Chương 1- Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu; Chương 2- Thiế t kế nghiên cứu, xây dựng và khảo nghiê ̣m bô ̣ công cu ̣ đo lường năng lực KTĐG trong dạy học của GgV; Chương 3-Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Ngoài ra, luận án còn trình bày về : Danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. Những đóng góp mới của luâ ̣n án - Hệ thống hóa, bổ sung, cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến NL KTĐG trong dạy học của GgV từ đó đề xuất mô hình lý thuyết cho nghiên cứu; 8 - Sử dụng cách tiếp cận mới trong xây dựng mô hıǹ h lý thuyế t về NL KTĐG trong dạy học của GgV: Vận dụng cách tiếp cận tích hợp (holistic approach) của các NL thành phần, được cấu trúc theo chu trình PDCA và 03 thành phần cơ bản của NL là kiến thức, kỹ năng và thái độ; đồng thời thiết kế và thử nghiệm được bộ công cụ đo lường phù hơ ̣p với đối tượng và bố i cảnh nghiên cứu từ đó giúp các GgV quân đội và đơn vị quản lý có thể vận dụng bộ công cụ này trong đánh giá riêng rẽ các kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ hoặc NL KTĐG tổng hợp trong dạy học của GgV tại các cơ sở giáo dục quân đội; - Thực nghiệm đánh giá NL KTĐG trong dạy học của GgV tại các cơ sở giáo dục quân đội, với những điể m ma ̣nh và hạn chế; lý giải đươ ̣c các nguyên nhân và đề xuất được các giải pháp cụ thể, phù hợp và có tính khả thi. Đồng thời, đánh giá và thẩm định mô ̣t số yếu tố đă ̣c điể m cá nhân cũng như môi trườn g giáo du ̣c quân sự có hoặc không ảnh hưởng đến NL KTĐG trong dạy học của GgV tại các cơ sở giáo dục quân đội.
TỔNG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CHO NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC TRONG QUÂN ĐỘI 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực kiểm tra đánh giá 1. Các nghiên cứu về vai trò, ảnh hưởng của năng lực kiểm tra đánh giá Thực tế, các giáo viên thường sử dụng thời lượng đáng kể của quỹ thời gian làm việc, có thể tới 50%, cho các hoạt động liên quan đến KTĐG [136, 144]. Trong khi, theo Black và Wiliam (1998) thì chất lượng thực hiện hoạt động KTĐG phụ thuộc chủ yếu vào NL KTĐG của giáo viên [62].
Có rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định năng lực KTĐG của giáo viên có vai trò, ảnh hưởng rất lớn, có khả năng định hướng và quyết định đến các hoạt động giảng dạy, học tập và KQHT của người học [62, 82, 68, 93, 118, 123]. Tương tự, Calderhead J. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Schafer (1993) cũng cho rằng các giáo viên có NL KTĐG cao sẽ có thể quản lý quá trình học tập hiệu quả hơn và rút ra KQHT của người học chính xác và công bằng hơn [130]. NL KTĐG của giáo viên được xem như mối liên hệ chính giữa chất lượng KTĐG và thành tích học tập của ho ̣c sinh.
Năm 1998, Black và Wiliam đã nghiên cứu tổng kết hơn 250 nghiên cứu trước đó về mối quan hệ giữa KTĐG của giáo viên và việc học tập. Kết quả có một thông điệp rõ ràng là: Việc nâng cao hiệu quả của KTĐG trong lớp học sẽ thúc đẩy việc học tập và nâng cao thành tích của học sinh, và đó là một mối quan hệ tỉ lệ thuận. Do đó, KQHT của học sinh phụ thuộc rất lớn vào hoạt động giảng dạy và NL KTĐG của giáo viên [62]. Còn Popham (2009) cho rằng NL KTĐG của giáo viên là chìa khóa cho chất lượng giáo dục trong các hệ thống giáo dục hiện nay.
