ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm virus dengue cấp tính do muỗi truyền. Bệnh lƣu hành trên 100 nƣớc thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng. Có khoảng 2,5 tỷ ngƣời sống trong vùng nguy cơ [1]. Đại dịch SXHD bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 20 với số mắc hàng năm khoảng 100 triệu trƣờng hợp mắc Sốt Dengue (SD), 500.000 trƣờng hợp SXHD cần nhập viện, trong đó, có khoảng 20.000 ca tử vong [36], chi phí ƣớc tính cho một trƣờng hợp cấp cứu và nhập viện khoảng 514- 1394 USD [42].
SXHD là mối đe dọa lớn đến sức khỏe, là gánh nặng cho hệ thống y tế và nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia nhiệt đới. So với tình hình cách đây 50 năm, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết trên toàn thế giới đã tăng 30 lần. Ngày nay, SXHD đƣợc cho là quan trọng nhất trong các bệnh do muỗi truyền virus trên thế giới [58]. Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về căn bệnh này.
Tuy vậy, hiện nay vẫn chƣa có vắc xin hiệu quả để phòng bệnh và cũng không có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh SXHD. Để phòng chống SXHD, diệt muỗi truyền bệnh vẫn là biện pháp chủ yếu. Có nhiều biện pháp phòng chống véc tơ đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng nhƣ: Biện pháp làm giảm nguồn sinh sản của muỗi truyền bệnh, phòng cá nhân khỏi bị muỗi đốt, biện pháp điều khiển gien, sinh thái học, phòng chống sinh học, biện pháp hoá học [18]. Ở Việt Nam bệnh đã và đang trở thành vấn đề y tế nghiêm trọng.
Những năm gần đây số ca mắc và chết do SXHD có xu hƣớng tăng lên và là một trong 10 bệnh truyền nhiễm có số mắc và chết cao nhất trong 26 bệnh truyền nhiễm gây dịch [3]. Hà Nội là một trong các thành phố trọng điểm về SXHD của miền Bắc. Cũng nhƣ tình hình chung của cả nƣớc, số mắc SXHD của Hà Nội cũng có chiều hƣớng gia tăng và tăng nhanh từ 3 năm 2006 – 2008. Chỉ sau 6 năm số mắc SXHD/100.000 dân ở Hà Nội đó tăng gấp hơn 3 lần (2003 mắc 17,46 và 2008 là 64,04/100.000 dân), đặc biệt năm 2009 dịch SXH bùng phát ở Hà Nội, phân bố trên diện rộng 29/29 quận huyện; 521/577 xã/ phƣờng với 16.090 ca mắc, 04 ca tử vong [20].
Đống Đa là quận nội thành của Hà Nội, có mật độ dân đông nhất thủ đô (36.550 ngƣời/km2) [25]. Đây là địa bàn khá phức tạp: Có nhiều lao động ngoại 2 tỉnh, học sinh, sinh viên, lao động thời vụ thuê trọ ở chật chội, một số nơi vẫn còn thiếu nƣớc sạch, điều kiện vệ sinh môi trƣờng kém, có nhiều ổ đọng nƣớc tạo điều kiện cho muỗi truyền bệnh SXHD phát triển và gây dịch. Đống Đa luôn là một trong những địa bàn có số mắc SXHD cao nhất Hà Nội [22]. Trong những năm gần đây tình hình bệnh SXHD diễn biến khá phức tạp, hầu hết các phƣờng đều có ca bệnh.
Năm 2008 toàn quận chỉ có 343 ca bệnh, nhƣng 2009 dịch bùng phát xảy ra toàn quận với 2.627 ca bệnh, số mắc gấp hơn 8 lần 2008; năm 2010, số ca mắc là 401, năm 2011 là 681, đến năm 2012 là 248 ca mắc/ 51 ổ dịch. Tỷ lệ mắc trên 100.000 dân (68,12) cao gấp hơn 3 lần số mắc chung của Hà Nội 19,9/100. Khi có dịch thì việc phát hiện sớm, khoanh vùng, xử lý triệt để là quan trọng nhất để kiểm soát dịch thành công. Tuy nhiên, qua khảo sát của Trung tâm Y dự phòng Hà Nội, khoảng 20% các ổ dịch SXHD tiến hành các biện pháp xử lý ngoài 48 giờ, tức là xử lý muộn so với qui định của Bộ Y tế.
