Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN 1. Khái quát chung về giáo dục pháp luật về cho thanh niên 1. Quan niệm về thanh niên Thanh niên là một nhóm xã hội đặc thù chiếm số đông trong dân cư; đan xen trong các giai tầng, cơ cấu xã hội và cơ cấu nghề nghiệp. Ở nước ta hiện nay, thanh niên có khoảng trên 23 triệu người, chiếm tỷ lệ 35% trong dân cư và 45% trong lực lượng lao động xã hội [43].
Thanh niên là hình ảnh phản chiếu của xã hội thu nhỏ, vì thế muốn biết tương lai của một dân tộc thế nào, của một xã hội ra sao có thể xem xét qua diện mạo của thế hệ thanh niên. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thanh niên. Trong cuốn “Quản lý Nhà nước đối với công tác thanh niên” có quan niệm “Thanh niên là một phạm trù xã hội học, chỉ một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, ở độ tuổi nhất định (từ 15- 30 tuổi), có mặt trong tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội, dân tộc, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, có những đặc điểm chung về tâm lý, sinh lý, nhận thức xã hội, có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong cả hiện tại và tương lai” [20, tr. Trong cuốn: "Tìm hiểu một số thuật ngữ về công tác thanh niên" - "Thanh niên là một tầng lớp người - xã hội đặc thù, với độ tuổi nằm trong giới hạn từ 14, 15 đến trên dưới 30 tuổi" [37, tr.
Từ các nghiên cứu trên, đề tài tiếp cận khái niệm thanh niên theo quy định của Luật Thanh niên như sau: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [38] Từ những quan niệm khác nhau về thanh niên chúng tôi có thể khái quát một số đặc điểm về thanh niên như sau: 11 Thứ nhất, thanh niên dù xét bất cứ dưới góc độ nào, phương diện nào cũng thuộc phạm trù con người, phạm trù xã hội. Họ là một lớp người, một thế hệ sống trong cộng đồng xã hội với những đặc điểm chung, riêng trong quan hệ với chính họ, với giai cấp và với xã hội. Thứ hai, từ góc độ sinh lý lứa tuổi (16 tuổi - 30 tuổi), thanh niên được coi là một cấp độ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất. Sự hoàn thiện này thể hiện ở tất cả các mặt như; chiều cao, cân nặng, sự phát triển hoàn thiện của các cơ quan chức năng; hệ cơ, hệ xương, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ sinh dục.
Sự phát triển này là điều kiện để thanh niên tự khẳng định vai trò, vị trí và trách nhiệm của mình trong xã hội. Thứ ba, từ góc độ tâm lý, thanh niên luôn là những người giàu ước mơ, hoài bão, đầy lòng nhiệt tình, hăng say, ý chí, nghị lực, luôn có nhu cầu tìm hiểu, thích khám phá, sáng tạo, giàu óc tưởng tượng, thích giao tiếp, thích tham gia các hoạt động xã hội, có nhu cầu cao về tình bạn, tình yêu nam nữ và lập gia đình. Mặt khác, thanh niên ngày nay do điều kiện sinh hoạt vật chất ngày càng được nâng cao nên yếu tố sinh lý, tố chất sinh học đã phát triển chín muồi nhưng những phẩm chất xã hội thì chưa hoàn thiện, chưa ổn định vững vàng. Sự tác động của giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội chỉ mới hình thành ở họ khung nhân cách ban đầu.
Do đặc điểm này, bên cạnh những ưu điểm nổi trội trong thanh niên vẫn tiềm ẩn những hạn chế nhất định, bên cạnh sự dám nghĩ, dám làm là sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm, thậm chí cả sự liều lĩnh; giàu ước mơ, hoài bão và lạc quan nhưng khi gặp thất bại thì hoài nghi, dao động, tự ti và chán nản; có tính tự lập, tự khẳng định cao nhưng cũng dễ tự cao, tự đại, kiêu ngạo và nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất, giữa đúng và sai, thật và giả; họ có khát vọng về tự do dân chủ nhưng cũng rất dễ có hành vi vô chính phủ, vô kỷ luật; giàu óc tưởng tượng, nhạy cảm nhưng hay thần tượng hoá, dễ thay 12 đổi, chính vì vậy mà họ dễ tiếp thu những hệ tư tưởng này hay hệ tư tưởng khác kể cả tích cực hay tiêu cực. Điều đó cho thấy lứa tuổi thanh niên rất cần đến những tác động tích cực của xã hội. Thứ tư, thanh niên là đối tượng có mặt ở tất cả các vùng miền, các thành phần kinh tế, xã hội. Tuỳ theo môi trường hoạt động và đặc điểm nghề nghiệp mà thanh niên được phân thành nhiều nhóm khác nhau, các đối tượng xã hội khác nhau: thanh niên nông dân, thanh niên công nhân, thanh niên học sinh - sinh viên, thanh niên trí thức, thanh niên dân tộc, thanh niên tôn giáo.
