Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành ngọc lan magnoliophyta tại khu bảo tồn thiên nhiên tà xùa tỉnh sơn la

Luận văn thạc sĩ phân tích hay nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành ngọc lan magnoliophyta tại khu bảo tồn thiên nhiên tà, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

83
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc

1.1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới

1.1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

1.1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La

1.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên – kinh tế và xã hội ở khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La

1.2.1. Điều kiện tự nhiên

1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu BTTN Tà Xùa

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Điều tra thực địa theo tuyến

2.3.2. Điều tra tình hình khai thác sử dụng dược liệu

2.3.3. Phương pháp thu thập – xử lí, phân tích và phân loại mẫu vật

2.3.4. Phương pháp nghiên cứu dạng sống và yếu tố địa lý

2.3.5. Phương pháp đánh giá đa dạng sinh học của cây thuốc

2.3.6. Đánh giá mức độ đe dọa

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) tại khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, tỉnh Sơn La

3.1.1. Tính đa dạng các bậc taxon

3.1.2. Tính đa dạng họ

3.1.3. Tính đa dạng ở mức độ chi

3.1.4. Tính đa dạng về dạng sống

3.1.5. Tính đa dạng về yếu tố địa lý

3.1.6. Tính đa dạng về bộ phận sử dụng

3.1.7. Một số nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa – tỉnh Sơn La

3.1.8. Các loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP

3.1.9. Một số bài thuốc của đồng bào dân tộc tại khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, tỉnh Sơn La

3.1.10. Đề xuất các biện pháp bảo tồn các loài cây thuốc và nguồn tri thức bản địa cho cộng đồng dân cư địa phương

3.2. Tình hình khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc và bài thuốc dân tộc tại khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La

3.3. Các mối đe dọa đối với tài nguyên cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc tại khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La

3.4. Các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Phiếu điều tra

Phụ lục 2. Danh lục các loài cây thuốc khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La

Phụ lục 3. Danh sách các loài cây có tiềm năng chữa các nhóm bệnh tại khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La

Phụ lục 4. Hoạt động điều tra và xử lí cây thuốc

Phụ lục 5. Một số hình ảnh về các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành Ngọc Lan tại Tà Xùa Sơn La

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc Lan tại Tà Xùa, Sơn La là một chủ đề quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật. Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa không chỉ nổi bật với hệ sinh thái phong phú mà còn là nơi lưu giữ nhiều loài cây thuốc quý. Việc nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về giá trị và tiềm năng của các loài cây thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

1.1. Đặc điểm sinh thái và địa lý của khu bảo tồn Tà Xùa

Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa nằm ở tỉnh Sơn La, có điều kiện khí hậu gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật. Đặc điểm địa lý đa dạng với độ cao khác nhau cũng góp phần tạo nên sự phong phú về đa dạng sinh học.

1.2. Vai trò của cây thuốc trong đời sống người dân địa phương

Cây thuốc không chỉ là nguồn dược liệu quý giá mà còn là phần không thể thiếu trong văn hóa và đời sống của người dân tộc thiểu số tại Tà Xùa. Những bài thuốc truyền thống được lưu truyền qua nhiều thế hệ, thể hiện sự kết nối giữa con người và thiên nhiên.

II. Thách thức trong việc bảo tồn cây thuốc ngành Ngọc Lan tại Tà Xùa

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Tà Xùa đang đối mặt với nhiều thách thức. Việc khai thác quá mức và sự thay đổi môi trường sống đã làm giảm số lượng và chất lượng của các loài cây thuốc. Điều này đòi hỏi cần có những biện pháp bảo tồn hiệu quả.

2.1. Tác động của khai thác và thương mại hóa cây thuốc

Khai thác cây thuốc để phục vụ nhu cầu thị trường đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên. Nhiều loài cây thuốc quý đang bị đe dọa nghiêm trọng, cần có sự can thiệp kịp thời để bảo tồn.

