CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Làng Hạ Yên Quyết và cụm di tích đình - miếu 1. Làng Hạ Yên Quyết diên cách và lịch sử văn hóa 1. Diên cách làng Hạ Yên Quyết Làng Hạ Yên Quyết nay thuộc Phường Yên Hòa.
Ngày nay Phường Yên Hòa là một trong tám phường thuộc quận Cầu Giấy (Thành phố Hà Nội) được thành lập theo Nghị định số 74/CP ngày 22/11/1996 của Chính phủ, với diện tích tự nhiên 206,15ha, nằm trải dài theo sông Tô Lịch. Địa giới của phường: phía đông giáp phường Láng Thượng (quận Đống Đa) phía tây giáp với xã Mỹ Đình, Mỹ Trì (huyện Từ Liêm), phía nam giáp phường Trung Hòa, phía bắc giáp phường Quan Hoa [1, tr. Dân số khoảng 35. Làng Hạ Yên Quyết, thường gọi là làng Cót hay Kẻ Cót, vốn là một vùng đất cổ.
Làng Hạ Yên Quyết còn có tên là xã Bạch Liên Hoa hay xã Bạch Liên. Trong sách Bạch Liên khảo ký của Huệ Phủ Nguyễn Quang Địch tri phủ Kiến An dưới triều Minh Mạng (1820-1840), có nói về nguồn gốc của làng như sau: “Nguyên khảo sự tích bản xã vì xưa có "Bạch Liên Hoa xã" là một tên đẹp mà làng ta phía nam có hồ sen, phía tây có giếng sen nên gọi tên là "Bạch Liên xã". Đến thời Mục Tông nhà Đường (821-825) đô hộ, Cao Biền đắp Đại La Thành, đào sông Tô Lịch, sắp xếp cư dân ở phụ vào gần đó, bấy giờ làng ta mới được yên chỗ ở. Mạch đất làng ta là một nhánh gốc từ núi Tản Viên.
Mạch đất nước ta có ba nhánh lớn: Long Đồ là một nhánh vừa đi đến Tây Hồ (tức vết chân của Trâu vàng ở hồ Dâm Đàm) chạy theo dải sông Tô, chữ "Kiền Hợi" chuyển sang chữ "Càn" kéo đến nhánh chính khi đến các Gò Đống khí thiêng được tụ lại nhiều. Phía trước có hồ sen là một cái "Minh Đường" như tấm gương mở ra. Nước tuy không sâu nhưng trong sáng và kéo dài ôm quanh lấy có vẻ đáng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yêu lại có gò Kim Quy (tục gọi là Đống Già) các gò hình cái bút, cái bảng la liệt ở phía trước. Sau lưng có gò "Thất Tinh": gò tròn và đẹp như những bình phong bầy ra, lại có các bãi "Sa" như bãi hình "người tiên" và bãi "chim phượng hoàng" chầu ở phía sau.
Tay long bên phải thì chạy theo ven sông Tô viền quanh các mỏm đất ở rìa làng rồi quay đầu lại. Tay hổ ở bên hữu thì theo từng bãi sa sẽ xuống như hình kho đụn đến chỗ cao của nền chùa cổ thì cũng ngoặt lên như hình cái móc treo. Những cái tốt, cái hay chỗ đất ở của làng ta đều tựa vào đây. Do đó dân làng cư tụ, sinh sôi ngày càng đông đúc.
Ban đầu mới có họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Quản, họ Doãn sau thêm vào nữa là họ Trần, họ Phạm, họ Lê, họ Ngô, liệt vào tám giáp ở bên Đông và bên Đoài. Trong những việc quân, hôn tang, tế thù tạc, giao tiếp biết chuộng theo lễ văn. Bây giờ miếu, đình, chùa, đền và văn chỉ mới bắt đầu kiến lập. Suốt từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê thời thế có chuyển biến thay đổi, dân bạ làng ta không tránh có sự tăng giảm, Phật tự cộng 50 mẫu, ruộng tư và ruộng kỳ tại công 470 mẫu linh.
