MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa là sự khai thác quá mức những nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn nhiên liệu hóa thạch, điều đó đã khiến cho nguồn năng lượng truyền thống (dầu mỏ, than đá, khí thiên nhiên) ngày càng cạn kiệt. Theo báo cáo “Triển vọng năng lượng thế giới 2013” của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) thì lượng tiêu thụ năng lượng trên thế giới tăng từ 534. Dự báo năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân sẽ là những nguồn năng lượng tăng trưởng nhanh nhất với tốc độ tăng dự kiến lên tới 2,5% mỗi năm.
Trước tình hình đó, nhiên liệu sinh học được xem như một dạng năng lượng mới đầy tiềm năng bởi khả năng tái tạo của nó và hơn hết đây là nguồn năng lượng “sạch”, không độc hại và dễ dàng phân hủy trong tự nhiên. Hiện có 2 dạng năng lượng sinh học chủ yếu là ethanol sinh học và diesel sinh học. Ethanol được coi là một nhiên liệu sạch có khả năng tái tạo và trong tương lai có thể thay thế một phần cho các nguồn nguyên liệu hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt như than đá và dầu mỏ. Nguồn nguyên liệu cellulose thực sự dồi dào, trong khi vấn đề nghiên cứu sản xuất ethanol từ cellulose vẫn ít được khai thác.
Với tổng sản lượng sinh khối thực vật toàn cầu hàng năm vào khoảng 200 tỷ tấn và 90% trong số đó là lignocellulose và có khoảng 8 – 20 tỷ tấn trên thực tế có thể sử dụng để sản xuất ethanol. Ethanol sinh học được sản xuất bằng phương pháp lên men và chưng cất từ các loại ngũ cốc chứa tinh bột (bắp) và đường (mía). Ngoài ra, ethanol có thể được sản xuất từ lignocellulose, từ những phụ phẩm có chứa hợp chất cellulose cao. Lignocellulose là loại biomass phổ biến nhất trên thế giới.
Chính vì vậy, sản xuất ethanol từ biomass cụ thể là lignocellulose từ phế phẩm nông nghiệp là một giải pháp thích hợp trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng cao, ô nhiễm môi trường ngày Nguyễn Quang Vinh Luận văn Thạc sỹ khoa học 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường đại học Khoa học Tự nhiên Khoa Môi trường càng trầm trọng và vấn đề an ninh lượng thực… lại càng được chú ý và tiếp tục nghiên cứu hoàn thiên trên thế giới [7]. Việt Nam là một quốc gia mà nông nghiệp có một vị trí rất quan trọng và luôn được ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hàng năm, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam tạo ra một lượng lớn phế phẩm nông nghiệp, chủ yếu là lignocellulose từ các mùa vụ. Phế phụ phẩm nông nghiệp có tiềm năng năng lượng lớn, nhưng việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp dưới dạng nhiên liệu sinh học vẫn còn hạn chế và đây được coi là một hướng nghiên cứu mới và cần thiết tại Việt Nam.
Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu ứng dụng khả năng sử dụng phụ phẩm từ nông nghiệp (nguồn nguyên liệu có chứa hàm lượng Cellulose khá lớn) làm nguyên liệu sản xuất ethanol sinh học. Đây một loại nguyên liệu rẻ tiền, phổ biến và có khả năng phát triển rất nhanh. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, tiến tới sản xuất nguồn nhiên liệu sinh học nói chung và entanol sinh học nói riêng từ phế phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam được xem là một hướng nghiên cứu đang bắt đầu hình thành, được nhiều nhà khoa học quan tâm và có triển vọng, góp phần trong việc hạn chế sử dụng nhiên liệu hoá thạch, đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia và hướng tới sự phát triển bền vững. Với ý nghĩa thiết thực đó, đề tài luận văn “Nghiên cứu khả năng chuyển đổi cenlulose từ phụ phẩm nông nghiệp thành etanol” được lựa chọn và góp phần nghiên cứu vấn đề này.