Tuy nhiên, mặc dù NL nghề nghiệp này rất quan trọng trong các hệ thống giáo dục, nhưng các giáo viên lại có hiểu biết hạn chế về các yếu tố có ảnh hưởng tới NL KTĐG của họ [121]. 10 Theo Xu và Brown (2017) thì NL KTĐG của GgV có tính quyết định tới việc thực hiện thành công hoạt động KTĐG và thậm chí với chất lượng tổng thể của giáo dục. Khi GgV có đủ NL KTĐG cho phép rút ra các kết luận chính xác về việc học tập của người học, truyền tải thông tin đó tới các sinh viên và các bên liên quan khác và điều chỉnh việc hướng dẫn học tập sao cho phù hợp. Nếu không có đủ NL KTĐG sẽ làm giảm độ tin cậy và độ giá trị của KTĐG và dẫn đến các quyết định giáo dục sai lệch và thiếu thông tin [151].
Trong một nghiên cứu khám phá mức độ ảnh hưởng của NL KTĐG của các GgV tiếng Anh ở Đại học hồi giáo Azad, Iran tới hoạt động của họ và kết quả học tập của người học, Mellati và Khademi (2018) đã khẳ n g đinh: ̣ NL KTĐG của GgV (da ̣y tiế n g Anh) có ảnh hưởng đáng kể tới kết quả học tập củ a người ho ̣c (khả năng viết). Cụ thể, có sự khác biê ̣t lớn giữa các hoa ̣t đô ̣ng trên lớp của các GgV được học và không được học về KTĐG. Các giáo viên được học tập về KTĐG thườn g thiế t lâ ̣p các hoa ̣t đô ̣ng trên lớp ho ̣c là: Thiế t lâp̣ các mu ̣c tiêu dựa trên các mố i quan tâm của người ho ̣c; thực hiện KTĐG đa da ̣ng thông qua các nhiê ̣m vu ̣ lớp ho ̣c và thực hiêṇ phản hồ i. Ngươ ̣c la ̣i, các giáo viên không được học về KTĐG đã gă ̣p nhiề u khó khăn trong việc thực hiện đánh giá quá trıǹ h trên lớp học và thường chỉ tập trung vào truyền thụ kiến thức và thực hiện các hoạt động KTĐG định kỳ đã lên kế hoạch từ trước.
Họ cũng cho rằng, các hạn chế về thời gian và tiền lương là những yếu tố quan trọng nhất khiến họ mất động lực và không thể tiến hành đánh giá phát triển trong lớp học. Nghiên cứu cũng khẳng định rằng việc thiếu kiến thức đã ảnh hưởng đến quyết định mà các GgV đưa ra [108]. Theo Stronge (2018), thực hiện tốt hoạt động KTĐG là mô ̣t trong những yế u tố làm nên một người giáo viên da ̣y ho ̣c hiê ̣u quả. Để đánh giá tố t ho ̣c sinh, giáo viên cầ n: Nắ m đươ ̣c tiề m năng và theo dõi sự tiế n bô ̣ của ho ̣c sinh; đưa ra kế hoạch và áp du ̣ng những phương pháp kiể m tra hiê ̣u quả; phản hồ i có ý nghıã , để ta ̣o đô ̣ng lực giúp ho ̣c sinh sửa lỗ i và phát triể n bản thân; khuyế n khı́ch ho ̣c sinh tự đánh giá trong quá trıǹ h ho ̣c tâp̣ [139].
