Tổng quan nghiên cứu

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn mang tính chiến lược nhằm thay đổi căn bản diện mạo kinh tế, xã hội khu vực nông thôn Việt Nam. Tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn – một huyện vùng cao đặc biệt khó khăn với tổng diện tích tự nhiên 47.539,13 ha, gồm 10 xã, 118 thôn bản và dân số 31.283 người thuộc 7 dân tộc anh em – quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới đối mặt với nhiều rào cản đặc thù. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn ngân sách nhà nước (chiếm trên 85% tổng vốn đầu tư), trong khi nguồn lực nội sinh từ cộng đồng cư dân chưa được khơi thông hiệu quả.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào 4 nội dung chính: đánh giá thực trạng triển khai chương trình nông thôn mới tại huyện Pác Nặm giai đoạn 2016-2018; phân tích thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng (tiền mặt, ngày công, đất đai, trí tuệ); chỉ ra 6 nguyên nhân căn cốt dẫn tới các khó khăn; và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả huy động sức dân.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập tại 3 xã đại diện là Bộc Bố, Giáo Hiệu và Cổ Linh trong khoảng thời gian từ tháng 12/2017 đến tháng 02/2019. Về mặt ý nghĩa, đề tài đóng góp khung luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc, định hướng các giải pháp giúp gia tăng tỷ lệ đóng góp của nhân dân thêm khoảng 15% đến 20%, giảm áp lực chi ngân sách công và đảm bảo tính bền vững lâu dài cho các tiêu chí nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển dựa vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development - ABCD) do Jody Kretzmann và John McKnight khởi xướng năm 1993, được Gord Cunningham phát triển năm 2006. Khung lý thuyết này khẳng định sự phát triển bền vững phải bắt đầu từ việc nhận diện và khai thác 5 nguồn vốn sẵn có trong cộng đồng: nguồn lực con người (kỹ năng, tri thức bản địa), nguồn lực xã hội (sự gắn kết, niềm tin), nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất đai, rừng), nguồn lực vật chất (hạ tầng, công trình) và nguồn lực tài chính (thu nhập, tiết kiệm).

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng khung phân tích mức độ tham gia của Cohen và Uphoff năm 1979 với 4 cấp độ tham gia thiết yếu: ra quyết định, thực hiện, hưởng lợi và đánh giá, kết hợp lý thuyết trao quyền của Oakley năm 1987. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như Nghị quyết 26-NQ/TW, Quyết định 800/QĐ-TTg, Quyết định 491/QĐ-TTg với 19 tiêu chí nông thôn mới, Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở cơ sở và Thông tư liên tịch 26/2017/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực địa kết hợp thu thập dữ liệu thứ cấp từ niên giám thống kê huyện Pác Nặm giai đoạn 2015-2017 và các báo cáo định kỳ giai đoạn 2016-2018 của Ủy ban nhân dân huyện cùng 3 xã nghiên cứu.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát với cỡ mẫu chuẩn gồm 135 hộ gia đình (mỗi xã 45 hộ) và 30 cán bộ chuyên trách cấp xã, trưởng thôn bản tại 3 xã Bộc Bố, Giáo Hiệu và Cổ Linh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp phân bổ theo nhóm thu nhập, địa bàn cư trú và thành phần dân tộc được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao cho các tiểu vùng địa hình và tập quán sinh hoạt. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và ma trận phân tích SWOT là nhằm lượng hóa chính xác mức độ tham gia của người dân, đồng thời bóc tách rõ ràng các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức từ góc nhìn thực tiễn địa phương. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý số liệu được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 14 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Pác Nặm giai đoạn 2016-2018 mất cân đối nghiêm trọng. Nguồn vốn ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chiếm tới 88,4% tổng vốn phân bổ. Trong khi đó, nguồn vốn nhân dân đóng góp chỉ đạt khoảng 3,8%, vốn doanh nghiệp đạt 2,3% và vốn tín dụng chiếm 5,5%.

Thứ hai, các hình thức đóng góp của 135 hộ dân khảo sát có sự chênh lệch rõ rệt. Đóng góp bằng ngày công lao động chiếm tỷ lệ cao nhất với 78,5% số hộ tham gia; đóng góp bằng hình thức hiến đất làm đường và công trình công cộng đạt 41,2%. Ngược lại, tỷ lệ đóng góp bằng tiền mặt trực tiếp chỉ đạt 22,4% do điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập bình quân đầu người của huyện ở mức thấp (dưới 18 triệu đồng/người/năm).

