Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong số khoảng 250.000 loài thực vật đã biết trên toàn cầu, có hơn 30.000 loài được sử dụng cho mục đích chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. Tại Việt Nam, hệ thống điều tra của Viện Dược liệu ghi nhận 3.948 loài cây thuốc thuộc 263 họ thực vật và nấm tính đến năm 2005. Riêng địa bàn tỉnh Quảng Ninh, các đợt khảo sát từ năm 1967 đến năm 2001 đã xác định trên 500 loài cây thuốc mọc tự nhiên. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái diện tích rừng tự nhiên từ 14,3 triệu ha năm 1943 xuống còn khoảng 9,3 triệu ha năm 1993 trên cả nước cùng với áp lực khai thác thương mại quá mức đã đẩy nhiều loài dược liệu quý vào nguy cơ suy kiệt nghiêm trọng.

Nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá toàn diện tính đa dạng thành phần loài cây thuốc, phân tích đặc điểm phân bố taxon, xác định các loài quý hiếm và làm rõ tập quán sử dụng của cộng đồng bản địa tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Mục tiêu trọng tâm là cung cấp luận cứ khoa học để thiết lập các giải pháp bảo tồn nguồn gen nguy cấp và định hướng phát triển vùng trồng dược liệu bền vững ở vùng đệm.

Phạm vi không gian của nghiên cứu bao quát toàn bộ diện tích 15.021,7 ha rừng đặc dụng thuộc địa giới hành chính 5 xã: Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng, Vũ Oai và Hoà Bình thuộc huyện Hoành Bồ (nay thuộc thành phố Hạ Long), tỉnh Quảng Ninh. Thời gian thu thập số liệu thực địa và phân tích chuyên sâu được thực hiện từ tháng 01/2013 đến tháng 11/2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ 13.443,6 ha đất có rừng (chiếm tỷ lệ 79,6% diện tích tự nhiên của khu bảo tồn), đồng thời hỗ trợ cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân tộc thiểu số địa phương có tỷ lệ nghèo đói bình quân 18,29%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp hai khung lý thuyết nền tảng trong khoa học môi trường và bảo tồn tài nguyên sinh vật:

Thứ nhất, phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (Ecological Systems Approach). Lý thuyết này dựa trên nguyên lý về mối quan hệ tiến hóa và tương tác sinh thái giữa các taxon thực vật với các nhân tố thổ nhưỡng, khí hậu và sinh cảnh. Trong cấu trúc quần xã rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới, các loài có quan hệ họ hàng gần thường tích lũy các nhóm hoạt chất sinh học tương tự, tạo tiền đề để đánh giá tiềm năng dược liệu và đề xuất phương án bảo tồn quần thể.

Thứ hai, phương pháp tiếp cận thực vật dân tộc học (Ethnobotanical Approach). Khung lý thuyết này tập trung phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa cộng đồng bản địa và tài nguyên thực vật xung quanh. Tri thức truyền thống của người dân về nhận dạng, kỹ thuật thu hái, phương thức chế biến và bài thuốc điều trị được khai thác làm cơ sở định hướng phân loại học và đánh giá áp lực khai thác tài nguyên.

Các khái niệm then chốt xuyên suốt đề tài bao gồm: Đa dạng sinh học thực vật bậc cao có mạch, Taxon phân loại học, Cây thuốc mọc tự nhiên, Tri thức bản địa về dược thảo và Bảo tồn phát triển bền vững nguồn gen.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu ngoại nghiệp được thu thập qua hệ thống tuyến điều tra thực địa đại diện cho các dạng sinh cảnh rừng kín thường xanh núi thấp và á nhiệt đới núi trung bình từ độ cao 100m đến đỉnh Thiên Sơn 1.090m. Trên mỗi sinh cảnh điển hình, nghiên cứu thiết lập 3 tuyến điều tra chính có chiều dài từ 1,0 đến 1,5 km, mở thêm 1 đến 2 tuyến phụ và khảo sát chi tiết trong dải đệm 10m mỗi bên tuyến. Đối với mỗi cá thể thực vật gặp trên tuyến, số lượng mẫu tiêu chuẩn thu thập là 3 đến 5 mẫu trên cùng một cây gỗ hoặc 3 đến 5 cây thảo sống gần nhau với kích thước tiêu bản chuẩn 41 x 29 cm.

