Tổng quan về luận án
Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới (NTM) theo Quyết định số 800/QĐ-TTg (giai đoạn 2010–2020) và Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là chiến lược tái thiết toàn diện khu vực nông thôn Việt Nam. Tại vùng Tây Nam Bộ (TNB), cộng đồng tộc người (TN) Khmer với bề dày lịch sử và thiết chế văn hóa đặc thù đóng vai trò then chốt trong tiến trình này. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài "Giá trị văn hoá Khmer trong xây dựng nông thôn mới ở Tây Nam Bộ" đã định hình một hướng tiếp cận tiên phong thuộc phân ngành văn hóa học ứng dụng, giải quyết nghịch lý giữa áp đặt chuẩn hóa bộ 19 tiêu chí NTM từ trên xuống (top-down) với việc khai thác nguồn lực nội sinh của văn hóa bản địa.
Nghiên cứu định vị research gap cốt lõi: phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận NTM thuần túy dưới lăng kính kinh tế học nông nghiệp (Hoàng Ngọc Hòa, 2008; Đặng Kim Sơn, 2008) hoặc khảo tả dân tộc học tĩnh tại về phong tục, lễ hội Khmer (Lê Hương, 1969; Phan An, 2009; Trần Văn Bổn, 1999). Luận án giải quyết khoảng trống lý luận bằng cách đặt các giá trị văn hóa (GTVH) Khmer vào tính động của quá trình tái cấu trúc nông thôn, lượng hóa tác động của thiết chế văn hóa - tôn giáo đến các tiêu chí cụ thể như tiêu chí giao thông (TC2), cơ sở vật chất văn hóa (TC6), nhà ở dân cư (TC9), thu nhập (TC10), hình thức tổ chức sản xuất (TC13), văn hóa (TC16), hệ thống chính trị (TC18) và an ninh trật tự (TC19).
Luận án vận hành trên hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học chặt chẽ:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Những hệ giá trị văn hóa tiêu biểu nào của TN Khmer TNB đang tồn tại và biến đổi trong bối cảnh đương đại?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Cơ chế tác động hai chiều (tích cực và rào cản) giữa GTVH Khmer và bộ tiêu chí quốc gia về NTM diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Làm thế nào để chuyển hóa vốn văn hóa Khmer thành nguồn lực phát triển nội sinh bền vững trong xây dựng NTM?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): GTVH Khmer là tài nguyên nội sinh bền vững; nếu phát huy vai trò của nhóm tinh hoa tôn giáo - xã hội (Đại đức, Sư sãi, Acha, trí thức), tiến độ và chất lượng hoàn thành NTM sẽ tăng rõ rệt.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Xây dựng NTM nếu chỉ dựa vào đầu tư hạ tầng tài chính mà triệt tiêu tính chủ thể văn hóa của cư dân phum, srok sẽ dẫn đến tâm lý thụ động, ỷ lại và xung đột thiết chế.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp thuyết giá trị học văn hóa mác-xít, tiếp cận hệ tọa độ văn hóa Không gian - Thời gian - Chủ thể (C-K-T) của Trần Ngọc Thêm (2015), và lý thuyết tái sản xuất xã hội qua cấu trúc phum, srok của Nguyễn Khắc Cảnh (1998). Phạm vi khảo sát thực địa được triển khai tại 3 tỉnh trọng điểm có đông đồng bào Khmer nhất: Sóc Trăng (huyện Trần Đề, Long Phú), Trà Vinh (huyện Trà Cú, Cầu Kè) và Kiên Giang (huyện Gò Quao, Giang Thành) trong khung thời gian từ 2010 đến 2020. Mẫu khảo sát đạt 1.050 đối tượng (93 mẫu phỏng vấn sâu và 957 mẫu điều tra điền dã, đại diện 0,09% dân số Khmer vùng nghiên cứu), mang lại giá trị thực tiễn và độ tin cậy khoa học cao.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn cho thấy các luồng nghiên cứu về văn hóa Khmer và phát triển nông thôn chia thành ba nhánh chính:
Nhánh thứ nhất tập trung vào mô tả dân tộc học, văn hóa dân gian và nhân học tôn giáo. Tiêu biểu là các công trình của Lê Hương (1969) về tập tục cổ truyền, Thạch Voi (1988) về vốn văn hóa Khmer Nam Bộ, Mạc Đường (1991), Phan Thị Yến Tuyết (1993) về văn hóa sinh hoạt ăn - mặc - ở, Trường Lưu (1993), Trần Văn Bổn (1999) về lễ tục vòng đời, và Phan An (2009). Nhóm tác giả Sơn Phước Hoan, Sơn Ngọc San, Danh Sên (2002) cùng Hà Lý (2004) đã làm rõ vị thế trung tâm của ngôi chùa Phật giáo Nam tông. Tuy nhiên, các học giả này chủ yếu nhìn nhận văn hóa Khmer như một thực thể tĩnh để bảo tồn di sản, thiếu sự liên kết thực chứng với các biến số kinh tế - xã hội hiện đại.
