Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam phát triển nhanh chóng và trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân. Tính đến năm 2007, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước đạt khoảng 1.008 nghìn ha với sản lượng 2,1 triệu tấn và giá trị xuất khẩu đạt 3,8 tỷ USD (trong đó nuôi trồng thủy sản chiếm 60%). Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch tổng thể và kỹ thuật nuôi chưa hoàn thiện đã dẫn đến tình trạng dư thừa thức ăn, lạm dụng hóa chất, gây suy thoái nghiêm trọng các hệ sinh thái rừng ngập mặn và ô nhiễm môi trường nước. Chất thải nuôi tôm công nghiệp chứa trên 45% nitơ và 22% chất hữu cơ thối rữa, chỉ khoảng 17% trọng lượng khô thức ăn được chuyển hóa thành sinh khối. Thực trạng này làm gia tăng hiện tượng phú dưỡng, phát sinh dịch bệnh trên diện rộng. Điển hình vào tháng 6/2011, bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy đã gây thiệt hại 247 ha nuôi tôm tại tỉnh Quảng Nam, riêng huyện Núi Thành chiếm 90 ha.

Các biện pháp vật lý và hóa học truyền thống như bón vôi, nạo vét đáy ao, pha loãng nước thải bộc lộ nhược điểm là chi phí cao, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và không mang lại hiệu quả lâu dài. Biện pháp sinh học sử dụng thực vật thủy sinh (phytoremediation) để xử lý ô nhiễm nước ngọt đã được nghiên cứu nhiều, song các giải pháp xử lý trong môi trường nước lợ và nước mặn còn rất hạn chế. Cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides L.) là loài thực vật có bộ rễ phát triển mạnh, khả năng hấp thụ chất hữu cơ, dinh dưỡng và kim loại nặng cao, đặc biệt có phổ thích nghi sinh thái rộng và khả năng chịu mặn tốt.

Tại xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam – khu vực có ngành nuôi trồng thủy sản tăng trưởng bình quân 19,53%/năm (giai đoạn 2006–2010) nhưng thường xuyên đối mặt với ô nhiễm môi trường và dịch bệnh – việc tìm kiếm giải pháp sinh học xử lý nước ao tôm là yêu cầu cấp thiết. Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và xử lý nước ô nhiễm của cỏ Vetiver, hướng đến phát triển nuôi tôm bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng sử dụng cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides L.) để cải tạo môi trường nước các ao nuôi tôm, góp phần phát triển bền vững vùng nuôi trồng thủy sản huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu khả năng tăng trưởng và xử lý nước nuôi tôm của cỏ Vetiver trong mô hình thí nghiệm.
  2. Nghiên cứu khả năng tăng trưởng của cỏ Vetiver ngoài thực địa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides L., tên khoa học mới là Chrysopogon zizanioides L. Nash, thuộc họ Hòa thảo Poaceae) và nguồn nước trong ao nuôi tôm, nước kênh dẫn cấp/thoát nước tại xã Tam Giang.
  • Phạm vi không gian: Các ao nuôi tôm và hệ thống kênh dẫn tại xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; phân tích mẫu tại Phòng Công nghệ Môi trường, Khoa Sinh – Môi trường, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực nghiệm thủy canh trong 30 ngày và theo dõi sinh trưởng trên bờ ao trong 90 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nguyên lý xử lý ô nhiễm bằng thực vật (Phytoremediation), khai thác đặc tính sinh học của cỏ Vetiver bao gồm sinh khối rễ lớn, khả năng lọc cơ học, hấp thu trực tiếp dưỡng chất (N, P) và hỗ trợ hệ vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ trong nước có độ mặn biến thiên.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Chuẩn bị vật liệu thực vật: Cỏ Vetiver được ươm trong bầu đất chứa hỗn hợp đất, mùn cưa và phân vi sinh trong thời gian 3 tháng. Các cá thể khỏe mạnh, đồng đều về chiều dài rễ, chiều dài lá và số nhánh được tuyển chọn để đưa vào bố trí thí nghiệm.