Thứ ba, mức độ hiểu biết và nhận thức của người dân về chương trình còn nhiều hạn chế. Có tới 58,6% số hộ được hỏi vẫn giữ tư tưởng cho rằng xây dựng nông thôn mới là một dự án đầu tư bao cấp của Nhà nước, chỉ có 41,4% nhận thức đúng đắn về vai trò chủ thể và nghĩa vụ tham gia của bản thân.

Thứ tư, 100% cán bộ cơ sở (30/30 người) khẳng định việc huy động các khoản đóng góp tiền mặt và hiến đất gặp trở ngại lớn nhất từ khâu thiếu quy chế công khai, thiếu cơ chế hỗ trợ tài chính cho những hộ bị thiệt hại tài sản lớn và công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phụ thuộc vào nguồn vốn nhà nước tại Pác Nặm xuất phát từ nguyên nhân cơ bản là tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại địa phương còn ở mức trên 40%. Thêm vào đó, địa hình huyện rất hiểm trở với 56,80% diện tích là đồi núi dốc lớn và 27,34% diện tích có độ dốc rất lớn, làm gia tăng suất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng lên 1,5 đến 2 lần so với vùng đồng bằng.

So sánh với bài học quốc tế từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc, sự thành công của phong trào bắt nguồn từ cơ chế hỗ trợ có điều kiện: Nhà nước chỉ cung cấp xi măng, sắt thép ban đầu và mức hỗ trợ giảm dần khi năng lực tự quản của làng xã tăng lên. Đối chiếu với kinh nghiệm phát triển mô hình mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Nhật Bản, huyện Pác Nặm chưa phát huy tốt các sản phẩm đặc trưng địa phương để tạo nguồn thu nhập nội tại cho nhân dân trước khi vận động đóng góp.

Để làm nổi bật các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng minh họa tỷ trọng phân bổ 5 nguồn vốn tại 3 xã nghiên cứu, kết hợp bảng ma trận so sánh tỷ lệ % các hình thức tham gia của người dân theo từng nhóm dân tộc và mức thu nhập.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền, vận động cơ sở nhằm nâng cao tỷ lệ người dân hiểu đúng vai trò chủ thể từ 41,4% lên mức tối thiểu 80% trong giai đoạn 2020-2022. Ban Tuyên giáo Huyện ủy phối hợp với Ủy ban nhân dân 10 xã trực tiếp chỉ đạo, thực hiện thông qua hệ thống truyền thanh tiếng dân tộc, các buổi họp thôn bản và nêu gương các điển hình tiên tiến.
  2. Thiết lập cơ chế chuyển đổi hình thức đóng góp linh hoạt, cho phép 100% hộ nghèo, hộ chính sách quy đổi nghĩa vụ đóng góp tiền mặt thành ngày công lao động hoặc cung cấp vật liệu sẵn có (cát, sỏi, gỗ) tại địa phương. Ban Quản lý nông thôn mới cấp xã và Ban Phát triển thôn thực hiện quy trình này từ năm 2020 đến 2025 sau khi họp bàn dân chủ.
  3. Thực hiện phân cấp và giao quyền tự quản trực tiếp cho cộng đồng dân cư trong việc thi công và giám sát các công trình hạ tầng quy mô nhỏ (đường liên thôn, kênh mương nội đồng), phấn đấu giảm 15% đến 20% chi phí thi công trong giai đoạn 2021-2024. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện hướng dẫn kỹ thuật, đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán.
  4. Hoàn thiện chính sách biểu dương, khen thưởng và hỗ trợ đền bù thiệt hại đối với các hộ hiến đất, trích tối thiểu 5% kinh phí thi đua khen thưởng nông thôn mới hàng năm của huyện để vinh danh các hộ hiến từ 100 m² đất trở lên hoặc đóng góp trên 50 ngày công lao động, triển khai định kỳ hàng quý bởi Ủy ban nhân dân huyện Pác Nặm trong giai đoạn 2020-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  1. Cán bộ quản lý và chuyên viên Văn phòng điều phối nông thôn mới các cấp: Nắm bắt các phương thức phân cấp quản lý vốn, cơ chế huy động sự tham gia của nhân dân phù hợp với địa bàn vùng cao đặc biệt khó khăn.
  2. Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương cấp huyện, xã tại các khu vực miền núi: Vận dụng trực tiếp các kinh nghiệm thực tiễn về tổ chức họp thôn, quy trình lấy ý kiến nhân dân và giải quyết bài toán hiến đất làm đường giao thông nông thôn.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp: Sử dụng khung lý thuyết ABCD, mô hình tham gia của Cohen - Uphoff và hệ thống số liệu khảo sát thực địa 135 hộ làm tư liệu tham khảo, đối sánh khoa học.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị quản lý dự án phát triển cộng đồng: Khai thác phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân bản địa để thiết kế và triển khai các dự án sinh kế, cơ sở hạ tầng bền vững tại các vùng dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc huy động nguồn lực cộng đồng cho nông thôn mới tại huyện Pác Nặm lại gặp nhiều khó khăn? Khó khăn xuất phát từ tỷ lệ hộ nghèo cao, địa hình đồi núi dốc lớn chiếm trên 84% diện tích tự nhiên làm tăng chi phí xây dựng, cùng với tâm lý ỷ lại nguồn hỗ trợ bao cấp của Nhà nước chiếm tới 58,6% số hộ khảo sát.