Nhánh thứ hai nghiên cứu về lý luận giá trị và biến đổi giá trị văn hóa. Phạm Minh Hạc (2010) với Giá trị học, Ngô Đức Thịnh (2010, 2014) với hệ giá trị truyền thống Việt Nam, Huỳnh Thanh Quang (2011) về GTVH Khmer ĐBSCL, và Trần Ngọc Thêm (2015) xác lập định nghĩa: "Giá trị là phẩm chất của khách thể được bộc lộ trong một hệ tọa độ C-K-T, trong đó phẩm chất của khách thể được khúc xạ qua đánh giá của chủ thể xét trong quan hệ giữa chủ thể với khách thể và giữa khách thể với nhau". Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt (2014), Vũ Hào Quang (2014), Hồ Sĩ Quý (2014) nhấn mạnh tính lịch sử và quy luật biến đổi giá trị dưới tác động của toàn cầu hóa.
Nhánh thứ ba nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (tam nông) và chương trình NTM. Các nghiên cứu của Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh (2009), Trần Minh Yến (2012), Vũ Văn Phúc (2012), Phạm Tất Thắng (2015) tập trung vào khía cạnh quản lý nhà nước và hạ tầng kinh tế. Một số nghiên cứu chuyên biệt tại TNB như Nguyễn Phú Sơn (2012) về chuỗi liên kết lúa gạo tại xã Định Hòa (Kiên Giang), Nguyễn Thị Thúy Anh (2014), và Trần Thanh Dũng, Nguyễn Ngọc Đệ (2015) về năng lực thích ứng của thanh niên nông thôn.
Trong y văn tồn tại hai luồng quan điểm đối lập: một trường phái xem truyền thống văn hóa tộc người là lực cản cho hiện đại hóa nông nghiệp do tư duy tiểu nông khép kín và chi phí lễ hội tốn kém; trường phái ngược lại coi văn hóa là nguồn vốn xã hội quyết định sự bền vững. Luận án định vị tại điểm giao thoa biện chứng, chứng minh văn hóa Khmer vừa chứa đựng động lực phát triển (tính tương trợ, thiết chế chùa chiền cố kết), vừa tồn tại lực cản (tâm lý tự mãn, thói quen tiêu dùng cúng dường vượt mức tích lũy).
So sánh quốc tế, nghiên cứu đối chiếu trực tiếp với:
- Mô hình phong trào Làng Mới (Saemaul Undong) tại Hàn Quốc thập niên 1970: Thành công của Hàn Quốc bắt nguồn từ việc chuyển hóa tinh thần tự lực (Cần cù - Tự lực - Hợp tác) của người dân thay vì viện trợ thụ động của chính phủ;
- Khung phân tích Kinh tế đạo đức của nông dân (The Moral Economy of the Peasant) của James C. Scott (1976) và nghiên cứu làng xã Đông Nam Á của Benedict J. Tria Kerkvliet (2000): Nông dân ưu tiên mạng lưới an sinh văn hóa cộng đồng hơn là tối đa hóa lợi nhuận kinh tế thuần túy.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng lý thuyết Văn hóa học ứng dụng và Giá trị học thông qua việc cụ thể hóa khái niệm "Phát huy giá trị văn hóa tộc người". Kế thừa luận điểm của Huỳnh Thanh Quang (2011) và Lê Văn Liêm (2010), phát huy không chỉ là bảo tồn cơ học mà là quá trình sàng lọc, tái cấu trúc và kích hoạt các yếu tố tích cực của văn hóa truyền thống nhằm giải quyết các nhiệm vụ phát triển đương đại. Nghiên cứu xác lập 4 mệnh đề lý thuyết:
- Mệnh đề P1: Mức độ tham gia tự nguyện của cộng đồng Khmer vào tiêu chí hạ tầng NTM tỷ lệ thuận với mức độ tham gia của thiết chế chùa Phật giáo Nam tông và giới Acha.