Tại nhiều ổ dịch, một bộ phận ngƣời dân không hợp tác, không đồng ý cho cán bộ y tế vào nhà phun thuốc diệt muỗi hoặc diệt bọ gậy dẫn đến phát sinh nhiều bệnh nhân mới mắc và diễn ra kéo dài. Điều đó, góp phần làm cho dịch sốt xuất huyết dengue ở Đống Đa diễn biến phức tạp và khó kiểm soát hơn. Vậy thực trạng công tác xử lý ổ dịch SXHD tại quận Đống Đa nhƣ thế nào? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến công tác xử lý ổ dịch tại quận Đống Đa? Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết dengue tại quận Đống Đa năm 2012”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết dengue tại quận Đống Đa năm 2012. Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết dengue tại quận Đống Đa năm 2012. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về sốt xuất huyết Dengue 1.
Một số khái niệm Các khái niệm đƣợc sử dụng trong nghiên cứu áp dụng theo quyết định số 1499/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 17/5/2011 về việc “Hướng dẫn giám sát và phòng chống sốt xuất huyết Dengue” [5]. Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn [5]. Ổ dịch SXHD: Một nơi (tổ, khu phố/xóm/ấp, cụm dân cƣ hoặc tƣơng đƣơng) đƣợc xác định là ổ dịch SXHD khi có các ca bệnh lâm sàng xảy ra trong vòng 7 ngày hoặc một ca bệnh SXHD đƣợc chẩn đoán xác định phòng xét nghiệm, đồng thời phát hiện có bọ gậy hoặc muỗi truyền bệnh. Khi có ổ dịch đều phải xử lý theo quy định.
Ổ dịch SXHD đƣợc xác định chấm dứt khi không có ca bệnh mới trong vòng 14 ngày kể từ ngày khởi phát của ca bệnh cuối cùng [5]. Ca bệnh giám sát (ca bệnh lâm sàng): Ngƣời sống hoặc đến từ vùng có ổ dịch hoặc lƣu hành SXHD trong vòng 14 ngày có biểu hiện sốt cao đột ngột, liên tục từ 2-7 ngày và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: - Biểu hiện xuất huyết có thể ở nhiều mức độ khác nhau nhƣ: nghiệm pháp dây thắt dƣơng tính, chấm/mảng xuất huyết ở dƣới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam: + Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn. + Da xung huyết, phát ban. + Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt.
+ Đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan. 5 Ca bệnh xác định: Là ca bệnh đƣợc chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm (bằng các kỹ thuật: Mac – Elisa, PCR, NS1) [5]. Xử lý ổ dịch SXHD muộn: Khi ổ dịch SXHD đƣợc xác định, tiến hành các biện pháp xử lý sau 48 giờ. Ổ dịch diễn ra kéo dài: Sau khi tiến hành các biện pháp xử lý dịch, vẫn xuất hiện bệnh nhân SXHD mới trong vòng 14 ngày.
Tác nhân gây bệnh Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút gây ra và đƣợc truyền qua vết đốt của muỗi. Tác nhân gây bệnh SXHD là vi rút Dengue, gọi là vi rút Arbo thuộc nhóm Flaviviridae, họ Togaviridae. Khi vào cơ thể ngƣời, vi rút nhân lên trong tế bào bạch cầu đơn nhân để gây bệnh. Vi rút Dengue có 4 týp huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4 [1], [4], [26].
Ở Việt Nam đã phân lập cả 4 típ vi rút Dengue. Tuýp vi rút lƣu hành gần đây chủ yếu của các khu vực là D1 (49%), D2 (36%) [8]. Phƣơng thức lây truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue Vi rút Dengue đƣợc truyền từ ngƣời bệnh sang ngƣời lành do muỗi đốt. Bệnh SXHD không thể truyền trực tiếp từ ngƣời sang ngƣời.