Mỗi một nhóm này lại có đặc điểm nhu cầu, sở thích riêng, nguyện vọng riêng. Quan niệm giáo dục pháp luật cho thanh niên 1. Giáo dục Giáo dục - hiểu theo nghĩa rộng là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức, là sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục đích, yêu cầu định sẵn. Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hình thành nhân cách con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà giáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục và dạy học.
Theo Từ điển Từ và ngữ Hán – Việt: "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội" [54, tr3]. Dưới góc độ triết học, có thể hiểu, giáo dục là một quá trình hai mặt, một mặt, đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục; mặt khác, thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục [25, tr. Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối tượng được giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình 13 cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội; nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, phát huy trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên. Giáo dục pháp luật cho thanh niên Để đưa ra khái niệm về giáo dục pháp luật cho thanh niên, cần tiếp cận nội hàm thuật ngữ: “giáo dục pháp luật”.
Trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy, có nhiều quan niệm, cách thức tiếp cận GDPL ở nhiều hướng khác nhau. Trong tài liệu đó, quan niệm giáo dục pháp luật chưa được hiểu một cách thống nhất, cụ thể, rõ ràng. Tổng kết các khái niệm đó, có 5 quan điểm cơ bản chủ yếu như sau: Quan niệm 1, quan trọng tối đa chủ thể GDPL. GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan, do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành.
Quá trình hình thành ý thức của con người là quá trình ảnh hưởng, tác động thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan, trong đó, các điều kiện khách quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, còn các nhân tố chủ quan đóng vai trò là những nhân tố tác động. Nhân tố ảnh hưởng có thể là tự phát, theo chiều này hoặc chiều khác và mức độ "đậm, nhạt" có thể khác nhau. So sánh với nó, nhân tố trực tiếp hơn và bao giờ cũng là nhân tố tự giác, có ý thức, có chủ định theo một hướng nhất định. Vì giáo dục pháp luật là sự tác động của nhân tố chủ quan, do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành nên, bản thân chủ thể giáo dục pháp luật, với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình, luôn luôn đặt ra mục đích nhất định để từ đó tiến hành những biện pháp, hình thức nhằm hình thành ở chủ thể những yếu tố chủ quan, trước hết là tri thức, hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn về pháp luật.
Đó là hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của nhiều chủ thể 14 (các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, nhà trường. Đây chính là thiên chức của giáo dục tiến bộ, trong đó có giáo dục pháp luật. Quan niệm thứ hai, cho rằng giáo dục pháp luật là hình thức cụ thể, là "cái riêng, cái đặc thù" trong mối quan hệ với giáo dục nói chung, là "cái chung, cái phổ biến". "Cái riêng, cái đặc thù" của giáo dục pháp luật được thể hiện ở các điểm sau: Một là: Hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm pháp luật ở mỗi cá nhân (là đối tượng của giáo dục pháp luật), hình thành thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, để từ đó cá nhân tuân thủ pháp luật một cách tự giác, có thái độ và hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật.
Như vậy, mục đích của giáo dục pháp luật là hình thành "môi trường chủ quan" thuận lợi, phù hợp để từ đó chủ thể có định hướng hành vi xã hội của mình theo những "chuẩn" mà pháp luật quy định, góp phần tích cực tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật. Mục đích của giáo dục pháp luật không chỉ mang ý nghĩa tư tưởng mà còn mang ý nghĩa thực tiễn thiết thực, rõ ràng và rất cụ thể. Hai là: Giáo dục pháp luật có nội dung riêng của mình. Đó là sự tác động định hướng để chuyển tải nội dung pháp luật (nguyên tắc, giá trị của pháp luật, các quy phạm pháp luật).
Những nội dung này phản ánh trong nó về các hiện tượng nhà nước (phương diện pháp lý của nó) và các hiện tượng xã hội khác như quan hệ xã hội, trách nhiệm xã hội, được thể hiện thông qua hình thức pháp lý. Chẳng hạn, khi giáo dục về trách nhiệm của con người trong xã hội, giáo dục đạo đức đề cập phương diện đạo lý của trách nhiệm, còn giáo dục pháp luật đề cập nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý với những dạng hành vi bắt buộc, loại quan hệ pháp luật đặc biệt.