- Mệnh đề P2: Tính gắn kết cộng đồng trong cấu trúc phum, srok là vốn xã hội trực tiếp quyết định hiệu quả của tiêu chí an ninh trật tự (TC19) và tổ chức sản xuất hợp tác xã (TC13).
- Mệnh đề P3: Đầu tư thiết chế văn hóa NTM (TC6) thất bại nếu triệt tiêu hoặc tách rời không gian sinh hoạt tâm linh - lễ hội bản địa của ngôi chùa Khmer.
- Mệnh đề P4: Sự chuyển biến nhận thức từ "được hỗ trợ" sang "chủ thể kiến tạo" phụ thuộc vào năng lực hòa giải mâu thuẫn giữa quy chuẩn hành chính nhà nước và chuẩn mực văn hóa tộc người.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột lý thuyết: Hệ tọa độ văn hóa C-K-T của Trần Ngọc Thêm, Lý thuyết thiết chế xã hội phum, srok của Nguyễn Khắc Cảnh, và Mô hình quản trị phát triển cộng đồng nội sinh (Endogenous Rural Development).
Điều kiện biên (Boundary conditions) của mô hình xác định rõ: Khung phân tích áp dụng tối ưu cho các cộng đồng Khmer cư trú tập trung thành phum, srok có thiết chế chùa Phật giáo Nam tông hoàn chỉnh; không áp dụng đồng nhất cho nhóm cư dân Khmer đô thị hóa hoàn toàn hoặc sinh sống phân tán đan xen đa số với người Kinh và Hoa.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án ứng dụng lập trường nhận thức luận kết hợp giữa Thực chứng luận (Positivism) và Diễn giải luận (Interpretivism) thông qua thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa tầng (Multi-level Mixed Methods Design). Cách tiếp cận này đảm bảo sự thấu cảm sâu sắc đối với các hiện tượng văn hóa tâm linh tộc người, đồng thời cung cấp các kiểm định thống kê khách quan về thực trạng kinh tế - xã hội.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ 4 kỹ thuật thu thập và kiểm chứng dữ liệu:
- Điền dã dân tộc học (Ethnographic Fieldwork): Quan sát tham dự tại các phum, srok và chùa chiền trong các dịp lễ hội quan trọng (Chôl Chnăm Thmây, Sen Dolta, Ok Om Bok).
- Phỏng vấn sâu có chủ đích (In-depth Interviews): Phỏng vấn 93 đối tượng tinh hoa và quản lý, gồm:
- 18 vị Đại đức, Thượng tọa trụ trì các chùa Khmer;
- 18 vị Acha (ban quản trị chùa);
- 30 trí thức người Khmer;
- 27 cán bộ quản lý và trí thức người Kinh am hiểu văn hóa Khmer.
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (Survey): Khảo sát 957 khách thể đại diện thông qua phương pháp chọn mẫu cả khối/cụm ngẫu nhiên phân tầng:
- 450 sinh viên người Khmer tại các trường đại học, cao đẳng vùng ĐBSCL;
- 507 người dân lao động Khmer tại địa bàn 3 tỉnh.
- Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis): Giải mã ngữ nghĩa các câu trả lời của nhóm người cao tuổi, người lao động chân tay Khmer khi diễn đạt song ngữ Khmer - Việt.
Tam giác hóa (Triangulation) được thiết lập giữa dữ liệu sơ cấp điền dã, dữ liệu thứ cấp từ báo cáo Ban chỉ đạo NTM các cấp và văn bản nghị quyết của Đảng, loại bỏ triệt để sai lệch chủ quan.
Data và phân tích
Địa bàn lấy mẫu được thiết kế mang tính đối chứng điển hình giữa các xã khó khăn (chưa đạt chuẩn NTM) và các xã kinh tế khá (đã hoàn thành chuẩn NTM):
- Tỉnh Kiên Giang: Xã Định Hòa (huyện Gò Quao - điểm sáng NTM) đối chứng với Xã Vĩnh Điều (huyện biên giới Giang Thành - xã đặc biệt khó khăn);
- Tỉnh Trà Vinh: Xã Kim Sơn (huyện Trà Cú - đông đồng bào Khmer, nhiều thách thức) đối chứng với Xã Châu Điền (huyện Cầu Kè - hoàn thành tiêu chí);
- Tỉnh Sóc Trăng: Xã Lịch Hội Thượng (huyện Trần Đề) đối chứng với Xã Long Phú (huyện Long Phú).
Dữ liệu định lượng được số hóa và xử lý bằng công cụ phân tích thống kê chuyên biệt trên Microsoft Excel, tính toán các chỉ số thống kê mô tả, tần số, tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình đánh giá nhận thức (Mean score), phản ánh chính xác tương quan hành vi lựa chọn của cư dân Khmer.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Thứ nhất, vai trò cấu trúc quyền lực mềm của thiết chế chùa và tầng lớp Acha - Sư sãi. Trong văn hóa Khmer, ngôi chùa là trung tâm tích hợp "Tam vị nhất thể" (Tôn giáo - Văn hóa - Xã hội). Báo cáo thực tế chứng minh tại các xã đạt chuẩn NTM sớm như Định Hòa (Kiên Giang) hay Châu Điền (Trà Vinh), 100% các cuộc vận động hiến đất làm đường giao thông nông thôn (TC2) và chỉnh trang cảnh quan (TC17) thành công đều nhờ tiếng nói hiệu triệu của các vị Đại đức và Acha. Lời răn dạy của Phật giáo Nam tông về tạo phước (bon) và bố thí (dana) đã được chuyển hóa thành hành động hiến hàng ngàn mét vuông đất công ích.
Thứ hai, điểm nghẽn nghiêm trọng trong triển khai Tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa (TC6). Tình trạng lãng phí và đứt gãy công năng diễn ra phổ biến khi nhà nước xây dựng Nhà văn hóa xã/ấp theo khuôn mẫu người Kinh (kinh phí hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng) nhưng người dân Khmer không đến sinh hoạt. Cư dân phum, srok chỉ tập trung tại khuôn viên chùa để hội họp và tổ chức lễ hội. Báo cáo của UBND tỉnh Trà Vinh chỉ rõ: "Do vốn để hoàn thiện các TC theo quy định là rất lớn, trong khi đó nguồn lực có giới hạn, đặc biệt là nguồn vốn của tỉnh… TC cơ sở vật chất văn hóa để hoàn thiện TC này đúng quy định thì kinh phí quá cao (tiền mua đất, xây dựng, trang thiết bị…) vì diện tích trụ sở Ủy Ban Nhân dân các ấp còn hẹp". Việc cứng nhắc xây dựng nhà văn hóa mới mà bỏ qua không gian chùa chiền gây thất thoát ngân sách lớn.
Thứ ba, sự xung đột giữa tư duy kinh tế thị trường và tâm lý văn hóa tự mãn. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý tại nhiều vùng đồng bào Khmer: mức độ tích lũy vốn tái sản xuất rất thấp dù thu nhập nông nghiệp có cải thiện. Nguyên nhân bắt nguồn từ tập quán dành phần lớn thu nhập cho các nghi lễ tôn giáo (Chôl Chnăm Thmây, Đôn Ta, dâng y Kathina) và tâm lý bằng lòng với hiện tại, chưa hình thành tư duy liên kết chuỗi giá trị hàng hóa. UBND tỉnh Kiên Giang (2015) ghi nhận: "Tiến độ đạt các TC NTM còn chậm, trong đó các TC về lĩnh vực văn hóa, xã hội và môi trường đạt thấp nhất và chưa bền vững... Một bộ phận cán bộ và Nhân dân còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước…”.
Thứ tư, tính thích ứng phân hóa theo thế hệ và trình độ văn hóa. Nhóm 450 sinh viên và 30 trí thức Khmer thể hiện năng lực thích ứng nhanh với các mô hình khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao và hợp tác xã kiểu mới (TC13), trong khi nhóm lao động chân tay lớn tuổi còn phụ thuộc vào các phương thức canh tác truyền thống manh mún.
Implications đa chiều
- Về lý thuyết: Chứng minh tính đúng đắn của quan điểm Hồ Chí Minh: “Phải làm cho văn hóa thấm sâu vào tâm lý DT, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” (1946). Bổ sung vào lý thuyết nhân học phát triển bằng chứng thực nghiệm về cơ chế chuyển hóa vốn văn hóa tộc người thành vốn kinh tế - xã hội.
