CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI NHÁNH HUYỆN TAM BÌNH - VĨNH LONG 1.1 LỊCH SỬ NGÂN HÀNG AGRIBANK Tên ngân hàng: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Tên giao dịch quốc tế: VietNam Bank for Agriculture and Rural Development Tên công ty viết tắt bằng tiếng anh: Agribank Địa chỉ trụ sở chính: Số 2, Láng Hạ, Phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội Lĩnh vực kinh doanh: Tài chính ngân hàng Web: www.vn Email: cskh@agribank.vn Điện thoại: 1900558818 - (+84-24)32053205 Địa chỉ đơn vị thực tập: Số 116/10 Tổ 25, Khóm 2, Thị Trấn Tam Bình, Huyện Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long Logo: Hình 1. 1 Logo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Nguồn: Internet Lịch sử hình thành và phát triễn ngân hàng Agribank 1988: Ngày 26/03/1988 ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động chính thức vào ngày 01/07/1988 trên phạm vi toàn nước với nguyên tắc rõ ràng, nhất quán “Tự huy động, tự cho vay và hạch toán độc lập” để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vùng đất “Chín rồng” - Đồng bằng sông Cửu Long. 1989: Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam đạt được thành tích đầu tiên trong năm là thu được cả gốc lẫn lãi đúng kỳ hạn ở các tỉnh thí điểm cho vay tại các tỉnh thành phía Tây Nam Bộ. Với thành tích trên đã khiến cho nông dân và ngân hàng vô cùng vui mừng và phấn khởi, tiếp tục phấn đấu 1990: Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam theo quyết định của Chủ tích Hội đồng Bộ trưởng, đồng thời được Cộng đồng Châu Âu (EC) chọn là ngân hàng đầu tiên thực hiện dự án “Chương trình hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng” bao gồm 6 Chương trình: Y tế, Đào tạo (nghề nghiệp), Doanh nghiệp nhỏ, Dự án, Thông tin tuyên truyền và Tín dụng.
1991: Được công nhận trở thành hội viên và chính thức gia nhập APRACA (Hội nghị Ban điều hành Hiệp hội tín dụng Nông nghiệp Nông thôn khu vực châu Á - Thái Bình Dương) đồng thời mở văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ở miền Nam ( Thành Phố Hồ Chí Minh) và miền Trung ( Quy Nhơn, Bình Định) 16 0 0 1992: Ngân hàng thành lập Sở giao dịch đối ngoại ngày nay là Sở Kinh doanh hoái đoái. Cùng với đó là thành lập 3 sở giao dịch mới tại 3 thành phố lần lượt tại (Sở giao dịch I tại Hà Nội, Sở giao dịch II tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Sở giao dịch III tại Đà Nẵng) và 518 chi nhánh mới tại các tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã trên khắp cả nước. 1993: Ngân hàng xác nhận làm dịch vụ ủy thác đầu tư cho nông nghiệp Việt Nam khi các dự án có sự tham gia, góp vốn từ nước ngoài. Cùng với đó tiến hành hướng dẫn khách hàng thực hiện thanh toán qua mạng trong hệ thống của ngân hàng, hướng dẫn khách hàng thanh toán tay ba (Ngân hàng, người đi vay và người cung ứng dịch vụ) khi khách hàng, hộ kinh doanh, sản xuất vay vốn qua cửa hàng bán vật tư nông nghiệp.
1994: Tổ chức thu mua, trao đổi ngoại tệ, mở rộng, phát triển và triển khai tài khoản cá nhân, thanh toán séc cá nhân. Thành lập và đi vào hoạt động “Khối kinh tế đối ngoại và Quản lý hối đoái” và “Sở Kinh doanh hối đoái” nhằm đề xuất và chỉ đạo các hoạt động quốc tế, dự án quốc tế, kinh doanh đối ngoại. 1995: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, ngày nay đổi tên thành Ngân hàng chính sách xã hội, tách ra và đi vào hoạt động hoàn toàn riêng biệt với Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. 1996: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) cho đến tận ngày nay và cũng trong năm nay ngân hàng còn vinh dự đăng cai tổ chức “Hội nghị lần thứ 34” Ban điều hành APRACA tại Thủ đô Hà Nội, thúc đẩy sự hợp tác có hiệu quả giữa Agribank và APRACA.
1999: Ngân hàng Agribank tập trung phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ, triển khai và đi vào hoạt động hệ thống máy ATM (Automated Teller Machine: máy rút tiền tự động) tại các chi nhánh lớn nhưng vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, liên doanh với hội Nông dân Việt Nam 2000: Ngân hàng Agribank thành lập công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp (Agriseco), tự tin là một trong những công ty chứng khoán đầu tiên được hình và đi vào hoạt động trên sàn Chứng khoán Việt Nam và phát triển thêm 2.300 chi nhánh trên khắp cả nước. 2002: Ngân hàng Agribank hoàn thành tốt và thực hiện đầy đủ hệ thống kế toán theo tiêu chuẩn IAS quốc tế. 2003: Ngân hàng Agribank thành lập Công ty Vàng Agribank Việt Nam - Tên đầy đủ: VIỆT NAM AGRIBANK GOLD CORPORATION JSC - AJC, trung tâm thẻ Agribank, hoàn thành chỉnh chu hệ thống bảo mật thông tin khách hàng trên cơ sở dữ liệu Oracle. Xuất sắc nhận danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổi mới 2004: Ngân hàng Agribank thành lập “Uỷ ban Quản lý tài sản nợ và tài sản” có trực thuộc hội đồng Quản trị.
Thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên “Dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam” và là ngân hàng thương mại đầu tiên cho ra đời cuốn sổ tay tín dụng “Sổ tay Agribank”(là sổ tay quy định về chính sách vay tín dụng theo thông lệ Quốc tế). 2005: Ngân hàng Agribank thành lập “Sở Quản lý và Kinh doanh vốn và Ngoại tệ”. đồng thời ra mắt thẻ ghi nợ Success, tạo thuận tiện cho khách hàng trong thanh toán. 2006: Thành lập Công ty “Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam”, đạt Giải thưởng Sao vàng trên đất Việt.
2007: Ngân hàng Agribank mở văn phòng tại nước láng giềng Campuchia, được Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) xếp hạng là doanh nghiệp sô 1 Việt Nam. 17 0 0 2008: Kỷ niệm 20 thành từ khi thành lập, Agribank xuất sắc được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và đảm nhiệm chức vị Chủ tịch Hiệp hội tín dụng Nông nghiệp và Nông thôn Châu Á - Thái Bình Dương (APRACA). 2009: Agribank là ngân hàng đầu tiên lần thứ hai được nhận giải thưởng Sao vàng trên đất Việt, vinh dự được đón Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tới thắm và làm việc 2010: Ngân hàng Agribank khẳng định vị trí số 1 trong lĩnh vực phát triển chủ thẻ với 2,1 triệu thẻ được phát hành chỉ trong năm 2010, nâng tổng số lên đạt 6,3 triệu thẻ từ trước đến nay, vinh dự được vinh danh tại lễ trao giải “ Mastercard Hall Of Fame 2010” do tổ chức thẻ Quốc tế Mastercard tổ chức và top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (Bảng xếp hang VNR500). Đồng thời, chính thức khai trương chi nhánh ngân hàng Agribank tại Campuchia.
2011: Ngân hàng Agribank chuyển đổi mô hình hoạt động kinh doanh sang Công ty Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do Nhà nước sở hữu với số vốn điều lệ là 100% thuộc về Nhà nước.Thuận lợi từ nguồn vốn, Agribank mạnh tay đầu tư 300.000 tỷ đồng cho “Tam nông”, tự hào là tổ chức tính dụng dẫn đầu trong việc cho vay thí điểm xây dựng nông thôn mới. 2012: Agribank đạt nhiều thành tựu nổi bật như: Ngân hàng thương mại thanh toán hàng đầu Việt Nam, ngân hàng có chất lượng thanh toán cao, doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN, thương hiệu nổi tiếng ASEAN, ngân hàng thương mại có quy mô tổng tài sản lớn nhất Việt Nam, top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (Bảng xếp hang VNR500) và phủ sóng khắp cả nước với mạng lưới hoạt động gần 2.400 chi nhánh và phòng giao dịch, kể cả chi nhánh tại Campuchia, đội ngũ nhân viên lên đến gần 40.000 người, chiếm 40% cán bộ, viên chức ngành ngân hàng. 2013: Vinh dự được nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hang ba về những thành tích xuất săc trong phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. 2014: Ngân hàng Agribank tổ chức thành công hội thảo “Hệ thống cho vay nông nghiệp” phối hợp cùng với hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA) với sự tham gia của các thành viên trong hội.
Còn hơn cả mong đợi, sau hội thảo kết thúc, Agribank đã ký kết 36 hiệp định khung và biên bản ghi nhớ, 96 thỏa thuận với các đối tác nước ngoài. 2015: Ra mắt thành công hệ thống phát hành và thanh toán thẻ chíp theo chuẩn EMV đem lại nhiều lợi ích và thuận tiện cho khách hàng sử dụng thẻ Agribank. Đồng thời triển khai thành công “Đề án Tái cơ cấu được Thông đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” phê duyệt, thành lập “Trung tâm vốn Agribank” nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh vốn và ngoại tệ. 2016: Agribank nằm trong top 20 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam, tổng tài sản cán mốc 1 triệu tỷ đồng, là ngân hàng đứng đầu hệ thống các NHTM (Bảng xếp hạng 500 VNR), nhận giải thưởng Sao Khuê cho 2 ứng dụng phần mềm là “Agribank E-Mobile Banking” và “Hệ thống phát hành và thanh toán thẻ chip theo chuẩn EMV”.
Đây là 2 phần mềm vô vùng xuất sắc trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng của Agribank. 2017: Agribank giữ vững thành tích top 3 ngân hàng thương mại dẫn đầu về thị trường thẻ, top 6 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam và top 1 các ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam (Bảng xếp hạng VNR 500), top 20 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt 18 0 0 Nam. Đồng thời tập trung đẩy mạnh triển khai dự án E-Banking nhằm xây dựng nền tảng dịch vụ đa kênh hoàn chỉnh, đặc biệt là Internet Banking và Mobile Banking. 2018: Vinh hạnh nhận về các giải thưởng cao quý như: Huân chương Lao động hạng Nhất, Thương hiệu quốc gia 2018, giải “Sao khuê 2018” với Hệ thống/Phần mềm công nghệ thông tin xuất sắc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, top 50 Doanh nghiệp thành tựu, dẫn đầu các NHTM (bảng xếp hạng VNR500).
Được tạp chí “The Banker” bình chọn đứng thứ 465 trong Top 1.000 ngân hàng lớn nhất thế giới và xếp thứ 2 quốc gia năm 2018 …Cùng với đó là tổng tài sản đạt gần 1,3 triệu tỷ đồng, nguồn vốn huy đạt trên 1,2 triệu tỷ đồng, tổng dư nợ tín dụng và đầu tư đạt trên 1,1 triệu tỷ đồng.