Khung lý thuyết nào đóng vai trò chủ đạo trong phân tích nguồn lực cộng đồng của luận văn? Luận văn kết hợp mô hình phát triển dựa vào nội lực cộng đồng (ABCD) của Kretzmann và McKnight phân loại 5 nguồn vốn với khung phân tích 4 cấp độ tham gia của Cohen và Uphoff để đánh giá toàn diện mức độ gắn kết của người dân.

Hình thức đóng góp nào của người dân tại huyện Pác Nặm đạt hiệu quả cao nhất trong thực tế? Hình thức đóng góp hiệu quả nhất là ngày công lao động với 78,5% số hộ tham gia và hiến đất xây dựng đường giao thông với 41,2% số hộ, vượt trội hoàn toàn so với tỷ lệ đóng góp bằng tiền mặt chỉ đạt 22,4%.

Giải pháp nào giúp giải quyết vấn đề đóng góp tài chính cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn? Luận văn đề xuất cơ chế linh hoạt: cho phép hộ nghèo và cận nghèo quy đổi toàn bộ nghĩa vụ đóng góp tiền mặt thành ngày công lao động trực tiếp, hoặc cung cấp nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương để thi công công trình.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào được tác giả so sánh và vận dụng vào luận văn? Tác giả đối chiếu bài học từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc về việc cắt giảm dần mức hỗ trợ nhà nước để kích thích tính tự lực, kết hợp kinh nghiệm phát triển sản phẩm đặc thù OVOP của Nhật Bản nhằm tạo thu nhập cho người dân.

Kết luận

  • Khẳng định nguồn lực cộng đồng là yếu tố nội sinh mang tính quyết định đến sự thành bại và tính bền vững của chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Pác Nặm.
  • Xác định rõ sự mất cân đối khi vốn ngân sách nhà nước chiếm trên 88% và chỉ ra 6 nhóm nguyên nhân kìm hãm sự tham gia của nhân dân tại địa phương.
  • Chứng minh giá trị thực tiễn của khung lý thuyết phát triển nội lực (ABCD) và nguyên tắc dân chủ cơ sở trong việc khơi dậy tiềm năng vùng cao.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi gắn liền với đổi mới truyền thông, chuyển đổi hình thức đóng góp, phân cấp thi công và khen thưởng kịp thời.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý ban hành cơ chế chính sách đặc thù cho các huyện nghèo trên phạm vi cả nước.

Về lộ trình tiếp theo, chính quyền địa phương cần mở rộng khảo sát tại 7 xã còn lại của huyện Pác Nặm và nhân rộng các mô hình tổ thợ cộng đồng tự quản giai đoạn 2021-2025. Các cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia phát triển nông thôn và cán bộ cơ sở hãy chủ động tham khảo, vận dụng các đề xuất trong luận văn để nâng cao năng lực quản trị và huy động tối đa nguồn lực xây dựng nông thôn mới bền vững.