MỞ ĐẦU Trong vô vàn ý nghĩa của giới thực vật với đời sống con người, có lẽ không thể không kể đến vai trò của cây thuốc. Bởi chính cây thuốc là nguồn cung cấp dược liệu quan trọng để chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe cho nhân loại. Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, vốn hiểu biết về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú và hoàn thiện hơn. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới đã cho con số ước tính trong số hơn 250.000 loài thực vật đã biết trên thế giới đã có trên 30.000 loài được sử dụng làm thuốc ở các mức độ khác nhau.[34] Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, Việt Nam được đánh giá là 1 trong 16 quốc gia có mức đa dạng sinh học cao trên thế giới, với khoản hơn 11.000 loài thực vật trong đó có trên 5.000 loài cây được dùng làm thuốc.
Hà Giang là một tỉnh cực bắc của tổ quốc có điều kiện tự nhiên đa dạng địa hình núi cao và chia cắt mạnh. Chính vì vậy tỉnh có nguồn tài nguyên thực vật rất phong phú và độc đáo. Theo kết quả điều tra nghiên cứu gần đây của Viện Dược liệu, đã xác định ở tỉnh Hà Giang có khoảng hơn 1500 cây thuốc [23] được ghi nhận có tác dụng làm thuốc. Trong một số huyện thị của tỉnh Hà Giang, Xín Mần là một trong hai huyện vùng cao núi đất, có độ cao trung bình 1.600 m, xen lẫn còn có một số núi cao trên 2000m và thung lũng thấp cho thấy bề mặt địa hình ở đây bị chia cắt mạnh.
Những đặc trưng về vị trí địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng đất đai, đã tạo nên ở huyện Xín Mần nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng mà trong đó chắc chắn có hàng trăm loài cây có công dụng làm thuốc. Tuy nhiên hiện vẫn chưa có một công trình nào đi sâu điều tra nghiên cứu một cách đầy đủ về nguồn tài nguyên cây thuốc huyện Xín Mần. Xuất phát từ tình hình thực trên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu, điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang.” Nhằm mục đích: - Qua điều tra nghiên cứu, nhằm nắm được tương đối cụ thể về tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Trong đó trước hết về thành phần loài; Xây dựng Danh lục cây thuốc; Đồng thời với xác định những loài cây thuốc có tiềm năng khai thác cũng như những loài thuộc diện quý hiếm cần bảo vệ ở địa phương.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Căn cứ và các kết quả điều tra nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp bảo tồn đi đôi với việc khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc này ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CÂY THUỐC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.
Trên thế giới Từ lâu, thuật ngữ “Cây thuốc” đã trở nên quen thuộc, gần gũi. Nó rất cần thiết cho con người và được sử dụng để chăm sóc sức khỏe từ lâu đời. Lịch sử sử dụng cây thuốc bắt nguồn từ thời xa xưa. Trong quá trình săn bắt và hái lượm, loài người đã biết tránh thứ gì có độc, biết sử dụng cây cỏ làm lương thực – thực phẩm và biết lựa chọn các loại cây cỏ có tác dụng làm khỏi bệnh tật, ốm đau thì gọi là “Cây thuốc”.
Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rễ cây Thục quỳ (Althaea officinalis), cây Lan dạ hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) được tìm thấy quanh bộ xương người có niên đại đồ đá ở Iraq. Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc đã được tìm thấy cách đây khoảng hơn 5000 năm. Đó là những ghi chép bản khắc trên đất sét của người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (Iraq ngày nay), đề cập tới một toa thuốc sử dụng cây Carum (Carum carvi) và cây Húng tây [15]. Vào năm 2735 trước công nguyên, hoàng đế Thần nông của Trung Hoa đã sưu tầm và ghi chép lại 365 vị thuốc đông y trong cuốn “Mục lục thuốc thảo mộc”.
Trong đó nhiều cây thuốc vẫn được sử dụng đến ngày nay như: Cây Gai mèo – Cannabis sp. được sử dụng làm thuốc chống nôn…, cây Đại phong tử - Hydnocarpus kurzii là thành phần chính trong thuốc chữa bệnh phong và cây Anh túc – Papaver somniferum có mặt trong một số loại thuốc giảm đau … Ông cũng đề cập đến một số công dụng của cây Ma hoàng (Ephedra sp.), điển hình là để chống lại chứng suy hô hấp [15]. Những kiến thức về thảo mộc của người Hy Lạp và người Roma gắn liền với nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ. Hy Lạp cổ đại chịu ảnh hưởng lớn từ Babaylon, Ai Cập và một phần Ấn Độ và Trung Hoa.