Bố trí thí nghiệm trong mô hình (In vitro):

  • Trồng thủy canh trong thùng xốp kích thước 45 cm × 30 cm × 20 cm, dung tích chứa 20 lít nước, mật độ 9 cây/thùng.
  • Thí nghiệm gồm 3 lô, mỗi lô có 3 thùng thí nghiệm và 1 thùng đối chứng (không trồng cỏ):
    • Lô KV1: Nước lấy từ kênh dẫn nước vào và ra ao nuôi tôm (độ mặn dao động 8‰ – 22‰).
    • Lô KV2: Nước lấy trực tiếp trong ao nuôi tôm (độ mặn dao động 10‰ – 14‰).
    • Lô KV50: Nước ao nuôi tôm pha loãng với nước ngọt theo tỷ lệ 1:1 (độ mặn dao động 5‰ – 7‰).
  • Định kỳ 3 ngày tiến hành thay mới toàn bộ nước tương ứng. Sau 15 ngày và 30 ngày tiến hành đo đạc các chỉ tiêu sinh trưởng.
  • Khảo sát hiệu suất xử lý chất ô nhiễm: Sau 15 ngày ổn định sinh trưởng, tháo kiệt nước cũ và nạp 80 lít nước mới cho mỗi lô (20 lít/thùng), theo dõi nồng độ các chất ô nhiễm sau các mốc thời gian lưu nước 1 ngày, 2 ngày và 3 ngày.

Bố trí thí nghiệm ngoài thực địa:

  • Thủy canh trên mặt nước: Đặt cỏ trên giá thể xốp nổi tại kênh cấp/thoát nước (T-KV1) và trong ao nuôi tôm (T-KV2), theo dõi trong 30 ngày (thu số liệu tại ngày 15 và ngày 30).
  • Trồng trên đất bờ ao: Trồng trực tiếp trên đất bờ ao nuôi tôm, theo dõi sinh trưởng trong 90 ngày (thu số liệu tại ngày 30, 60 và 90).

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Phương pháp lấy mẫu nước tuân thủ Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5994:1995 (Chất lượng nước – Lấy mẫu – Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo). Các chỉ tiêu môi trường được phân tích tại phòng thí nghiệm theo các phương pháp chuẩn:

  • pH: Đo trực tiếp bằng máy đo Inolab S6.
  • Oxy hòa tan (DO): Đo trực tiếp bằng máy Dissolved Oxygen Meter YSI 5000.
  • Nhu cầu oxy hóa học (COD): Phương pháp chuẩn độ bằng thuốc tím $\text{KMnO}_4$.
  • Phosphat ($\text{P-PO}_4^{3-}$): Phương pháp trắc quang sử dụng thuốc thử Sunfo Molypdic.
  • Nitơ tổng số ($\text{N}_{ts}$): Phương pháp phân hủy mẫu bằng persunfat.
  • Đánh giá chất lượng nước: So sánh với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B2).

Số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn bằng phần mềm Microsoft Excel. Đánh giá sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức bằng phương pháp phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) và kiểm định LSD ở mức ý nghĩa $\alpha = 0{,}05$.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của hoạt động nuôi trồng thủy sản tới môi trường nước, cùng tiềm năng ứng dụng của cỏ Vetiver trên phạm vi quốc tế và trong nước:

  • Tác động môi trường của nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thủy sản toàn cầu tập trung chủ yếu ở châu Á (năm 2006 sản lượng đạt 51 triệu tấn nuôi trồng, Trung Quốc chiếm 66,7%). Dẫn chứng ô nhiễm nghiêm trọng từ các nghiên cứu quốc tế: Hồ Taihu và hồ chứa Dahonghu (Trung Quốc) gia tăng lượng nitơ, photpho và bùn lắng do nuôi cá lồng; khu vực vịnh Bohai và Yellow Sea tiếp nhận 1.334,8 tấn N, 183,8 tấn P từ nuôi tôm năm 2002; vùng nuôi tôm Chantaburi và vịnh Kungkrabaen (Thái Lan) thải lượng lớn nước thải và bùn chứa $\text{H}_2\text{S}$, $\text{N-NH}_4^+$; ô nhiễm nước ngầm tại Nellore (Ấn Độ); suy thoái rừng ngập mặn tại Thái Lan (mất 83,7% giai đoạn 1975–2003), Philippines (mất gần 50% diện tích rừng ngập mặn từ 1951–1988), Indonesia và Ecuador.
  • Thực trạng tại Việt Nam: Diện tích rừng ngập mặn Đồng bằng sông Cửu Long giảm 80,4% (từ 250.000 ha năm 1950 xuống 82.369 ha năm 2002). Ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng tại Cần Thơ thải 165 tấn hữu cơ/ngày vào mạng lưới sông rạch; dịch bệnh tôm chết hàng loạt tại miền Nam (1993–1994) và miền Trung (2011).
  • Nghiên cứu ứng dụng cỏ Vetiver xử lý ô nhiễm:
    • Trên thế giới: Úc tiên phong xử lý nước thải sinh hoạt (1996) làm giảm 99% N và 85% P sau 5 hàng cỏ, xử lý nước rỉ rác 4 triệu lít/tháng vào mùa hè, xử lý nước thải công nghiệp chế biến 1,4 triệu lít/ngày; Trung Quốc sử dụng xử lý nước thải trại lợn (hấp thụ trên 90% Cu, Zn và trên 75% As, N); Thái Lan ứng dụng các dòng cỏ Monto, Surat Thani, Songkhla 3 xử lý nước thải nhà máy tinh bột sắn.
    • Tại Việt Nam: Nghiên cứu của Đại học Nông Lâm TP.HCM (2002) xử lý nước thải trại heo Phú Sơn đạt hiệu suất giảm BOD 79%, N 91%, P 85%; nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Phong và Dương Thúy Hoa (2004) đạt hiệu suất xử lý $\text{BOD}_5$ 91,04%, N tổng 69,34%, P tổng 69,44%; ứng dụng xử lý nước rỉ rác Đông Thạnh của TS. Ngô Hoàng Văn; xử lý nước thải chế biến thủy sản tại Cafatex Cần Thơ (giảm 91% N, 82% P sau 72 giờ); thử nghiệm tại nhà máy giấy Bắc Ninh và phân đạm Hà Bắc.
  • Hiện trạng nuôi trồng thủy sản huyện Núi Thành: Giai đoạn 2006–2010, giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản tăng từ 25,002 tỷ đồng lên 51,040 tỷ đồng (tăng trưởng 19,53%/năm). Tuy nhiên, địa phương đối mặt với 3 bất cập lớn: bất cập về quản lý và quy hoạch tự phát; bất cập về môi trường gây ô nhiễm và suy thoái hơn 2.000 ha rừng ngập mặn; bất cập về trình độ khoa học kỹ thuật nuôi trồng.

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc vật liệu thực vật, địa bàn nghiên cứu tại xã Tam Giang, thiết kế mô hình thí nghiệm thủy canh trong thùng xốp (KV1, KV2, KV50) và mô hình thực địa (T-KV1, T-KV2 và bờ ao). Trình bày đầy đủ quy trình lấy mẫu nước theo TCVN 5994:1995, các thiết bị đo lường (Inolab S6, YSI 5000), phương pháp phân tích hóa học trong phòng thí nghiệm và quy trình phân tích thống kê ANOVA/LSD.

Chương 3. Kết quả và biện luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm về sinh trưởng và xử lý nước:

1. Khả năng sinh trưởng thực địa:

  • Tại T-KV1 và T-KV2 (thủy canh sau 30 ngày): Trọng lượng tươi lá tăng 98,15% (T-KV1) và 92,34% (T-KV2); chiều dài rễ tăng 31,18% (T-KV1) và 37,32% (T-KV2); trọng lượng tươi rễ tăng 280,64% (T-KV1) và 304,74% (T-KV2); số nhánh tăng từ 2,00 nhánh lên 5,67 nhánh (T-KV1, tăng 304,74%) và 6,25 nhánh (T-KV2, tăng 212,50%).
  • Trên bờ ao nuôi tôm (sau 90 ngày): Cỏ thích nghi và phát triển rất mạnh trong môi trường đất bờ ao: Chiều dài rễ tăng từ 17,33 cm lên 75,50 cm (tăng 335,66%); trọng lượng tươi lá tăng từ 19,00 g lên 170,07 g (tăng 798,42%); trọng lượng tươi rễ tăng từ 17,63 g lên 130,13 g (tăng 638,12%); số nhánh tăng từ 3,67 nhánh lên 16,67 nhánh (tăng 354,22%).

2. Khả năng sinh trưởng trong mô hình thí nghiệm (sau 30 ngày):

  • Lô KV1 (nước kênh dẫn, mặn 8‰ – 22‰): Trọng lượng lá tăng 102,04%, chiều dài rễ tăng 32,16% (đạt 32,38 cm), trọng lượng rễ tăng 229,79%, số nhánh tăng 225,00% (từ 2,0 lên 6,5 nhánh).
  • Lô KV2 (nước ao tôm, mặn 10‰ – 14‰): Trọng lượng lá tăng 84,68%, chiều dài rễ tăng 43,39% (đạt 35,13 cm), trọng lượng rễ tăng 273,43%, số nhánh tăng 237,50% (từ 2,0 lên 6,75 nhánh).
  • Lô KV50 (nước pha loãng 1:1, mặn 5‰ – 7‰): Tốc độ tăng trưởng cao nhất ở mọi chỉ tiêu do độ mặn thấp: trọng lượng lá tăng 184,68%, chiều dài rễ tăng 54,41% (đạt 37,83 cm), trọng lượng rễ tăng 401,52%, số nhánh tăng 283,50% (từ 2,0 lên 7,67 nhánh).