Người cày ruộng, kẻ học trò ai nấy mỗi nơi, không từ bỏ nghề nghiệp mình tứ dân” [20, tr. Như vậy làng Hạ Yên Quyết đã có từ lâu đời với sự thay đổi địa danh của các thời kỳ như sau: Thời Lê Sơ, xã Bạch Liên được đổi thành xã Yên Quyết với hai thôn Thượng và Hạ thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai xứ Sơn Tây và cái tên "Làng Cót" hay "Kẻ Cót" có từ đây. Đầu thế kỷ 16, theo sự phát triển tự nhiên về dân số và xã hội, xã Yên Quyết được tách thành hai, xã Thượng Yên Quyết (còn gọi là Làng Giấy) và xã Hạ Yên Quyết (còn gọi là Làng Cót). Từ cuối thời Lê đến đầu nhà Nguyễn, cả hai xã Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết đều thuộc về huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây [60, tr.
Năm 1831, vua Minh Mạng cải cách hành chính, chia nước ta thành 29 tỉnh, kinh thành Thăng Long trở thành cấp tỉnh, hai xã Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết lúc bấy giờ thuộc phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội. Năm 1915, khi 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính quyền Pháp đổi tên “khu vực ngoại thành Hà Nội” thành Huyện Hoàn Long trực thuộc tỉnh Hà Đông, cả hai xã Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết đều thuộc về Hà Đông. Đến tháng 12/1942, hai xã lại được đưa về đại lý đặc biệt của Hà Nội, đại lý Hoàn Long, phủ lỵ tại ấp Thái Hà. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng tổ chức lại các đơn vị hành chính của Hà Nội gồm 17 khu phố và năm quận ngoại thành (Đống Đa, Lãng Bạc, Đại La, Lê Linh và Đề Thám), thì Hạ Yên Quyết và An Hòa thuộc quận Đại La.
Đến tháng 5/1948 sau khi Hà Nội bị giặc Pháp chiếm đóng, sát nhập hai tỉnh Hà Nội và Hà Đông thành liên tỉnh Lưỡng Hà. Hà Nội chia thành hai huyện Trấn Tây Thành và Trấn Nam Thành. Hai xã Hạ Yên Quyết và An Hòa được gọi là liên xã Song Yên, thuộc về Trấn Tây Thành. Năm 1956, hai xã được sáp nhập gọi là xã Yên Hòa thuộc quận 6 của Hà Nội.
Ngày 20/04/1961 Quốc Hội khóa II, kỳ họp thứ hai phê chuẩn Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thành phố Hà Nội, chia làm bốn khu nội thành và bốn huyện ngoại thành, trong đó có huyện Từ Liêm được hình thành trên cơ sở địa bàn của Từ Liêm cũ, riêng Yên Hòa cắt nửa phố Cầu Giấy phía đông thuộc về khu Ba Đình, phần còn lại thuộc về huyện Từ Liêm. Năm 1982, một phần đất của xã Yên Hòa gồm phố Cầu Giấy, xóm Quan Hoa được tách ra để thành lập thị trấn Cầu Giấy theo Nghị định 173 ngày 01/10/1982 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1997, thực hiện Nghị định 74/CP ngày 22/11/1996 của Chính phủ về việc thành lập quận Cầu Giấy, ngày 01/09/1997 xã Yên Hòa chính thức trở thành phường Yên Hòa, một đơn vị hành chính của quận Cầu Giấy [3, tr. Lịch sử văn hóa làng hạ Yên Quyết Làng Cót là một vùng đất cổ, nơi đây từng phát hiện được dấu tích cư trú của các thời đại khác nhau.
Tháng 3 năm 1978, trong quá trình nạo vét sông Tô Lịch ở địa phận làng Cót, đã phát hiện một ngôi mộ. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khảo cổ học, đây là một ngôi mộ thuyền nằm theo hướng tây bắc - đông nam, đầu hướng đông nam. Quan tài có phần đầu lớn hơn phần đuôi, mặt ngoài giữ nguyên lớp gỗ ngoài của thân cây, hai đầu cắt thẳng, không đẽo nhọn hoặc vát. Quan tài dài 1,97m, rộng 40-50cm, sâu lòng 12cm.