Hippocrat (460-377 TCN), thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp vốn được mệnh danh là “cha đẻ của nền y học hiện đại” đã từng là một nhà nghiên cứu về thảo mộc. Ông luôn nhắc đến câu “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và chính thuốc là thức ăn của bạn. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trải qua hàng ngàn năm, vốn hiểu biết về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú và có cơ sở khoa học hơn. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1985), hiện nay đã có khoảng 20.000 loài cây cỏ (trong số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp và bậc cao) được sử dụng làm thuốc ở các mức độ khác nhau ở tất cả các quốc gia.
Trong đó Ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc 5000 loài, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1900 loài thực vật có hoa được sử dụng làm thuốc [21,37]. Phần lớn các loài cây thuốc được sử dụng làm thuốc theo cách truyền thống trong các cộng đồng. Bên cạnh đó, hiện đã có hàng trăm hoạt chất tự nhiên từ cây cỏ, được sử dụng để chế tạo ra các thuốc hiện đại có hiệu lực chữa bệnh cao. Xu thế này hiện vẫn đang được nghiên cứu và xúc tiến ở nhiều quốc gia.
Tuy nhiên, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện vẫn có tới 80% dân số thế giới, mà việc chăm sóc sức khỏe có liên quan hoặc phục thuộc vào Y học cổ truyền (YHCT) [21,37]. Đặc biệt đối với một số cộng đồng dân cư vốn sinh sống ở những vùng sâu vùng xa tại các nước đang phát triển thuộc châu Á, châu Phi, châu Đại Dương thì việc sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh theo cách truyền thống vẫn còn tương đối phổ biến. Song, đáng tiếc rằng, đồng thời với sự phát triển kinh tế và y học hiện đại, hiện đang có sự mất dần những vốn tri thức bản địa của cộng đồng trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh theo cách truyền thống. Vấn đề bảo tồn cây thuốc đi đôi với bảo tồn vốn kinh nghiệm sử dụng cây thuốc đang được nhiều quốc gia quan tâm.
Được biết, ở một số quốc gia châu Phi, châu Á (Mianma, Sri Lanka, Ấn Độ, Indonesia.) đã có những chương trình hỗ trợ cộng đồng và khuyến khích người dân sử dụng thuốc theo cách truyền thống. Ở Việt Nam Nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam châu Á, Việt Nam là một trong số các quốc gia có nguồn tài nguyên động – thực vật phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều loài được dùng làm thuốc. Với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, cộng đồng các dân tộc có nhiều kinh nghiệm sử dụng các loài cây cỏ sẵn có để làm thuốc chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe. Từ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lâu đời nay, nền y học cổ truyền Việt Nam đã có nhiều bài thuốc, cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả.
Qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm quý báu đó đã dần được đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân ta. Ngay từ thời vua Hùng Vương (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh nam chính quoái liệt chuyện, Long uy bí thư …) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ăn ngon miệng và chữa bệnh. Cùng với sự tiến hóa của lịch sử, nền y học cổ truyền Việt Nam cùng với vốn kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân cũng dần phát triển, gắn liền với tên tuổi của và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng đương thời [14]. Đời nhà Lý (1010-1224) có nhà sư Nguyễn Minh Không (tức Nguyễn Chí Thành) đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho dân và cho nhà Vua, nên được tấn phong là "Quốc sư" triều Lý.
Đời nhà Trần (1225-1399) nổi lên sự kiện Phạm Ngũ Lão phụng mệnh Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn, thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là "Dược Sơn", hiện vẫn còn di tích tại xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương [14]. Vào thế kỷ XIII và XIV có hai danh y nổi tiếng là Phạm Công Bân và nhà sư Nguyễn Bá Tĩnh – hiệu Tuệ Tĩnh. Trong nhiều bộ sách quý của ông về sau bị quân Minh thu gần hét, nay chỉ còn sót lại bộ "Nam Dược Thần Hiệu" đề cập 496 vị thuốc nam; "Tuệ Tĩnh y thư", "Tam thập phương gia giảm" và "Thương hàn tam thập thất trùng pháp". Tuệ Tĩnh là bậc danh y kỳ tài trong lịch sử nền y học dân tộc nước ta.
Chính ông là người Việt Nam đầu tiên nêu phương châm "Nam dược trị nam nhân" (Thuốc nam chữa bệnh cho người Việt Nam) [14]. Sau Tuệ Tĩnh, mãi đến thời Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác (1721-1792). Ông là người am hiểu về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc và đã viết bộ "Lãn Ông tâm lĩnh" gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề về y dược. Ngoài sự kế thừa "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh, Ông đã bổ sung thêm 329 vị thuốc mới.
Hải Thượng Lãn Ông cũng đã mở trường đào tạo Y sinh, truyền 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bá tư tưởng và hiểu biết của mình về y học. Do vậy, Ông được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [14]. Đời Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788-1883) có Nguyễn Quang Tuân với các bộ sách "Nam dược", "Nam dược chỉ danh truyền", "La Khê phương dược". Trong các bộ sách trên, tác giả đã đề cập đến 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh.