Chương 1: Tổng quan và các vấn đề chính sách. Chương này nhằm giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung như lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn của nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này trình bày những khái niệm, cơ sở lý thuyết về NTM, nguyên tắc và kinh nghiệm XDNTM của các nước.
Bên cạnh đó, chương này cũng giới thiệu tóm tắt những kết quả nghiên cứu trước làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài. 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này giới thiệu về sơ đồ quy trình nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, phương pháp thu thập số liệu, cỡ mẫu và phân tích thống kê mô tả. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu định lượng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ tiến hành phân tích thực trạng và những ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng. Dựa vào kết quả khảo sát, tổng hợp các số liệu thu thập đưa ra kết quả sự tham gia của người dân vào quá trình XDNTM. Chương 5: Kết luận và Kiến nghị.
Chương này đánh giá lại kết quả nghiên cứu của đề tài, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác XDNTM trên địa bàn huyện Phù Mỹ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các khái niệm, đặc điểm về NTM, các yếu tố ảnh hưởng đến sự gia tham của người dân vào XDNTM, hệ thống lý thuyết và các nghiên cứu trước làm nền tảng đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu trong đề tài này. Cơ sở lý luận 2. Khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn và mô hình NTM 2.
Khái niệm về nông thôn Nông thôn là một khái niệm đại diện về xã hội, là một cộng đồng có chung lợi ích, có chung văn hóa hay là cách sống. Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến trên thế giới, thường dựa trên khái niệm lãnh thổ, cho nông thôn là vùng không gian lãnh thổ có các đặc trưng đối lập với thành thị. Nông thôn thường được phân loại dựa trên quy mô dân số, mật độ dân số, bối cảnh cư trú và bối cảnh thị trường lao động (Plessis, Beshiri, Bollman & Clemenson, 2002). Bên cạnh đó, Ý kiến khác lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị.
Một quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc & cộng sự, 2005). Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ cấu áp dụng cho từng nền kinh tế. Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu: Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Phát triển nông thôn Theo Ellis và Biggs (2001) và Nimal (2008), khái niệm phát triển nông thôn đã thay đổi sâu sắc từ ba thập kỷ qua. Với quan điểm ở những thập niên 50 - 60, mục tiêu chính của phát triển nông thôn là phát triển sản xuất nông nghiệp để qua đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho cư dân nông thôn, và phát triển nông thôn là nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tăng trưởng. Ngày nay với phát triển và phát triển kinh tế, phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn; có thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh tế.
Sau đây là một số quan điểm về phát triển nông thôn (Mai Thanh Cúc và công sự, 2005): - Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn. - Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm phát triển đời sống kinh tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt, người nghèo ở nông thôn. Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong những người nghèo nhất, trong những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn. Nhóm này gồm những tiểu nông, tá điền và những người không có đất.
- Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn. Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn. Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn. Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả cho thế hệ tương lai.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu: Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế - xã hội, văn hoá, môi trường và ổn định chính trị. Quá trình này, trước hết là do nỗ 8 lực từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Nguyễn Duy Hoan và Nguyễn Văn Tâm, 2007). Theo Ellis và Biggs (2001), tiếp cận phát triển nông thôn theo kiểu từ trên xuống (top-down), với đặc trưng công nghệ từ bên ngoài và chính sách cấp độ quốc gia đã thay đổi theo hướng tiếp cận từ dưới lên (bottom-up), tiếp cận cơ sở, hay là tiếp cận “quá trình”. Cách tiếp cận này cho rằng phát triển nông thôn là một quá trình có sự tham gia, nhấn mạnh giao quyền cho cư dân nông thôn để họ có thể kiểm soát tiến trình phát triển theo những ưu tiên mà họ lựa chọn.
Cách tiếp cận mới này hình thành dưới sự tác động của hàng loạt yếu tố như: 1) sự thất bại của nghiên cứu hệ thống canh tác và cách mạng xanh đối với tăng thu nhập của nông dân; 2) sự phù hợp của kiến thức kỹ thuật bản địa và quan niệm người nghèo có đủ năng lực để giải quyết các vấn đề của họ; 3) sự nổi lên của phương pháp nghiên cứu có sự tham gia ví dụ như Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), Học và hành động có sự tham gia (PLA); 4) quan điểm lấy cư dân nông thôn làm trung tâm của các chính sách phát triển nông thôn; 5) sự chuyển đổi cấu trúc và tự do hóa thị trường dẫn đến sự rút lui của chính phủ khỏi các vấn đề quản trị ngành nông nghiệp trên quy mô lớn; 6) sự nổi lên của các tổ chức phi chính phủ như là các tổ chức phát triển nông thôn; 7) quan niệm là các lý thuyết tổng quát không áp dụng được cho mọi hoàn cảnh; và 8) vấn đề giới trong phát triển nông thôn. Nhìn chung, quan niệm hiện đại về phát triển nông thôn chú trọng đến bốn nội dung (hay còn gọi là bốn cột trụ) của phát triển nông thôn, bao gồm: 1) Chính trị và thể chế: xây dựng quyền sở hữu cộng đồng; phân quyền và thể chế hóa sự tham gia của công công chúng; thúc đẩy sự tiếp cận công bằng đến các nguồn lực có giới hạn và cơ hội; đưa ra các giải pháp cung ứng dịch vụ. 2) Văn hóa – xã hội: tái phát hiện và xây dựng các nền tảng xã hội, văn hóa vùng và địa phương; đối phó với rủi ro và bất lợi thông qua hệ thống an sinh xã hội. 3) Kinh tế: tạo ra cơ hội việc làm thông qua đa dạng hóa nghề nghiệp; tạo ra giá trị gia tăng cho vùng; kiện toàn năng lực để đối mặt với thị trường.
9 4) Môi trường: quản lý tài nguyên tự nhiên theo cách bền vững và tạo ra các thỏa ước sử dụng mang tính cộng đồng. Theo Dower (2001) đưa ra bốn nguyên tắc bền vững của phát triển nông thôn: bền vững về con người, về kinh tế, môi trường và tổ chức. Để bền vững, phát triển phải: - Nằm trong giới hạn năng lực của các tổ chức kinh tế để khống chế và quản lý, để có thể đáp ứng các tiêu chí nêu trên. - Không gây ra loại chi phí không được hỗ trợ trong tương lai.
Để bền vững, phát triển phải: - Hỗ trợ để tăng cường và đa dạng hóa nền kinh tế nông thôn; - Đảm bảo cho người dân có lợi ích đáng kể từ hoạt động địa phương; - Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn, hơn là vào lợi ích trước mắt; và - Tránh gây tác động xấu đến các khu vực khác trong nền kinh tế quốc dân và đến các khu vực và địa phương khác trên lãnh thổ địa lý. Con người. Để bền vững, phát triển phải tuân theo các nguyên tắc - Dân chủ và an toàn; - Bình đẳng và đối xử công bằng với tất cả, bao gồm cả sự trợ giúp đặc biệt đối với người nghèo và sự quan tâm đến phụ nữ, trẻ em và các dân tộc thiểu số; - Chất lượng cuộc sống cho mọi người dân; - Hành động của người dân trong hợp tác với Chính phủ; và - Tôn trọng đối với tổ tiên, và quyền lợi của những người chưa sinh ra. Môi trường.
Để bền vững, phát triển phải: - Tôn trọng nguồn tài nguyên và tính toàn vẹn của môt trường; - Giảm thiểu sử dụng nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo; - Sử dụng tài nguyên thiên nhiên với tốc độ không nhanh hơn là thiên nhiên có thể tái tạo; 10 - Sử dụng tài nguyên có hiệu quả; và - Tránh gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến môi trường.