Phương pháp điều tra xã hội học sử dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) thông qua bảng câu hỏi bán cấu trúc. Cỡ mẫu phỏng vấn được thực hiện toàn diện với 100% thầy lang, bà mế làm nghề bốc thuốc chuyên nghiệp trong 5 xã vùng dự án và chọn mẫu ngẫu nhiên 20 người dân thường xuyên đi rừng thu hái lâm sản phụ.

Phương pháp phân tích giám định danh pháp áp dụng hình thái học so sánh theo hệ thống phân loại của Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Nghĩa Thìn, đối chiếu tiêu bản với các bộ sách thực vật chí chuẩn quốc gia. Đánh giá cấp độ nguy cấp dựa trên 3 khung pháp lý và khoa học: Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam năm 2006 và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo độ chính xác phân loại học thực vật, vừa lượng hóa được hiện trạng khai thác kinh tế - xã hội tại địa bàn trong mốc thời gian từ tháng 01/2013 đến tháng 11/2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã phát hiện và lập danh lục khoa học cho 555 loài cây thuốc mọc tự nhiên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, thuộc 397 chi và 140 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch.

Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) giữ vị thế thống trị tuyệt đối với 529 loài (chiếm 95,3% tổng số loài cây thuốc), thuộc 378 chi (chiếm 95,2%) và 122 họ (chiếm 87,1%). Trong đó, lớp Mộc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế áp đảo với 447 loài (84,5% số loài ngành Mộc lan) thuộc 319 chi và 100 họ; lớp Hành (Liliopsida) ghi nhận 82 loài (15,5%) thuộc 59 chi và 22 họ. Các ngành còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ: ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 20 loài (chiếm 3,6%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 3 loài (chiếm 0,54%) và ngành Thông (Pinophyta) có 3 loài (chiếm 0,54%).

Sự phân bố loài trong các họ có độ chênh lệch rõ rệt. Có tới 112 họ (chiếm 80% tổng số 140 họ) chỉ chứa từ 1 đến 5 loài làm thuốc. Ngược lại, 28 họ còn lại (chiếm 20% tổng số họ) tập trung từ 6 đến 31 loài. Năm họ có số lượng loài cây thuốc phong phú nhất gồm: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 31 loài, họ Cúc (Asteraceae) với 29 loài, họ Đậu (Fabaceae) với 23 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) với 19 loài và họ Dâu tằm (Moraceae) với 18 loài.

Nghiên cứu cũng ghi nhận nhiều loài dược liệu quý hiếm có giá trị kinh tế và bảo tồn cao như Ba kích (Morinda officinalis), Cẩu tích (Cibotium barometz), Trầm hương (Aquilaria crassna), Vù hương (Cinnamomum balansae) và Lát hoa (Chukrasia tabularis).

Thảo luận kết quả

Đa dạng thành phần loài cây thuốc tại Đồng Sơn - Kỳ Thượng bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên đặc trưng của địa hình núi thấp cánh cung Đông Triều. Lượng mưa bình quân năm đạt 2.400 mm, độ ẩm không khí 80% và sự phân hóa độ cao từ thung lũng đến đỉnh Thiên Sơn 1.090m đã hình thành các đai rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới, tạo sinh cảnh phong phú cho thảm thực vật dưới tán.

Cơ cấu thành phần loài phản ánh sự tương đồng với quy luật hệ thực vật Việt Nam khi lớp Hai lá mầm chiếm ưu thế vượt trội so với lớp Một lá mầm (tỷ lệ 84,5% so với 15,5%). Đáng chú ý, mặc dù các họ như Euphorbiaceae hay Asteraceae sở hữu số lượng loài lớn, mật độ cá thể phân bố lại rải rác và không có loài nào đạt trữ lượng khai thác công nghiệp quy mô lớn ở vùng đệm.