Mục tiêu của đề tài: Đánh giá được khả năng và hiệu quả chuyển đổi cellulose thành ethanol từ phụ phẩm nông nghiệp. Nội dung nghiên cứu của đề tài: - Nghiên cứu quá trình thủy phân rơm đã qua tiền xử lý bằng enzyme cellulase, tạo ra dịch đường. - Nghiên cứu quá trình thủy phân và lên men đồng thời để chuyển hóa cellulose trong nguồn rơm rạ ban đầu thành ethanol. Nguyễn Quang Vinh Luận văn Thạc sỹ khoa học 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường đại học Khoa học Tự nhiên Khoa Môi trường Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng sử dụng và nhu cầu năng lƣợng trong tƣơng lai 1. Thực trạng các nguồn năng lượng Năng lượng đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người, trên thế giới hiện có nhiều nguồn năng lượng khác nhau được khai thác và sử dụng. Trữ lượng và sản lượng khai thác các nguồn năng lượng trên để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người sẽ thúc đẩy con người tìm kiếm các nguồn năng lượng mới trong tương lai.
- Dầu khí: Dầu khí là nguồn khoáng sản rất quan trọng cung cấp phần lớn năng luợng cho đời sống con người. Trên thế giới hiện có 97 nước có trữ lượng và đang khai thác dầu khí. Hiện nay, các nhà địa chất đã phát hiện và tính được toàn thế giới có trữ lượng dầu thô là 1.277,7 tỷ thùng và khí là hơn 176 ngàn tỷ m 3. Với trữ lượng dầu khí đã biết và sản lượng khai thác hàng năm không biến động lớn thì đến năm 2053 thế giới sẽ cạn kiệt dầu khí [4].
- Than: Sau dầu khí, than là loại khoáng sản năng lượng truyền thống. Trữ lượng than trên thế giới khoảng trên 1000 tỷ tấn, tập trung ở 1 số nước như Mỹ (277), Nga (173), Trung Quốc (126). Hiện tại có hơn 60 nước khai thác than với sản lượng hàng năm đạt trên 5 tỷ tấn và dự báo rằng số năm nhân loại có thể khai thác than khoảng 230 năm. Nhược điểm đáng lưu ý nhất là sự nguy hại của việc đốt cháy than gây ra, hiểm họa do CO2 sinh ra với số lượng lớn từ quá trình đốt cháy than sẽ hạn chế sự phát triển của ngành than đá trong tương lai.
- Năng lượng hạt nhân: Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nhiều năm qua, người ta đã sử dụng năng lượng hạt nhân phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Hiện có 19 nước khai thác sản xuất Urani với tổng sản lượng khoảng trên dưới 40. Trong tương lai, khả năng khai thác Urani sẽ tăng lên đáng kể và có thể đạt đến 86. - Năng lượng mặt trời: Là năng lượng phát ra từ một phản ứng nhiệt hạch khổng lồ, năng lượng mặt trời phát ra 1giây tương đương với 2,5.
Tuy nhiên, trái đất chỉ nhận được một phần rất nhỏ của lượng đó, tương ứng khoảng Nguyễn Quang Vinh Luận văn Thạc sỹ khoa học 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường đại học Khoa học Tự nhiên Khoa Môi trường 104 tấn than đá/giây. Mật độ năng lượng mặt trời chiếu trên mặt đất là không đều nhau, và trữ lượng của nó có thể coi là vô tận. - Năng lượng địa nhiệt: Năng lượng địa nhiệt là nhiệt lấy từ lòng đất. Nhiệt năng của địa nhiệt khoảng 64 tỷ KWh, có thể chia các bồn địa nhiệt thành các dạng cơ bản như: Bồn nhiệt hơi khô và bồn nhiệt nước nóng: Theo đánh giá của các chuyên gia thì nguồn tài nguyên địa nhiệt trên toàn cầu có thể khai thác vào khoảng 990 Gtoe, trong đó 60 Gtoe đã được xác định [4].