Ở Việt Nam có hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó Aedes aegypti giữ vai trò trung gian truyền bệnh chủ yếu. aegypti đƣợc coi là véc tơ chính trong các vụ dịch SXHD ở nhiều nƣớc trong khu vực nhƣ: Philippines, Singapore, Thái Lan. Tại miền Bắc bọ gậy Ae. aegypti tập trung chủ yếu ở các bể xây và các bể cảnh, phế liệu.
Tại khu vực miền trung lại tập trung chủ yếu ở nhiều chủng loại dụng cụ chứa nƣớc (DCCN) nhƣ giếng, bể, bể cảnh, bể cầu.[27] Muỗi Aedes trƣởng thành thân có màu đen bóng xen lẫn những đám vẩy màu trắng bạc tập trung thành từng cụm hay từng đƣờng trên thân và chân tạo nên các vằn đen trắng. Do đó muỗi Aedes thƣờng đƣợc gọi là muỗi vằn [19]. 6 Muỗi Aedes aegypti Muỗi Aedes albopictus Hình 1. Hai loài muỗi truyền bệnh SXHD thƣờng gặp ở Việt Nam Ở Việt Nam, muỗi Aedes chủ yếu tập trung ở thành phố, đô thị, đồng bằng ven biển là những nơi có dân cƣ đông đúc, có nhiều DCCN và hệ thống giao thông phát triển.
Hiện nay kinh tế phát triển khiến lƣợng rác thải, vỏ đồ hộp, vỏ dừa, vỏ lốp xe… tăng lên, tình trạng vứt các dụng cụ phế thải (DCPT) bừa bãi cũng xảy ra thƣờng xuyên và việc đô thị hóa nhanh chóng nhƣng không đồng bộ (cấp thoát nƣớc chƣa đầy đủ, vệ sinh môi trƣờng kém), sự thờ ơ của một số ngƣời dân với truyền thông, giáo dục sức khỏe cộng đồng, tạo điều kiện cho quần thể muỗi Aedes phát triển [14]. aegypti thích sống trong nhà, gần ngƣời, ƣa nơi kín gió, có thể trú đậu ở cả nơi sáng và tối nhƣng thƣờng trú đậu nơi có ánh sáng yếu và có độ cao từ 2 mét trở xuống. Chính vì vậy thƣờng bắt gặp muỗi Aedes đậu nghỉ trên quần áo, chăn, màn, vật dụng gia đình, dây phơi. Chỉ có một số lƣợng ít muỗi đậu nghỉ trên tƣờng.
Muỗi đẻ trứng ở những nơi nƣớc sạch, trong những vật chứa nƣớc tự nhiên hay nhân tạo nhƣ lu, vại, bể chứa nƣớc không đƣợc đậy nắp kín, chai, lọ, vỏ dừa, lốp ô tô cũ, chậu cây cảnh, hòn non bộ chứa nƣớc, bát nƣớc chống kiến hay lọ hoa ở trong và quanh nhà hoặc bất kỳ vật dụng chứa nƣớc nào có thể tích trữ nƣớc đến 7 ngày. Bọ gậy của muỗi Aedes ƣa nƣớc có độ pH hơi axít, nhất là nƣớc mƣa [19]. Muỗi Aedes phát triển quanh năm, nhƣng phát triển mạnh nhất vào tháng 6-10 trùng với mùa mƣa ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, số bệnh nhân mắc và chết cũng tập trung vào mùa mƣa [12]. 7 Muỗi Aedes có vòng đời biến thái hoàn toàn với ấu trùng sống trong nƣớc, chu kỳ phát triển gồm 4 giai đoạn: trứng, bọ gậy, cung quăng và muỗi trƣởng thành, trong đó chỉ có giai đoạn trƣởng thành liên quan trực tiếp đến việc truyền bệnh.
Thời gian trung bình từ trứng đến muỗi trƣởng thành vào khoảng từ 7 đến 10 ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm [19]. Muỗi cái Aedes trƣởng thành có thể hút máu của cả ngƣời và động vật nhƣng chúng thích hút máu ngƣời hơn.