Mă ̣t khác, theo Henderson và các cô ̣ng sự (2019) khi nghiên cứu, bàn luâ ̣n về phản hồ i trong KTĐG ở bâ ̣c đa ̣i ho ̣c đã coi phản hồ i không chı̉ là các thông tin đầ u vào, mà xem đó như mô ̣t quá trıǹ h, thông qua đó người ho ̣c cảm nhâṇ đươ ̣c các 11 thông tin về viê ̣c thực hiê ̣n nhằ m điều chỉnh và thú c đẩ y viê ̣c ho ̣c tâ ̣p của ho ̣. Các tác giả đã khẳ n g đinh ̣ phản hồ i có vai trò rấ t quan tro ̣ng, là yế u tố quyế t đinh ̣ tới hiêụ quả viê ̣c nâng cao chấ t lươ ̣ng ho ̣c tâp. ̣ Nhưng nế u thông tin không có tác du ̣ng gı̀ thı̀ không đươ ̣c go ̣i là thông tin phản hồ i, mà chı̉ là thông tin thuầ n tú y. Hay giá tri ̣ của phản hồ i phu ̣ thuô ̣c vào tác đô ̣ng hoă ̣c hiêụ quả củ a quá trıǹ h phản hồ i.
Các quá trıǹ h phản hồ i có thể và thường thực sự liên quan nhiề u tác nhân như: Các thành viên gia đıǹ h, baṇ bè, các hê ̣ thố ng tự đô ̣ng, các mang ̣ xã hô ̣i, đồ n g nghiê ̣p, các nhà giáo du c̣ , khách hàng và người ho ̣c. Trong quá trıǹ h da ̣y-ho ̣c, quá trıǹ h phản hồ i sẽ liên quan trực tiế p đế n 2 tác nhân là GgV và người ho ̣c. Trong đó , thông thườn g các nhà trườn g và GgV vẫn tiế p câ ̣n phản hồ i theo hướng lấ y GgV làm trung tâm, với các chıń h sách và hoa ̣t đô ̣ng phản hồ i có xu hướng xoay quanh người GgV, với nhữn g hoa ̣t đô ̣ng mà ho ̣ thực hiê ̣n với người ho ̣c. Mă ̣t khác, người ho ̣c cũng có thể tự tham gia vào quá trı̀nh phản hồ i, bao gồ m khả năng tự xác đinh ̣ các mu ̣c tiêu, tiêu chí và thông tin đánh giá của chı́nh ho ̣, để thông tin cho viê ̣c tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng tương lai của người ho ̣c (phản hồi lấy người học làm trung tâm).
Khi đó, các nhà giáo du ̣c có thể hoàn toàn không trực tiế p tham gia vào quá trıǹ h phản hồ i. Tuy nhiên, ngay cả khi quá trıǹ h phản hồ i đươc̣ thực hiêṇ bởi người ho ̣c, thı̀ nhà giáo du ̣c vẫn có mô ̣t vai trò đán g kể trong viê ̣c đinh ̣ hıǹ h các quá trı̀nh phản hồ i. Trong quá trıǹ h da ̣y-ho ̣c, các tác giả của nghiên cứu này đề xuấ t hướn g tiế p câ ̣n phản hồ i cân bằ n g và thực tế hơn giữa phản hồ i lấ y GgV làm trung tâm và phản hồ i lấ y người ho ̣c làm trung tâm [94]. Các quan điể m trên cho thấ y, phản hồ i trong quá trı̀nh da ̣y-ho ̣c và KTĐG là mô ̣t quá trı̀nh phải có những tác đô ̣ng/hiê ̣u quả và GgV luôn có vai trò trung tâm, trực tiế p hoă ̣c thiế t kế , điề u phố i với quá trıǹ h phản hồ i đó.
Hay chấ t lươ ̣ng thực hiê ̣n các hoa ̣t đô ̣ng này phu ̣ thuô ̣c vào khả năng thực hiê ̣n hoă ̣c tổ chức quá trıǹ h phản hồ i và đó là mô ̣t phầ n trong NL KTĐG của GgV. Tương tự, Sadler (1989) cũn g cho rằ ng, bấ t cứ mô hıǹ h (quá trıǹ h) thông tin phản hồ i nào cũng phải tıń h đế n cách mà các sinh viên hiể u và sử du ̣ng thông tin phản hồ i.