Áp lực suy giảm tài nguyên bắt nguồn trực tiếp từ bối cảnh kinh tế - xã hội. Dân số toàn vùng gồm 1.930 hộ với 8.504 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Dao chiếm tới 79,5% (riêng khu vực nghiên cứu chiếm tới 97%). Tỷ lệ hộ đói nghèo bình quân là 18,29%, cục bộ tại xã Đồng Lâm lên tới 26,58% và xã Đồng Sơn là 20,04%. Hoạt động mưu sinh phụ thuộc 92,34% vào nông lâm nghiệp kết hợp tập quán đào bới củ, rễ cây thuốc tự nhiên bán cho tư thương đã làm suy giảm nghiêm trọng mật độ các loài quý hiếm như Ba kích và Cẩu tích.

Dữ liệu nghiên cứu về sự phân bố các bậc taxon, phổ dạng sống và nhóm mức độ bị đe dọa có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua hệ thống biểu đồ cột so sánh tương quan số lượng loài giữa 10 họ thực vật dẫn đầu, kết hợp biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ % các ngành thực vật để làm nổi bật tính đa dạng sinh thái của khu bảo tồn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội vùng đệm, các giải pháp trọng tâm cần được thực hiện đồng bộ:

Thứ nhất, tổ chức tuyên truyền và tập huấn kỹ thuật thu hái bền vững cho cộng đồng bản địa. Mục tiêu đạt 100% số hộ dân thuộc 22 thôn bản vùng đệm tiếp cận kiến thức bảo tồn; chấm dứt tình trạng tận diệt rễ củ non trước tuổi thành thục sinh học. Thời gian triển khai liên tục từ năm 2014 đến 2016, do Ban Quản lý Khu bảo tồn chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 5 xã.

Thứ hai, xây dựng mô hình liên kết phát triển trồng cây thuốc dưới tán rừng và vườn hộ vùng đệm. Tập trung nhân rộng các loài bản địa có giá trị kinh tế cao như Ba kích, Sa nhân tím, Đẳng sâm và Ý dĩ. Target metric đặt ra là giảm 60% áp lực khai thác dược liệu từ rừng tự nhiên, nâng cao thu nhập của hộ nghèo thêm 20% đến 30% trong giai đoạn 2015 - 2020. Chủ thể thực hiện là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh kết hợp với các Hợp tác xã dược liệu địa phương.

Thứ ba, tăng cường năng lực tuần tra, kiểm soát lâm luật trên 13.443,6 ha diện tích rừng tự nhiên. Thiết lập các chốt bảo vệ nghiêm ngặt tại các lối mòn dẫn vào vùng lõi (nơi có 34 hộ dân sinh sống), xử lý nghiêm hành vi khai thác các loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng là đơn vị thực thi chính theo kế hoạch thường niên.

Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học chuyên sâu và ứng dụng kỹ thuật nhân giống vô tính. Phối hợp cùng các viện nghiên cứu xây dựng vườn ươm giống bản địa quy mô 2 ha nhằm bảo tồn ngoại vi (ex-situ) cho 100% các loài nguy cấp có tên trong Sách Đỏ Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2022 do Ban Quản lý Khu bảo tồn và Viện Dược liệu đồng thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên sâu và có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý các khu rừng đặc dụng: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 5 đến 10 năm, thiết lập quy hoạch phân khu chức năng bảo vệ nghiêm ngặt 15.021,7 ha đất lâm nghiệp và đề xuất chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Các nhà khoa học, viện nghiên cứu chuyên ngành Thực vật học và Dược liệu: Tài liệu là nguồn dẫn liệu chuẩn xác về 555 loài cây thuốc, hỗ trợ quá trình tra cứu phân loại học, sàng lọc hóa thực vật, chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học và xây dựng cơ sở dữ liệu số về thực vật chí Việt Nam.

Doanh nghiệp dược phẩm và hợp tác xã phát triển nông lâm nghiệp: Làm cơ sở để thẩm định điều kiện lập địa, khí hậu (lượng mưa 2.400 mm, độ ẩm 80%) và lựa chọn các loài cây thuốc tiềm năng như Ba kích, Sa nhân để quy hoạch vùng nguyên liệu sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Môi trường, Lâm học và Sinh thái học: Kế thừa khung phương pháp luận kết hợp liên ngành giữa điều tra thực vật học chuẩn mực và công cụ PRA/RRA xã hội học để thực hiện các công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học và phát triển sinh kế bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng đã ghi nhận bao nhiêu loài cây làm thuốc mọc tự nhiên? Nghiên cứu ngoại nghiệp dọc theo các tuyến sinh cảnh đã thống kê được 555 loài cây thuốc mọc tự nhiên, thuộc 397 chi, 140 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Con số này khẳng định tiềm năng đa dạng sinh học phong phú của hệ sinh thái rừng tự nhiên lớn nhất vùng Đông Bắc.