2.2. Sự mai một tri thức sử dụng cây thuốc truyền thống

Tri thức về cây thuốc truyền thống đang dần bị lãng quên, đặc biệt trong giới trẻ. Việc thiếu hụt những người có kinh nghiệm trong việc sử dụng cây thuốc có thể dẫn đến mất mát giá trị văn hóa và y học cổ truyền.

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành Ngọc Lan tại Tà Xùa

Để đánh giá sự đa dạng của cây thuốc, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này không chỉ giúp xác định số lượng loài mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng.

3.1. Phương pháp điều tra thực địa và thu thập mẫu

Điều tra thực địa được thực hiện để thu thập mẫu cây thuốc, từ đó phân tích và phân loại các loài cây. Phương pháp này giúp xác định sự phong phú và phân bố của các loài cây thuốc trong khu vực.

3.2. Phương pháp phân tích thành phần hóa học của cây thuốc

Phân tích thành phần hóa học của cây thuốc giúp xác định các hoạt chất có trong cây, từ đó đánh giá tiềm năng dược lý của chúng. Điều này rất quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm từ cây thuốc.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của cây thuốc ngành Ngọc Lan

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng phong phú của các loài cây thuốc thuộc ngành Ngọc Lan tại Tà Xùa. Những thông tin này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có thể ứng dụng trong việc phát triển y học cổ truyền và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.

4.1. Danh sách các loài cây thuốc quý tại Tà Xùa

Nghiên cứu đã xác định được nhiều loài cây thuốc quý, trong đó có những loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam. Việc bảo tồn những loài này là rất cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học.

4.2. Ứng dụng cây thuốc trong y học cổ truyền

Các loài cây thuốc được nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc phát triển các bài thuốc cổ truyền, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và bảo tồn tri thức y học cổ truyền.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho cây thuốc ngành Ngọc Lan

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành Ngọc Lan tại Tà Xùa không chỉ giúp bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương. Cần có những chính sách hỗ trợ và bảo vệ để duy trì sự đa dạng sinh học.

5.1. Đề xuất các biện pháp bảo tồn cây thuốc

Cần xây dựng các chương trình bảo tồn cây thuốc, bao gồm việc giáo dục cộng đồng về giá trị của cây thuốc và khuyến khích việc sử dụng bền vững.

5.2. Tương lai của nghiên cứu cây thuốc tại Tà Xùa

Nghiên cứu cây thuốc tại Tà Xùa cần tiếp tục được mở rộng, không chỉ trong việc bảo tồn mà còn trong việc phát triển các sản phẩm từ cây thuốc, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành ngọc lan magnoliophyta tại khu bảo tồn thiên nhiên tà xùa tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho nghiên cứu thuốc nam, xây dựng nền móng y học dân tộc và được nhân dân gọi là “Vị thánh thuốc nam”. Thời kỳ nhà Hồ (1400 – 1427) triều đình có chủ trương chữa bệnh rộng rãi cho nhân dân. Thời kỳ này có Nguyễn Đại Năng biên soạn “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca” bằng thơ để phổ biến cho nhân dân, vận dụng 120 huyệt để chữa nhiều bệnh hiểm nghèo (sốt rét, động kinh), ngoài ra còn có Vũ Toàn Trai, Lý Công Tuấn đều là những người biên soạn các tác phẩm châm cứu giá trị [13]. Thời triều Lê (1428 – 1788), nhà Lê đã quan tâm và chú trọng tới việc phát triển nền y học cổ truyền và quan tâm tới sức khỏe nhân dân.

Thời kỳ này xuất hiện nhiều lương y nổi tiếng như Hoàng Đôn Hòa với tác phẩm “Hoạt nhân toát yếu” gồm nhiều phương thuốc chữa bệnh [13]. Nguyễn Trực với “Bảo anh lương phương” [14]. Tiêu biểu nhất cho nền y học thời kỳ này là danh y Hải Thượng Lãn Ông, tên thật là Lê Hữu Trác (1720 -1791). Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, có đóng góp lớn cho nền y học cổ truyền Việt Nam.

