vật, bể nuôi và các chƣơng trình nhân giống động vật hoang dã.
Đối với các loài thực vậ ể ác vƣờn thực vật, và các ngân hàng hạt giống,. Năm 1994 (IUCN) đã đƣa ra khái niệm “Khu bảo tồn thiên nhiên là các vùng đất và/hoặc vùng biển được giành riêng để bảo vệ đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm; được quản lý bằng các công cụ luật pháp hoặc các phương thức quản lý có hiệu quả khác”. Công ƣớc ĐDSH đã xác định các KBTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng tron g ƣớc quy định các nƣớc thành viên có trách nhiệm thành lập hệ thống các KBTTN, xây dựng các hƣớng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBTTN để đảm bảo duy trì và sử. Các KBTTN góp phần duy trì các chức năng dịch vụ môi trƣờng của các HST tự nhiên nhƣ: - Góp phần bảo vệ các chu trình thuỷ văn và các vùng đầu nguồn đảm bảo sự hoạt động bình thƣờng của các công trình thủy điện, thủy lợi và cung cấp nƣớc ở vùng hạ du - Giảm bớt cƣờng độ bão, lũ lụt, hạn hán, chống sói mòn đất, bảo vệ bờ biển khỏi bị sói lở,.
- Góp phần cải tạo đất và chuyển hóa các chất dinh dƣỡng - Góp phần điều hoà khí hậu địa phƣơng và toàn cầu, đặc biệt, làm giảm lƣợng khí thải CO2 vào khí quyển gây biến đổi khi hậu toàn cầu. a Cách tiếp cận truyền thống trong quản lý KBTTN đã tách rời các KBTTN với các hợp phần khác của cảnh quan và thƣờng xây dựng các kế hoạch quản lý KBTTN một cách độc lập, thiếu hoặc ít sự tham gia của các cộng đồng địa phƣơng, do đó dẫn đến thất bại trong việc giải quyết các nguyên nhân sâu xa của tình trạ ần đƣợc hiểu là một dạng sử dụng đất bên cạnh các kiểu sử dụng đất khác. Vì vậy, quản lý KBT cũng cần đƣợc xem là một bộ phận của toàn bộ công tác quản lý cảnh quan , việc làm hài hòa sử dụng tài nguyên với bảo tồn ĐDSH là một vấn đề phức tạp, nhƣng với cách tiếp cận từ dƣới lên thông qua phƣơng pháp lập kế hoạch sử dụng tài nguyên có sự tham gia của các bên liên quan có thể đạt đƣợc điều đó. b) Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý KBTTN Việc con ngƣời sử dụng cảnh quan là một thực tế mà chúng ta phải tính đến khi qui hoạch và quản lý các KBTTN.
Những ngƣời dân địa phƣơng từ ngàn đời nay đã sử dụng các sản phẩm trong các khu rừng địa phƣơng đề sinh sống, nay do việc thành lập KBTTN, ngƣời dân đột nhiên không đƣợc phép vào các khu rừng đó nữa, họ bị mất đi quyền đƣợc tiếp cận các nguồn tài nguyên cơ bản cần cho sự sinh tồn củ. Vì thế, họ 7 không thể là những ngƣời ủng hộ mạnh mẽ cho công tác bảo tồn. Việc bảo vệ các KBTTN không còn là một quá trình bắt ngƣời dân rời khỏi đất đai mà là quá trình hợp nhất các mục tiêu bảo tồn và các hoạt động của con ngƣời theo một phƣơng thức đảm bảo tƣơng lai cho cả hai". c) Phân khu chức năng trong khu bảo tồn thiên nhiên Trong một KBTTN có thể xác định nhiều phân khu chức năng và mỗi phân khu có các phƣơng thức quản lý khác nhau.