Trong quan tài phát hiện 1 đinh sắt rỉ hình chữ U. Cạnh mộ tìm thấy một đám bã sơ thực vật, có thể là vết tích của trầu cau. Theo những người trực tiếp phát hiện và xử lý mộ, thì khi mới phát hiện còn tìm thấy gốm thô ở bên ngoài quan tài và miếng bã trầu bên trong mộ, nhưng khi cán bộ chuyên môn tới thì những di vật trên đã thất lạc. Mộ không còn nguyên vẹn, quan tài bị phá vỡ nhiều chỗ, nắp quan tài hiện không còn.
Xương cốt trong mộ cũng đã vỡ nát, chỉ còn lại một số mảnh sọ, mảnh xương hàm dưới, răng đen, xương cánh tay và xương sườn… là những gì còn sót lại từ di cốt của một người phụ nữ khoảng 25 tuổi. Đây là ngôi mộ thuyền văn hóa Đông Sơn muộn, có niên đại vào khoảng đầu Công nguyên [33, tr. Điều đó chứng minh người Việt cổ đã có mặt ở đây để xây dựng xóm làng, sinh cơ lập nghiệp. Làng Yên Quyết, với cái tên Kẻ Cót vốn xưa chỉ là một và có từ lâu đời, đến thời nhà Lý, làng Yên Quyết gắn liền với câu truyện lịch sử nhuốm màu huyền thoại, đó là cuộc thi đấu pháp thuật, ân oán giữa hai pháp sư (thiền sư và đạo sĩ) Từ Đạo Hạnh (người làng Láng (Yên Lãng), nhưng quê mẹ làng Cót (Yên Quyết) và Lê Đại Điên (người làng Yên Quyết), trong việc đầu thai làm thái tử nhà Lý [30, tr.
Đến thế kỷ 13, thời Lý - Trần, cùng với việc du nhập nghề làm giấy, làng Cót tức làng Yên Quyết phát triển thành hai vùng với sự phân công lao động trong nghề giấy truyền thống. Nửa trên của làng về phía bắc gần cầu Giấy chuyên nghề làm giấy từ nguyên liệu là vỏ cây dó. Nửa làng dưới nằm ở phía Nam bắt đầu từ cầu Cót trở xuống chuyên làm một thứ sản phẩm là đầu ra của nghề giấy, đó là nghề làm vàng mã. Dần dần, từ một làng Yên Quyết - Kẻ Cót, tách thành hai làng Thượng Yên Quyết (Cót Thượng sau gọi là làng Giấy) và Hạ Yên Quyết (Cót Hạ vẫn được giữ tên gọi là làng Cót).
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Làng Cót còn gọi là Kẻ Cót, nằm trong hệ thống làng cổ của huyện Từ Liêm xưa, như “Kẻ La”, “Kẻ Mỗ”, “Kẻ Vòng”, “Kẻ Bưởi”, “Kẻ Canh”, “Kẻ Mọc”, “Kẻ Vẽ”… điều đó càng cho thấy làng Hạ Yên Quyết có lịch sử lâu đời. Đó là vùng đất trù phú với cơ cấu đầy đủ thành phần sĩ, nông, công, thương. Theo thống kê trong Hương ước làng Hạ Yên Quyết năm 1917 thì ruộng đất của cả xã Yên Hòa có hơn 500 mẫu dùng để canh tác, tổng số ruộng công của cả hai làng trên 130 mẫu dùng vào việc tế thần, phật, ruộng học, ruộng chăm sóc người già, ruộng dùng cho công việc hành chính, ruộng cấp cho người đi lính (mỗi suất một mẫu), ruộng cầy cấy để lấy thóc đóng đinh, đóng thuế… điều này được quy định rất rõ trong hương ước của làng Hạ Yên Quyết mà mọi thành viên trong làng đều phải tuân theo. Số ruộng tư còn hơn 200 mẫu nằm trong tay các hộ, gia đình nhiều ruộng nhất cũng chỉ có 12 mẫu (loại này cũng chỉ có một hai gia đình mà thôi), loại khá trong làng thường có 3-5 mẫu, loại trung thường có 1-2 mẫu, còn phổ biến có 2-5 sào, cũng có nhiều gia đình không có ruộng buộc phải làm nghề khác để sinh sống [3, tr.