Tổng quan nghiên cứu
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào gìn giữ di sản văn hóa đang là xu thế tất yếu trên toàn cầu nhằm chống lại sự bào mòn của thời gian và thiên tai. Tại Việt Nam, một quốc gia sở hữu hàng ngàn năm lịch sử với hơn 3.000 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, công tác số hóa di sản bằng công nghệ thực tế ảo ba chiều đang từng bước khẳng định giá trị vượt bậc. Điển hình vào năm 2017, công trình tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội – di tích kiến trúc được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng quốc gia năm 2011 – đã chính thức đi vào hoạt động với 18 điểm cảnh thực tế ảo cùng thời lượng trải nghiệm tự động 15 phút tích hợp 3 ngôn ngữ gồm tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh. Dự án không chỉ tái hiện sống động một công trình hơn 100 năm tuổi mà còn mở ra hướng tiếp cận hoàn toàn mới cho công chúng trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy hệ thống chính sách thúc đẩy công nghệ ba chiều trong bảo tồn di sản tại Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống, thiếu tính đồng bộ và chưa có quy chuẩn kỹ thuật cụ thể. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu Hiền thuộc chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để xây dựng một khung chính sách hoàn chỉnh nhằm thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng công nghệ ba chiều vào bảo tồn di sản văn hóa. Nghiên cứu giới hạn phạm vi không gian tại Nhà hát Lớn Hà Nội trong giai đoạn 2011 đến 2017. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa then chốt khi chỉ ra phương thức nâng cao hiệu quả quảng bá di sản lên hơn 60% và tăng cường năng lực lưu giữ chính xác 100% cấu trúc vật thể công trình trước các biến động thời gian.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấu trúc chính sách của học giả Vũ Cao Đàm, xác định chính sách khoa học và công nghệ là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật nhằm tác động vào động cơ hoạt động của các chủ thể xã hội, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng mô hình đánh giá 4 thành phần công nghệ của Ramanathan công bố năm 1988, bao gồm: thành phần kỹ thuật thiết bị (Technoware), thành phần con người (Humanware), thành phần thông tin dữ liệu (Inforware) và thành phần tổ chức quản lý (Orgaware).
Bên cạnh đó, tác giả kế thừa trường phái lý thuyết bảo tồn thích ứng của các học giả quốc tế như Ashworth, Larkham, Albrey và Prentice, tiếp cận di sản dưới góc độ một ngành công nghiệp văn hóa gắn liền với phát triển du lịch bền vững. Luận văn làm sáng tỏ 4 khái niệm trung tâm: Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể theo tinh thần Công ước UNESCO năm 1989 và Luật Di sản Văn hóa năm 2001; Chính sách khoa học và công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; và Công nghệ không gian ba chiều trong tái hiện hình ảnh di tích số.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, báo cáo tổng kết của Cục Di sản Văn hóa, Viện Quốc tế Pháp ngữ cùng các tài liệu lưu trữ kỹ thuật của Nhà hát Lớn Hà Nội từ năm 2011 đến 2017. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 120 phiếu khảo sát định lượng dành cho khách tham quan và chuyên gia công nghệ, kết hợp 15 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với cán bộ quản lý văn hóa và kỹ sư số hóa.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng cho nhóm chuyên gia nhằm thu được nhận định chuyên sâu về rào cản thể chế, trong khi phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng cho du khách trải nghiệm tour ảo 18 điểm cảnh. Việc kết hợp phương pháp phân tích định tính và định lượng cho phép đánh giá đa chiều giữa hiệu quả trải nghiệm thực tế và mức độ hoàn thiện của khung chính sách, đảm bảo luận cứ khoa học có độ tin cậy trên 95%.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra rằng 100% các dự án số hóa công nghệ ba chiều quy mô tiêu chuẩn tại Nhà hát Lớn Hà Nội giai đoạn trước năm 2017 đều phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế, cụ thể là Đại sứ quán Pháp và Viện Quốc tế Pháp ngữ, trong khi nguồn vốn ngân sách nhà nước phân bổ cho mục tiêu này còn xấp xỉ 0%.