3. Khả năng xử lý chất ô nhiễm của cỏ Vetiver sau 3 ngày lưu nước:

  • Độ mặn và pH: Độ mặn tăng nhẹ do bốc thoát hơi nước (KV1 từ 21,17‰ lên 20,50‰; KV2 từ 10,17‰ lên 10,83‰; KV50 từ 5,50‰ lên 6,00‰). pH duy trì ổn định trong khoảng 6,80 – 8,06, nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT.
  • Oxy hòa tan (DO): Tăng mạnh từ mức thiếu oxy ban đầu (1,26 – 1,39 mg/l) lên 6,45 – 7,19 mg/l sau 3 ngày, đáp ứng tiêu chuẩn nước mặt.
  • Hàm lượng COD: Giảm từ 11,91 – 14,51 mg/l xuống còn 5,49 – 6,45 mg/l (hiệu suất xử lý đạt từ 50,25% đến 62,65%).
  • Hàm lượng $\text{P-PO}_4^{3-}$: Giảm mạnh từ mức vượt chuẩn ban đầu (1,28 – 2,30 mg/l) xuống còn 0,19 – 0,47 mg/l; hiệu suất xử lý đạt 83,25% (KV1), 91,74% (KV2) và 63,28% (KV50), đạt chuẩn B2 của QCVN 08:2008/BTNMT.
  • Hàm lượng Nitơ tổng số ($\text{N}_{ts}$): Giảm từ 5,68 – 9,04 mg/l xuống còn 2,80 – 4,82 mg/l; hiệu suất xử lý đạt 53,54% (KV1), 42,89% (KV2) và 50,70% (KV50), đạt quy chuẩn B2.

4. Đề xuất mô hình ứng dụng tại địa phương: Từ kết cấu thực tế hệ thống ao tôm tại xã Tam Giang (gồm kênh dùng chung cấp/thoát và ao nuôi), tác giả đề xuất mô hình cải tạo sinh học:

  • Tách biệt thành hệ thống gồm: Kênh dẫn nước vào, ao nuôi tôm, kênh thoát nước ra, hệ thống trạm bơm và cống điều tiết.
  • Bố trí trồng cỏ Vetiver trên bè thủy canh nổi thả dưới lòng kênh cấp, kênh thoát và trồng trên bờ kênh/bờ ao với mật độ khoảng cách cây 15–20 cm × 20–30 cm.

Chương 4. Kết luận và kiến nghị

Chương này đúc kết toàn bộ phát hiện thực nghiệm về khả năng thích ứng sinh thái, hiệu suất xử lý nước lợ của cỏ Vetiver, đồng thời nêu các kiến nghị nhằm hoàn thiện và nhân rộng mô hình trong thực tiễn sản xuất.


Kết quả và đóng góp

Số liệu kết quả thực nghiệm chính

Bảng tổng hợp biến thiên các thông số chất lượng nước trong mô hình thí nghiệm sau 3 ngày xử lý bằng cỏ Vetiver:

Chỉ tiêu phân tích Lô thí nghiệm Nồng độ ban đầu Nồng độ sau 3 ngày Hiệu suất xử lý (%) Quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (B2)
DO (mg/l) KV1 $1{,}26 \pm 0{,}10$ $7{,}19 \pm 0{,}89$ Tăng 5,7 lần $\ge 2$
KV2 $1{,}29 \pm 0{,}09$ $6{,}86 \pm 1{,}55$ Tăng 5,3 lần $\ge 2$
KV50 $1{,}39 \pm 0{,}09$ $6{,}45 \pm 0{,}72$ Tăng 4,6 lần $\ge 2$
COD (mg/l) KV1 $14{,}47 \pm 2{,}24$ $5{,}49 \pm 1{,}28$ $62{,}06%$ 50
KV2 $14{,}51 \pm 1{,}65$ $6{,}45 \pm 3{,}01$ $55{,}55%$ 50
KV50 $11{,}91 \pm 1{,}93$ $5{,}92 \pm 1{,}82$ $50{,}29%$ 50
$\text{P-PO}_4^{3-}$ (mg/l) KV1 $2{,}09 \pm 1{,}21$ $0{,}35 \pm 0{,}12$ $83{,}25%$ 0,5
KV2 $2{,}30 \pm 0{,}20$ $0{,}19 \pm 0{,}04$ $91{,}74%$ 0,5
KV50 $1{,}28 \pm 0{,}91$ $0{,}47 \pm 0{,}30$ $63{,}28%$ 0,5
$\text{N}_{ts}$ (mg/l) KV1 $9{,}04 \pm 0{,}97$ $4{,}20 \pm 0{,}65$ $53{,}54%$ —
KV2 $8{,}44 \pm 0{,}56$ $4{,}82 \pm 0{,}47$ $42{,}89%$ —
KV50 $5{,}68 \pm 1{,}53$ $2{,}80 \pm 0{,}63$ $50{,}70%$ —