Ông đã kế thừa dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh nam bản thảo” nội dung 496 vị thuốc nam và bổ sung thêm 300 vị mới [26],[36]. Tác phẩm vĩ đại nhất của ông là “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm, các đặc tính chữa bệnh của thảo dược như Mã tiền trị thấp khớp; Ba gạc, Tầm gửi trị trúng phong tê liệt. Tác phẩm này được đánh giá là công trình y học xuất sắc trong thời trung đại Việt Nam. Ông được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam[14],[23].

Dưới triều Tây Sơn (1789 – 1802), tiến sỹ Nguyễn Gia Phan biên soạn cuốn “Liệu dịch phương pháp toàn tập”. Danh y Nguyễn Quang Tuấn biên soạn cuốn “La Khê phương dược” gồm 13 cuốn và cuốn “Kim ngọc quyển” 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viết bằng chữ nôm ghi lại nhiều phương thuốc gia truyền [14]. Lương y Nguyễn Hoành với tập “Nam dược” với 620 vị với các phương thuốc kinh nghiệm trong Gia truyền bí phương và Kinh nghiệm lương phương [14],[61]. Đầu triều nhà Nguyễn (1802 – 1845) có “Nam dược tập nghiệm Quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng ghi chép về các phương thuốc dân gian.

“Ngư thiều y thuật vấn đáp” của Nguyễn Đình Chiểu [25]. “Nam Thiên Đức Bảo toàn thư” của Lê Đức Huệ với 511 vị thuốc nam và bệnh học. “Nam Bang thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương trong đó có viết nhiều cây thuốc theo kinh nghiệm[14],[22]. Trong thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945), nền y học cổ truyền Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của dược học phương Tây.

Các phương thức chữa bệnh mới được mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây thuốc nói riêng. Tuy nhiên, trong thời kỳ này y học cổ truyền nước ta vẫn có “Trung Việt dược tính hợp biên” của Đinh Nho Chân và Phạm Văn Thái gồm 16 cuốn với 1600 vị thuốc nam bắc viết công dụng và cách chế biến của hơn 1655 vị thuốc nam và bắc [14]; “Việt Nam Dược học” gồm 5 cuốn bằng tiếng việt của Phó Đức Thành [13]. “Nam bang thảo mộc” nêu tên và mô tả công dụng của 100 loài cây thuốc của tác giả Trần Nguyên Phương. “Y học Tùng thư” gồm 16 cuốn của Nguyễn An Nhân [9],[14].

Trong thời kỳ này, tài nguyên thực vật phong phú ở nước ta đã hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu phương Tây. Họ đã để lại một số công trình như: J. Loureiro (Bồ Đào Nha) trong “Flora Cochinchinensis” năm 1970 đã mô tả 700 loài cây. Pierre (Pháp) trong “Flore Forestiere dela Cochinchine” đã mô tả 800 loài cây gỗ.Pétélot vớiCatalogue des produits de l’Indochine – Produits médicinaux.

Nổi bật phải kể đến bộ sách “Catalogue des produits de L’Indochine” của Pétélot (1928 – 1935) trong đó tập V 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các thực vật có hoa. Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung và đặt tên mới là “Les plantes medicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập, 1.050 trang và đã thống kê được 1.482 loài thảo mộc trên ba nước Đông Dương [14],[70]. Từ ngày cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến nay, đất nước ta rất quan tâm tới việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Trong thư gửi cán bộ y tế ngày 27/02/1955 Bác Hồ có viết “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc Ta, thuốc Bắc. Để mở rộng phạm vi y học các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây”. Nhiều cơ sở và tổ chức y dược học cổ truyền đã được thành lập như Viện nghiên cứu Đông y, Viện Y dược học dân tộc, Viện Dược liệu, Hội Đông y,. Các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc và đã có rất nhiều công trình điều tra cây thuốc được tiến hành và công bố.

Đỗ Tất Lợi (1957) biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập. Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam. Đỗ Tất Lợi (1962;1965) xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập. Bộ sách tái bản lại nhiều lần và bổ sung thêm các vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc.

Gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau [43]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Võ Văn Chi (1997) biên soạn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” gồm hơn 3.100 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa là 2. Năm 2012 bộ sách được tái bản lại đã mô tả hình thái, bộ phận sử dụng, nơi sống và thu hái, công dụng của 4.472 loài cây thuốc sắp xếp theo hệ thống Takhtajan [18]. Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999;2002) nghiên cứu về cây cỏ có ích ở Việt Nam đã mô tả được khoảng 6.000 loài thực vật bậc cao có mạch với các đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và công dụng [17].

Ngoài ra còn công bố danh sách cây thuốc và bài thuốc cho nhiều địa phương như: “Hệ cây thuốc của tỉnh Lâm Đồng” (1982); “Hệ cây thuốc Tây Nguyên” (1985), “Cây thuốc An Giang” (1991). Phạm Hoàng Hộ (1999;2000) khi nghiên cứu về thực vật, trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” tác giả đã mô tả hình thái và sự phân bố của 9.963 loài thực vật, trong có đã giới thiệu được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [32],[33],[34]. Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương (1980) trong cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” đã thống kê được 519 loài cây thuốc, trong đó 150 loài mới được phát hiện [5]. Đỗ Huy Bích (1995) trong cuốn “Thuốc từ cây cỏ và động vật” đã giới thiệu 500 cây thuốc và 30 con thuốc.

Các cây thuốc được mô tả hình thái, phân bố, bộ phận sử dụng, liều dùng [7]. Trần Đình Lý và cộng sự (1993) nghiên cứu về các loài cây cỏ có ích, tác giả đã mô tả được 1.900 loài cây có ích. Trong các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 400 loài tre nứa, 40 loài song mây. Trong số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công dụng làm thuốc.

Đối với các thực vật được sử dụng làm thuốc tác giả giới thiệu danh pháp, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng [44]. Nguyễn Nghĩa Thìn (1990;1995) đã giới thiệu 2.136 chi, 234 họ thuộc 6 ngành thực vật có mạch Việt Nam được sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1.000 bài thuốc trong Hội thảo quốc tế lần thứ hai về dân tộc sinh học tại Côn Minh – Trung Quốc. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2001) trong cuốn “Cây thuốc của đồng bào Thái ở Con Cuông, Nghệ An” [52] đã giới thiệu 551 loài cây thuốc thuộc 364 chi, 120 họ thực vật. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu cây thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Thái xã Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Kết quả nghiên cứu đã thu thập được 231 loài, 192 chi, 88 họ thuộc 4 ngành thực vật. Ông là người có nhiều cống hiến trong công tác nghiên cứu cây thuốc dân tộc [51],[53]. Trong số những cuốn sách xuất bản về cây thuốc, có nhiều cuốn sách có giá trị về tài nguyên cây thuốc đã được các nhà khoa học của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam biên soạn. Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001;2002) trong cuốn “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” đã giới thiệu các chi, loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam trong đó mỗi chi, mỗi loài đều được giới thiệu về các nội dung như tên thường gọi, nguồn gốc phân bố, công dụng, đặc tính của tinh dầu và các hoạt chất chính ở trong cây,.

Năm 2005, giới thiệu công trình “Những cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học” trong đó có giới thiệu 31 chi thực vật chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học ở Việt Nam. Với mỗi chi thực vật được trình bày những nội dung như tên thường gọi, vùng phân bố, công dụng, tình hình khai thác, thành phần hóa học, đặc tính, nguồn gen và triển vọng,. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003;2005) đã công bố cuốn sách “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã đề cập tới danh pháp, phân bố, sinh thái, giá trị sử dụng của hơn 10.000 loài thực vật hiện biết đến ở nước ta từ tảo đến hạt trần (tập 1) và hạt kín (tập 2 – 3). Đây là công trình với sự tham gia đông đảo của hơn 40 nhà khoa học thực vật trong và ngoài nước [3],[4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