Thứ hai, việc ứng dụng tour thực tế ảo 15 phút với 18 góc nhìn toàn cảnh đã giúp tăng 68% mức độ nhận diện thương hiệu di sản Nhà hát Lớn đối với nhóm khách du lịch quốc tế, đặc biệt là du khách đến từ Pháp và Nhật Bản.
Thứ ba, khảo sát thực tế ghi nhận 78% chuyên gia được hỏi khẳng định Việt Nam mới chỉ có chính sách chung về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, hoàn toàn khuyết thiếu các hướng dẫn liên tịch quy định định mức kinh tế kỹ thuật và bản quyền số hóa không gian ba chiều.
Thứ tư, năng lực nguồn nhân lực nội tại (Humanware) tại đơn vị quản lý di tích chỉ đáp ứng được khoảng 30% yêu cầu tự chủ vận hành, dẫn đến 70% khối lượng công việc bảo trì hệ thống số phải thuê đối tác bên ngoài.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ việc hoạch định chính sách khoa học công nghệ trong văn hóa còn thiếu tính liên ngành giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Khi so sánh với các mô hình bảo tồn công nghiệp di sản của Boniface hay Corner tại các nước phát triển, việc số hóa di sản tại Việt Nam chưa hình thành được chuỗi giá trị khép kín tạo ra doanh thu tái đầu tư.
Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ cột phân tích 4 thành phần công nghệ THIO cho thấy thành phần thiết bị (Technoware) và thông tin (Inforware) đạt mức đáp ứng trên 75%, nhưng thành phần thể chế tổ chức (Orgaware) lại rơi vào vùng trũng dưới 40%. Bảng ma trận đối chiếu thể chế phản ánh rõ sự xung đột giữa Luật Di sản Văn hóa năm 2001 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, khiến các đơn vị trực tiếp quản lý di tích gặp lúng túng trong việc hạch toán tài sản số và thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật. Bộ Khoa học và Công nghệ cần chủ trì phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư liên tịch quy định tiêu chuẩn kỹ thuật số hóa ba chiều cho 100% di tích quốc gia đặc biệt trước năm 2025, thiết lập khung định mức kinh tế kỹ thuật rõ ràng để các đơn vị cơ sở thuận tiện lập dự toán ngân sách.
Thứ hai, đẩy mạnh cơ chế hợp tác công tư và xã hội hóa nguồn lực. Chính phủ cần ban hành chính sách ưu đãi miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 10% đến 15% cho các tập đoàn công nghệ tài trợ dự án số hóa di sản, đồng thời mở rộng mô hình liên kết đa phương với các tổ chức quốc tế như Viện Quốc tế Pháp ngữ nhằm đa dạng hóa nguồn tài chính ngoài ngân sách đạt tỷ trọng tối thiểu 50% tổng vốn đầu tư.
Thứ ba, xúc tiến thành lập Hiệp hội ứng dụng công nghệ ba chiều trong bảo tồn di sản văn hóa. Đơn vị này đóng vai trò cầu nối quy tụ ít nhất 50 tổ chức khoa học, doanh nghiệp công nghệ và ban quản lý di tích trong vòng 2 năm đầu thành lập, tạo không gian chia sẻ nền tảng dữ liệu dùng chung và phản biện các chính sách quản lý công nghệ mới.
Thứ tư, nâng cao năng lực nguồn nhân lực chuyên môn hóa. Triển khai chương trình bồi dưỡng kỹ năng số hóa và quản trị tài sản số cho 85% đội ngũ cán bộ quản lý di sản và bảo tàng trên toàn quốc theo lộ trình giai đoạn 2020 đến 2025, bảo đảm đơn vị cơ sở tự chủ tối thiểu 80% công tác vận hành dữ liệu số.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Cục Di sản Văn hóa. Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng và khung lý luận vững chắc để tham mưu ban hành các đề án chuyển đổi số ngành di sản áp dụng cho hơn 3.000 di tích quốc gia.
Nhóm thứ hai là Ban quản lý các di tích, viện bảo tàng và nhà hát lịch sử trên toàn quốc. Các đơn vị có thể học hỏi trực tiếp mô hình tham quan ảo 18 điểm cảnh tại Nhà hát Lớn Hà Nội để triển khai các tour du lịch số, nâng cao 40% trải nghiệm của du khách và giảm thiểu 25% nguy cơ xâm hại vật thể công trình.
Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp công nghệ số, công ty giải pháp thực tế ảo và thiết kế đồ họa ba chiều. Tài liệu này giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác khung pháp lý, yêu cầu kỹ thuật và nhu cầu thực tiễn của các cơ quan văn hóa, từ đó phát triển các sản phẩm phần mềm có tính ứng dụng thương mại cao.
Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Văn hóa, Di sản học và Công nghệ thông tin. Nghiên cứu đóng vai trò là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp tiếp cận liên ngành và ứng dụng mô hình THIO vào quản lý di sản.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn tiếp cận vấn đề chính sách bảo tồn di sản dựa trên mô hình lý thuyết cốt lõi nào? Nghiên cứu tích hợp lý thuyết cấu trúc chính sách của học giả Vũ Cao Đàm cùng mô hình 4 thành phần công nghệ THIO của Ramanathan năm 1988. Sự kết hợp này giúp đánh giá toàn diện từ khía cạnh pháp lý, thiết bị kỹ thuật, năng lực nhân sự đến cơ chế tổ chức điều hành trong bảo tồn văn hóa.
Dự án tham quan ảo tại Nhà hát Lớn Hà Nội có những thông số kỹ thuật và tính năng nổi bật gì? Công trình tham quan ảo xây dựng hệ thống 18 điểm cảnh thực tế ảo tương ứng 18 góc nhìn toàn cảnh với thời lượng trải nghiệm 15 phút. Hệ thống vận hành tự động, tích hợp thuyết minh 3 ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh và tương thích trên mọi thiết bị thông minh có kết nối internet.
Đâu là rào cản lớn nhất trong chính sách ứng dụng công nghệ ba chiều tại Việt Nam giai đoạn nghiên cứu? Rào cản lớn nhất là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn kỹ thuật chuyên biệt và định mức chi phí cho số hóa di sản. Các chính sách hiện hành mới dừng lại ở định hướng chung của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 mà chưa có thông tư hướng dẫn liên ngành cụ thể.
Mô hình 4 thành phần công nghệ THIO đã chỉ ra điểm nghẽn nào tại Nhà hát Lớn Hà Nội? Mô hình chỉ ra rằng thành phần tổ chức quản lý (Orgaware) và thành phần con người (Humanware) là hai mắt xích yếu nhất, khi năng lực tự chủ nhân sự chỉ đạt 30% và chưa có hiệp hội chuyên ngành hỗ trợ kết nối chuyển giao công nghệ.
Việc thành lập Hiệp hội ứng dụng công nghệ ba chiều trong bảo tồn di sản mang lại lợi ích thiết thực gì? Hiệp hội sẽ kết nối hơn 50 đơn vị công nghệ và quản lý văn hóa, tạo lập tiếng nói chung trong phản biện chính sách, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu số liên thông và giảm thiểu 35% chi phí đầu tư trùng lặp giữa các bảo tàng và di tích trên toàn quốc.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chính sách khoa học công nghệ và mô hình bảo tồn di sản thích ứng trong kỷ nguyên số.
- Phân tích thực chứng thành công của mô hình tour ảo 18 điểm cảnh tại Nhà hát Lớn Hà Nội, chứng minh tính ưu việt của công nghệ số trong việc lan tỏa giá trị di tích hơn 100 năm tuổi.
- Nhận diện chính xác 4 điểm nghẽn thể chế, trong đó sự phụ thuộc 100% vào nguồn lực quốc tế và thiếu hụt quy chuẩn kỹ thuật là rào cản lớn nhất.
- Đề xuất mô hình liên kết 4 thành phần công nghệ THIO giúp cân bằng giữa đầu tư thiết bị và nâng cao năng lực tổ chức quản trị di sản số.
- Vạch rõ 4 nhóm giải pháp chiến lược với trọng tâm hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước năm 2025 và xây dựng mạng lưới hiệp hội chuyên ngành.
Công cuộc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc đang đứng trước vận hội lớn từ làn sóng số hóa toàn cầu. Các cơ quan quản lý nhà nước, ban quản lý di tích cùng cộng đồng doanh nghiệp công nghệ cần khẩn trương bắt tay triển khai đồng bộ các giải pháp chính sách nêu trên, tạo đòn bẩy vững chắc để di sản văn hóa Việt Nam trường tồn và tỏa sáng trên bản đồ du lịch thế giới.