Đóng góp mới của khóa luận

  1. Về mặt học thuật và dữ liệu: Khóa luận là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên đánh giá đầy đủ khả năng sinh trưởng, khả năng thích nghi và hiệu quả xử lý ô nhiễm hữu cơ của cỏ Vetiver trong môi trường nước lợ có độ mặn từ 5‰ đến 23‰ tại khu vực ao nuôi tôm ven biển miền Trung (Quảng Nam).
  2. Về mặt giải pháp kỹ thuật: Đề xuất được mô hình mặt bằng bố trí hệ thống xử lý sinh học bằng cỏ Vetiver (trên bờ ao và bè nổi trên kênh dẫn cấp/thoát) với mật độ xác định ($15\text{--}20\text{ cm} \times 20\text{--}30\text{ cm}$), tạo giải pháp kinh tế, thân thiện với môi trường nhằm thay thế các hóa chất xử lý nước ao tôm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định các giới hạn nghiên cứu và đề xuất định hướng tiếp theo:

  • Hạn chế:
    • Chưa tiến hành thí nghiệm để xác định mật độ trồng tối ưu tương ứng với từng mức tải lượng ô nhiễm cụ thể trong ao nuôi tôm.
    • Chưa đánh giá ảnh hưởng sinh thái trực tiếp và tương tác của cỏ Vetiver đối với sức khỏe, tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của tôm nuôi trong ao.
    • Thời gian khảo sát hiệu suất xử lý trong mô hình mới dừng lại ở các mốc ngắn ngày (tối đa 3 ngày lưu nước).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu xác định mật độ trồng tối ưu cho khả năng làm sạch nước của cỏ Vetiver và đánh giá toàn diện ảnh hưởng của cỏ tới các loài thủy sinh vật nuôi trong ao.
    • Mở rộng nghiên cứu khả năng sinh trưởng và xử lý nước trên các mô hình nuôi trồng thủy sản khác như ao nuôi tôm chân trắng, ao nuôi cá tra.
    • Triển khai áp dụng thử nghiệm mô hình thực tế tại các vùng nuôi tôm xã Tam Giang, huyện Núi Thành.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường, Nuôi trồng Thủy sản, Sinh học Ứng dụng. Đồng thời là tài liệu hữu ích cho cán bộ khuyến nông – khuyến ngư và kỹ thuật viên quản lý vùng nuôi tôm nước lợ.
  • Nội dung tham khảo nổi bật:
    • Phương pháp thiết kế thí nghiệm thủy canh thực vật dưới điều kiện độ mặn biến động (5‰ – 22‰).
    • Quy trình và số liệu thực nghiệm đo đạc các chỉ tiêu sinh lý thực vật (chiều dài rễ, trọng lượng tươi lá/rễ, đẻ nhánh) của cỏ Vetiver dưới áp lực mặn.
    • Bộ số liệu động học suy giảm COD, $\text{P-PO}4^{3-}$, $\text{N}{ts}$ và phục hồi DO trong môi trường nước lợ sau 1 đến 3 ngày lưu nước.
    • Thiết kế sơ đồ phân bổ kênh cấp, kênh thoát và bờ ao tích hợp thảm thực vật sinh học Vetiver.