- Về thực tiễn chính sách: Kiến nghị Ủy ban Dân tộc và Bộ Nông nghiệp & PTNT sửa đổi Thông tư hướng dẫn thực hiện TC6: Cho phép các địa phương vùng đông đồng bào Khmer công nhận khuôn viên Chùa Khmer (Sa La) là điểm sinh hoạt văn hóa ấp đạt chuẩn NTM, tiết kiệm ngân sách hàng trăm tỷ đồng cho nhà nước.
- Về quản trị địa phương: Đưa đội ngũ Sư sãi, Acha và người có uy tín vào Ban chỉ đạo NTM cấp xã/ấp; lồng ghép các tiêu chí vệ sinh môi trường (TC17), an ninh trật tự (TC19) vào nội quy tu học và bài thuyết pháp của nhà chùa.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn nhìn nhận 3 giới hạn nghiên cứu chính:
- Giới hạn không gian: Khảo sát thực địa tập trung vào 3 tỉnh Tây Nam Bộ (Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang), chưa thể bao quát toàn bộ 13 tỉnh ĐBSCL (như An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau - nơi có các đặc điểm tiểu vùng sinh thái ngập lũ hoặc ven biển khác biệt).
- Giới hạn kỹ thuật phân tích lượng lượng: Việc xử lý dữ liệu khảo sát mới dừng lại ở mức thống kê mô tả, tần số và kiểm định trung bình trên Excel; chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng nâng cao như Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) hay Hồi quy đa cấp (Multilevel Regression) để lượng hóa chính xác trọng số tác động của từng biến văn hóa đến thu nhập hộ gia đình.
- Giới hạn rào cản ngôn ngữ: Một tỷ lệ nhỏ bảng hỏi và phỏng vấn sâu với người già phải thông qua phiên dịch viên địa phương, có nguy cơ làm suy giảm sắc thái văn hóa nguyên bản của người bản ngữ.
Chương trình nghiên cứu tương lai (10-Year Research Agenda) mở ra các hướng tiếp cận:
- Ứng dụng mô hình SEM-PLS để đo lường mức độ ảnh hưởng của vốn xã hội tôn giáo đến chỉ số hài lòng của cư dân NTM;
- Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia giữa cộng đồng Khmer tại ĐBSCL (Việt Nam) với cộng đồng Khmer nông thôn tại Campuchia và Thái Lan trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp;
- Đánh giá tác động của Chuyển đổi số và Thương mại điện tử đối với việc quảng bá các làng nghề truyền thống Khmer (nghề gốm, dệt chiếu, đan lát) gắn với du lịch nông thôn NTM.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra tác động học thuật và thực tiễn sâu rộng:
- Tác động học thuật: Dự báo đóng góp y văn giá trị với khả năng trích dẫn cao trong các tạp chí chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học và Xã hội học Nông thôn tại Việt Nam; cung cấp hệ thống dữ liệu điền dã chuẩn mực cho các nghiên cứu sinh chuyên ngành.
- Chuyển đổi chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Tỉnh ủy, UBND các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang trong việc ban hành Nghị quyết chuyên đề về phát huy vai trò tôn giáo trong xây dựng NTM giai đoạn 2021–2030.
- Lợi ích xã hội: Giúp bảo tồn hàng trăm ngôi chùa cổ và các làng điệu dân ca, điệu múa Ro-bam, Dù-kê thông qua việc tích hợp kinh phí hỗ trợ bảo tồn văn hóa của Chương trình NTM, đồng thời cải thiện đời sống vật chất và nâng mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho hơn 1,3 triệu đồng bào Khmer vùng TNB.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích văn hóa ứng dụng liên ngành, mở rộng các đề tài nghiên cứu về nhân học phát triển và xã hội học tôn giáo.
- Cơ quan hoạch định chính sách (Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy ban Dân tộc): Sở hữu cứ liệu khoa học để điều chỉnh bộ tiêu chí NTM đặc thù cho vùng dân tộc thiểu số, chấm dứt tình trạng áp đặt quy chuẩn đồng loạt.
- Ban Chỉ đạo NTM các cấp tại ĐBSCL: Nắm vững cẩm nang phương pháp tiếp cận cộng đồng, kỹ năng làm việc với giới tăng lữ, Acha để tối ưu hóa nguồn lực xã hội hóa hạ tầng nông thôn.