- Năng lượng gió: Theo tính toán, tổng số năng lượng gió trên thê giới trong 1 năm là 350 trKWh, nhưng do không ổn định và phân tán nên chỉ sử dụng được một phần nhỏ. Tiềm năng của năng lượng gió ở các nước được chuyên gia đánh giá vào khoảng 30.000 TWh/năm, chủ yếu là tập trung ở Bắc mỹ và Châu Âu. Thực trạng sử dụng và nhu cầu năng lượng trên thế giới trong tương lai Báo cáo Toàn cảnh Năng lượng Quốc tế (IEO 2009) của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ dự báo rằng tiêu thụ năng lượng thế giới tăng 44% trong giai đoạn 2006-2030. Nhu cầu năng lượng tăng mạnh nhất thuộc về các nước trong Tổ chức Họp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Theo IEO 2009, tiêu thụ năng lượng thế giới tăng từ 472,4 triệu tỷ Btu (472 quadrillion Btu) năm 2006 lên 551,5 triệu tỷ Btu năm 2015 và 678,3 triệu tỷ Btu năm 2030 – tăng tổng cộng 44% trong giai đoạn 2006-2030. Phần lớn các nước OECD có cơ sở hạ tầng năng lượng tốt nhất thế giới. Tuy nhiên mức tiêu thụ năng lượng của một số nền kinh tế mới nổi ngoài OECD có nhiều khả năng gia tăng. Năm 2006, 51% năng lượng tiêu thụ trên thế giới là nằm trong khu vực OECD, nhưng tỷ lệ này sẽ tăng trưởng chậm trong giai đoạn 2006- 2030, trung bình 0,6%/năm, ở các nền kinh tế mới nổi bên ngoài OECD là 2,3%.
Trung Quốc và Ấn Độ là những nền kinh tế ngoài OECD có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất và là hai nước tiêu thụ năng lượng chính trong tương lai. Từ năm 1990, tiêu thụ năng lượng của hai nước này tăng nhanh. Nếu như năm 1990 tỷ lệ tiêu thụ năng lượng của hai nước mới chỉ chiếm 10% tổng tiêu thụ năng lượng thế giới, thì đến năm 2006, tỷ lệ này đã là 19%. Nguyễn Quang Vinh Luận văn Thạc sỹ khoa học 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường đại học Khoa học Tự nhiên Khoa Môi trường Bảng 1: Dự báo tiêu thụ năng lượng trên thế giới 2015-2030 [14] (đơn vị: Triệu tỷ Btu) Nhóm nƣớc 2015 2020 2025 2030 Tỷ lệ tăng trung bình hàng năm từ 2006-2030 (%) OECD 252,4 261,3 269,5 278,2 0,6 Bắc Mỹ 125,9 130,3 135,6 141,7 0,6 Châu Âu 84,8 87,9 90,0 91,8 0,5 Châu Á 41,8 43,1 43,9 44,6 0,6 Ngoài OECD 299,1 334,4 367,8 400,1 2,3 Châu Âu và 57,6 60,3 62,0 63,3 0,9 Nga Châu Á 163,2 190,3 215,4 239,6 3,0 Trung Đông 30,3 32,2 34,6 37,7 1,9 Châu Phi 17,7 19,1 20,6 21,8 1,7 Trung và Nam 30,3 32,5 35,2 37,7 1,9 Mỹ Toàn thế giới 551,5 595,7 637,3 678,3 1,5 Hình 1: Tiêu thụ năng lượng thế giới: các nước thuộc OECD và ngoài OECD từ năm 1980 và dự báo đến 2030 (đơn vị: triệu tỷ Btu) [14] Nguyễn Quang Vinh Luận văn Thạc sỹ khoa học 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.