Câu hỏi thường gặp

1. Khả năng chịu mặn và sinh trưởng của cỏ Vetiver trong môi trường nước ao tôm Tam Giang diễn ra như thế nào? Cỏ Vetiver thích nghi tốt với môi trường nước lợ có độ mặn từ 5‰ đến 22‰. Sau 30 ngày thủy canh trong mô hình thí nghiệm, chiều dài rễ tăng 32,16% – 54,41%, trọng lượng lá tăng 84,68% – 184,68%, trọng lượng rễ tăng 229,79% – 401,52%, số nhánh tăng 225% – 283,5%. Cỏ tăng trưởng mạnh nhất ở lô KV50 (độ mặn 5‰ – 7‰). Khi trồng trên đất bờ ao sau 90 ngày, chiều dài rễ tăng 335,66% (đạt 75,50 cm) và trọng lượng lá tăng 798,42% (đạt 170,07 g).

2. Hiệu suất khử Photphat ($\text{P-PO}4^{3-}$) và Nitơ tổng số ($\text{N}{ts}$) của cỏ Vetiver sau 3 ngày xử lý đạt bao nhiêu? Sau 3 ngày xử lý trong mô hình thí nghiệm, hiệu suất khử $\text{P-PO}4^{3-}$ đạt từ 63,28% đến 91,74% (trong đó lô KV2 đạt 91,74%, đưa nồng độ từ 2,30 mg/l xuống 0,19 mg/l). Hiệu suất khử Nitơ tổng số ($\text{N}{ts}$) đạt từ 42,89% đến 53,54% (lô KV1 đạt 53,54%, đưa nồng độ từ 9,04 mg/l xuống 4,20 mg/l). Cả hai thông số sau xử lý đều đạt tiêu chuẩn cột B2 theo QCVN 08:2008/BTNMT.

3. Khả năng cải thiện nồng độ Oxy hòa tan (DO) và COD của hệ thống cỏ Vetiver như thế nào? Hàm lượng DO ban đầu tại các lô thí nghiệm đều ở mức thấp (1,26 – 1,39 mg/l). Sau 3 ngày trồng cỏ, DO tăng lên đạt từ 6,45 đến 7,19 mg/l (tăng từ 4,6 đến 5,7 lần), vượt ngưỡng quy chuẩn yêu cầu ($\ge 2\text{ mg/l}$). Đồng thời, hàm lượng COD giảm từ 11,91 – 14,51 mg/l xuống còn 5,49 – 6,45 mg/l, đạt hiệu suất xử lý từ 50,25% đến 62,65%.

4. Tác giả đề xuất mô hình mặt bằng kỹ thuật trồng cỏ Vetiver tại xã Tam Giang như thế nào? Tác giả đề xuất quy hoạch tách biệt kênh dẫn nước vào và kênh thoát nước ra khỏi ao nuôi. Cỏ Vetiver được bố trí trồng kết hợp: thả trôi trên bè xốp thủy canh dưới lòng kênh cấp và kênh thoát nước, đồng thời trồng cố định trên bờ kênh và bờ ao nuôi tôm với mật độ khoảng cách $15\text{--}20\text{ cm} \times 20\text{--}30\text{ cm}$.

5. Vì sao hiệu suất xử lý N và P của nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả xử lý nước thải chăn nuôi heo của Phạm Ngọc Vân Anh và cộng sự (2002)? Nghiên cứu của Phạm Ngọc Vân Anh và cộng sự (2002) đạt hiệu suất xử lý $\text{P-PO}4^{3-}$ là 85% và $\text{N}{ts}$ là 91% sau 16 ngày xử lý trong nước ngọt. Khóa luận này đạt hiệu suất $\text{P-PO}4^{3-}$ từ 63,28% – 91,74% và $\text{N}{ts}$ từ 42,89% – 53,54% do thời gian lưu nước khảo sát ngắn hơn (chỉ 3 ngày) và độ mặn cao của nước lợ (5‰ – 22‰) gây ảnh hưởng phần nào đến tốc độ hấp thụ chất ô nhiễm của cây.


Kết luận

Khóa luận đã chứng minh thực nghiệm cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides L.) có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trên bờ ao và thủy canh trong môi trường nước lợ tại xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sau 3 ngày xử lý, cỏ Vetiver giúp loại bỏ từ 50,25% – 62,65% COD, 63,28% – 91,74% $\text{P-PO}4^{3-}$, 42,89% – 53,54% $\text{N}{ts}$ và nâng cao hàm lượng oxy hòa tan từ 4,6 đến 5,7 lần, đưa các thông số về đạt chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để áp dụng mô hình sinh thái kiểm soát ô nhiễm nước ao tôm bằng thực vật, góp phần giảm thiểu dịch bệnh và thúc đẩy nuôi trồng thủy sản bền vững tại địa phương.