- Cộng đồng cư dân Khmer: Quyền lợi văn hóa và không gian tâm linh được tôn trọng; nâng cao vai trò làm chủ thực sự trong tiến trình hiện đại hóa nông thôn theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Hệ tọa độ văn hóa C-K-T của Trần Ngọc Thêm (2015) và Lý thuyết Giá trị học của Huỳnh Thanh Quang (2011) sang địa hạt Văn hóa học ứng dụng. Nghiên cứu đã thao tác hóa khái niệm "Giá trị văn hóa tộc người" từ một phạm trù triết học trừu tượng thành hệ thống 8 biến số thực nghiệm tương ứng với các tiêu chí xây dựng NTM, chứng minh văn hóa không chỉ là sản phẩm thụ động của kinh tế mà là một dạng vốn xã hội (Social Capital) có khả năng sinh sôi và dẫn dắt phát triển kinh tế.
2. Điểm mới về mặt phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? Trả lời: So với các nghiên cứu thuần túy mô tả dân tộc học của Phan An (2009) hay tiếp cận thuần túy định lượng kinh tế của Nguyễn Phú Sơn (2012), luận án ứng dụng thiết kế hỗn hợp đa tầng (Mixed-methods) kết hợp phân tích diễn ngôn song ngữ Khmer - Việt với kỹ thuật so sánh đối chứng đồng đại (giữa 3 cặp xã đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn NTM tại 3 tỉnh) và lịch đại (tiến trình biến đổi văn hóa từ năm 2010 đến 2020), loại bỏ định kiến nghiên cứu từ trên xuống.
3. Phát hiện bất ngờ nhất có căn cứ dữ liệu là gì? Trả lời: Việc xây dựng các thiết chế văn hóa NTM chuẩn hóa theo mẫu của người Kinh (TC6) tại vùng Khmer gây lãng phí lớn do tỷ lệ bỏ hoang công năng lên đến trên 80% tại các địa bàn khảo sát, trong khi nhà chùa Khmer mới là thiết chế văn hóa đa năng đích thực. Đồng thời, nguồn vốn đóng góp tự nguyện lớn nhất của người Khmer không nằm ở tiền mặt tích lũy mà nằm ở quyền sử dụng đất sẵn sàng hiến tặng khi có sự phê chuẩn của các vị sư sãi trụ trì.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp nghiên cứu (Replication protocol) không? Trả lời: Có. Luận án xây dựng quy trình chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên cả khối, bộ công cụ phỏng vấn sâu 93 đối tượng và bảng hỏi 957 khách thể với các thang đo rõ ràng. Quy trình này có thể áp dụng tái lặp hoàn toàn cho các cộng đồng dân tộc thiểu số khác tại Việt Nam như người Chăm (Ninh Thuận, An Giang) hay đồng bào các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào? Trả lời: Trọng tâm chuyển dịch sang nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL đến sự dịch chuyển cấu trúc phum, srok và dòng di cư lao động Khmer lên các khu công nghiệp Đông Nam Bộ, từ đó đánh giá sự xói mòn hoặc tái cấu trúc các giá trị văn hóa truyền thống trong kỷ nguyên kinh tế số.
Kết luận
- Khẳng định vững chắc vị trí của GTVH Khmer như một nguồn lực nội sinh mang tính quyết định, là động lực thúc đẩy và trụ đỡ tinh thần cho chương trình xây dựng NTM tại Tây Nam Bộ.
- Giải quyết thành công khoảng trống lý luận bằng việc tích hợp thành công chuyên ngành Văn hóa học ứng dụng với chính sách Tam nông của Đảng và Nhà nước.
- Đưa ra hệ thống cứ liệu thực chứng quy mô lớn (1.050 mẫu định tính và định lượng) tại 3 tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang phản ánh chân thực các rào cản và cơ hội phát triển.
- Đề xuất nhóm giải pháp đột phá có tính khả thi cao, tiêu biểu là giải pháp công nhận khuôn viên Chùa Khmer (Sa La) làm thiết chế văn hóa đạt chuẩn NTM cấp cơ sở.
- Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới về nhân học tôn giáo ứng dụng, kinh tế học văn hóa tộc người và quản trị nông thôn thích ứng biến đổi sinh thái.
- Thiết lập di sản nghiên cứu có giá trị thực tiễn lâu dài, định hướng cho công tác quy hoạch chính sách dân tộc và phát triển nông thôn bền vững vùng Tây Nam Bộ đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.