Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 2.
Một số khái niệm về nông thôn và nông thôn mới 2. Khái niệm nông thôn Hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, thông thường người ta thường nói tới khu vực nông thôn khi so sánh với thành thị. Có quan điểm cho rằng, khi xem xét nông thôn thường dùng chỉ tiêu mật độ dân số: mật độ dân cư ở nông thôn thấp hơn thành thị. Có quan điểm khác lại cho rằng, khi xem xét nông thôn, thường dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng: vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị.
Quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Những ý kiến này thường chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế áp dụng cho từng nền kinh tế. Bản thân khái niệm nông thôn cũng mang tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển KT-XH của các quốc gia trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu: “nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”. Mai Thanh Cúc và cs. Nông thôn mới Đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn mới.
Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NTM chứ không phải nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa NTM và nông thôn truyền thống, thì NTM phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới (Cù Ngọc Hưởng, 2006). Nông thôn mới (NTM) là một vùng nông thôn có nền sản xuất tiếp thu được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của nông thôn truyền thống. Có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng trên cơ sở nông thôn cũ (truyền thống, đã có) nhưng mang tính tiên tiến về mọi mặt”.
NTM mang những nét đặc trưng vốn có của nông thôn truyền thống, cả về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, cả về hình thái bên trong và bên ngoài (về cơ sở hạ tầng, về quy hoạch bố trí nhà ở, hình thức nhà ở, đường làng, ngõ xóm và về quan hệ xóm giềng…). Tuy nhiên, NTM là vùng nông thôn có những nét hiện đại. Ngoài sự thay đổi về mặt kinh tế, ở vùng NTM đời sống văn hóa tinh thần của người dân cũng được nâng cao. Quyền tự do dân chủ của người dân được phát huy cao độ, người dân được tham gia vào quá trình lập và đề ra các quy hoạch, được đóng góp ý kiến vào việc xây dựng và phát triển địa phương.
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; Gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; Giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; An ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Với tinh thần đó, nông thôn mới có 5 nội dung cơ bản. Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại. Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa.
Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển. Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ. Như vậy, có thể thấy NTM là nông thôn toàn diện bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, có thể hiểu NTM là nông thôn có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững. NTM là nông thôn có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững. Chức năng của nông thôn mới - Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp hiện đại: Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia. Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao.
Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006). Chính vì vậy, xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị. Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn. - Thứ hai, giữ gìn văn hóa truyền thống: Trải qua hàng nghìn năm phát triển, làng xóm ở nông thôn được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống.
Quy tắc hành vi của xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán đã được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm phong tục tập quán đó. Ở đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất. Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai đại họa. Cũng chính văn hóa quê hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hóa tinh thần quý báu như lòng kính lão, yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương… tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù.
Các truyền thống văn hóa quý báu này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hóa quê hương ở đây sẽ không còn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính kế dục. Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp …, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hóa quê hương. Ngoài ra, các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hóa làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hòa, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hòa cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
- Thứ ba, chức năng sinh thái: Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích lũy trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên. Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hòa với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí. Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực, hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên.
Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái. Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên., phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất. Các cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cùng với môi trường sinh thái có thể đáp ứng được nhu cầu trở về với tự nhiên của con người. Nông thôn có thể bù đắp được những thiếu hụt sinh thái của thành thị.
Môi trường tự nhiên yên tĩnh có thể điều hoà cân bằng tâm lý con người. Môi trường sinh vật phong phú khiến con người có thể cảm thụ được những điều tốt đẹp từ cuộc sống. Sự chung sống hài hoà giữa con người với tự nhiên có tác dụng thanh lọc và làm đẹp tâm hồn.