Ngành thực vật nào chiếm tỷ trọng vượt trội về số loài cây thuốc tại khu bảo tồn? Ngành Mộc lan chiếm vị thế thống trị tuyệt đối với 529 loài, tương đương 95,3% tổng số loài cây thuốc ghi nhận được. Trong đó, lớp Mộc lan (Hai lá mầm) áp đảo với 447 loài (chiếm 84,5%), phản ánh đúng cơ cấu đặc trưng của thảm thực vật nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam.

Những yếu tố kinh tế - xã hội nào gây áp lực lớn nhất lên nguồn tài nguyên cây thuốc? Toàn vùng có tỷ lệ hộ nghèo bình quân 18,29% (nhiều xã trên 20%), 79,5% dân số là đồng bào dân tộc Dao với 92,34% lao động làm nông nghiệp. Đời sống khó khăn cùng tập quán khai thác lâm sản tự do, đào bới rễ củ bán thô cho tư thương là nguyên nhân trực tiếp làm suy thoái tài nguyên dược liệu.

Phương pháp điều tra tri thức bản địa được luận văn triển khai như thế nào? Luận văn áp dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và phỏng vấn bán cấu trúc. Tác giả đã phỏng vấn 100% thầy lang, bà mế làm nghề bốc thuốc và chọn ngẫu nhiên 20 người dân địa phương thường đi rừng để thu thập thông tin về tên gọi, bộ phận dùng và bài thuốc.

Giải pháp nào đóng vai trò đòn bẩy để bảo tồn nguồn gen cây thuốc bền vững? Giải pháp phát triển mô hình trồng cây thuốc bản địa (như Ba kích, Sa nhân, Đẳng sâm) dưới tán rừng vùng đệm được coi là đòn bẩy then chốt. Giải pháp này giúp chuyển đổi từ khai thác tự nhiên sang canh tác chủ động, vừa bảo vệ 13.443,6 ha đất có rừng vừa gia tăng thu nhập cho người dân từ 20% đến 30%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa danh lục 555 loài cây thuốc mọc tự nhiên thuộc 397 chi và 140 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng.
  • Xác định sự vượt trội của ngành Mộc lan với 529 loài (chiếm 95,3%), trong đó lớp Hai lá mầm chiếm 447 loài (84,5%), phân bố tập trung nhiều nhất ở họ Thầu dầu (31 loài) và họ Cúc (29 loài).
  • Nhận diện các loài dược liệu quý hiếm có nguy cơ đe dọa cao theo Sách Đỏ Việt Nam như Ba kích, Cẩu tích, Trầm hương, Vù hương trước sức ép khai thác thương mại tự phát.
  • Phân tích mối tương quan giữa áp lực suy thoái tài nguyên với điều kiện kinh tế xã hội vùng đệm có tỷ lệ đói nghèo 18,29% và 79,5% dân số là đồng bào Dao sống phụ thuộc vào rừng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn kết hợp bảo vệ nghiêm ngặt 13.443,6 ha diện tích có rừng với phát triển kinh tế vùng đệm thông qua mô hình gây trồng dược liệu dưới tán rừng.

Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là hoàn thiện bộ dữ liệu toàn diện đầu tiên về thực vật làm thuốc tại khu bảo tồn, tạo cầu nối giữa tri thức bản địa của người Dao và các nguyên tắc bảo tồn sinh học hiện đại.

Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm phê duyệt quy hoạch vùng phát triển dược liệu tập trung giai đoạn 2015 - 2025, ứng dụng khoa học công nghệ vào nhân giống sạch bệnh và thiết lập chuỗi giá trị chế biến sâu. Các đơn vị quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác trực tiếp số liệu của luận văn để triển khai các dự án bảo tồn nguồn gen và phát triển kinh tế lâm sản ngoài gỗ hiệu quả tại địa phương.