CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu chung về hoa cúc la mã Cúc La Mã là một loại thảo dược lâu đời nổi tiếng ở Ai Cập cổ đại, Hy Lạp và La Mã. Suốt thời trung cổ mọi người xem nó như một phương thuốc trị các bệnh phổ biến như hen suyễn, đau bụng, sốt, viêm, buồn nôn, các bệnh thần kinh, bệnh ngoài da và ung thư [ 11].1 Nguồn gốc Hoa Cúc La Mã có nguồn gốc từ Nam và Đông Âu [5]. Trước đây, hoa cúc La Mã là một cây cỏ mọc hoang. Nhưng từ khi các nhà khoa học tìm ra được các thành phần dược liệu quý từ loài hoa này thì đã có nhiều nước trên thế giới quan tâm phát triển việc trồng loại cây này.
Ban đầu, hoa cúc La Mã được trồng ở Đức, Hungary, Pháp, Nga, Nam Tư và Brazil sau đó được du nhập rộng rãi đến Ấn Độ trong thời kỳ Mughal. Loài này cũng có thể được tìm thấy ở Bắc Phi, các vùng ôn đới của Châu Á,Bắc và Nam Mỹ, Australia [6]. Cúc La Mã đã được di thực vào Việt Nam từ những năm 60 và đến năm 1978 Trung tâm trồng và chế biến cây thuốc Đà Lạt đã bước đầu nghiên cứu được kỹ thuật trồng hoa cúc La Mã nhưng chưa nhân rộng được cây này vì chưa có những công trình nghiên cứu và ứng dụng [1].2 Đặc điểm hình thái, điều kiện sinh trưởng và phát triển Hoa cúc La Mã (Chamaemelum Nobille hay còn gọi là Roman Chamomile) là cây thảo dược lâu năm với rể trục mỏng, thân mọc đứng gần mặt đất và phân nhánh, lá kép dài và hẹp với các đoạn hình dải nhọn như gai, cụm hoa hình đầu nằm ở ngọn các cuống mảnh, đường kính của đầu hoa là 10-30mm, với một vòng đơn các cánh hoa hình lưỡi trắng và ở giữa rất nhiều hoa con hình ống màu vàng xếp trên mặt đế hoa phồng lên tạo dạng nón sau Đồ án tốt nghiệp 2 Khoá: 2011 -‐ 2015 Khoa hoá học & CNTP Trường ĐHBRVT khi hoa nở [5] [6]. Đặc điểm hình thái của hoa cúc La Mã được thể hiện ở hình sau: − Hoa cúc La Mã là loài hoa dễ trồng nên chúng sống được trên nhiều loại đất, đặc biệt chúng thích hợp với loại đất cát, thoát nước tốt với độ pH trong khoảng 4,8 đến 8,3 [21] và chịu nắng.
Tại Banthra trang trại của Viện Ngiên cứu Bách Thảo Quốc gia ở Ấn Độ đã nghiên cứu và trồng thành công loài cúc này trên đất có độ pH=9 [6]. − Nó có thể chịu được thời tiết lạnh với nhiệt độ từ 2oC-20oC và có thể trồng bằng hai phương pháp là gieo hạt trực tiếp từ các hạt giống hoặc cấy. − Loài cúc này không cần một lượng phân lớn nhưng cần phải kiểm tra chất đất và cần bón một ít phân NPK vào đất trước khi trồng. Bổ sung các chất hữu cơ làm tăng hàm lượng mùn của đất và do đó cải thiện hiệu suất cây trồng.
− Mặc dù hoa cúc là loài chịu hạn, nhưng nó cũng cần đủ nước để nảy mầm và cho sự phát triển của cây con. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 400 đến 1 400 mm mỗi mùa là đủ để có một vụ mùa tốt. − Khi cây trồng phát triển, nó phát triển thành nhiều cụm, cao khoảng 30cm. Cúc La Mã ra hoa vào khoảng tháng 6-9, hoa có mùi thơm đậm và có vị chát khi được sử dụng như trà [5] 6].
Hoa được thu hoạch vào mùa hè khi đang nở rộ, thu hoạch tốt nhất trong khoảng nhiệt độ 22-25oC. Tại Nam Phi, năng suất hoa khô có thể thu hoạch được mỗi năm là từ 2-6 tấn/ha và đến năm 1995 ở thế giới là khoảng 500 tấn [21].3 Thành phần dược liệu có trong hoa cúc La Mã Theo nghiên cứu của George Nemeca, trong hoa cúc La Mã có khoảng 120 hoạt chất đã được xác định, trong đó có 28 terpenoid – steroid, 36 flavonoids và 52 hợp chất bổ sung khác đã được xác định[14],[15]. Theo Lemberkovics E và các cộng sự của công, các thành phần chính Đồ án tốt nghiệp 3 Khoá: 2011 -‐ 2015 Khoa hoá học & CNTP Trường ĐHBRVT của tinh dầu chiết xuất từ hoa cúc La Mã là terpenoids như α-Bisabolol và azulenes ôxít của nó bao gồm chamazulene và các dẫn xuất axetylen. Chamazulene và Bisabolol không ổn định và được bảo quản tốt nhất trong cồn rượu.
Tinh dầu hoa cúc La Mã có chứa ít chamazulene và chủ yếu được cấu thành từ các este của axit thiên nhiên và axit tiglic. Nó cũng chứa farnesene và α-pinen. Hoa cúc La Mã có chứa tới 0,6% sesquiterpene lactones loại germacranolide, chủ yếu là nobilin và 3-epinobilin. Cả hai α-Bisabolol, Bisabolol oxit A và B và chamazulene hoặc azulenesse, farnesene và spiro- ether lactones quiterpene, glycosides, hydroxycoumarins, flavanoids (apigenin, luteolin, patuletin, và quercetin), coumarin (herniarin và umbelliferone), terpenoid, và chất nhầy được coi là thành phần sinh học hoạt động cao [16] [17].
Thành phần chính khác của hoa bao gồm một số hợp chất phenolic, chủ yếu là các flavonoid apigenin, quercetin, patuletin như glucosides và các dẫn xuất acetyl hóa khác nhau. Trong số các chất flavonoid, apigenin là hợp chất có triển vọng nhất. Nó hiện diện với số lượng rất nhỏ như apigenin tự do, nhưng chủ yếu tồn tại ở dạng glycoside [18][ 19].2 Đặc điểm các hợp chất Terpenoid – Steroid Terpenoid là một loại hợp chất thiên nhiên quan trọng có khả năng tạo mùi thơm và có hoạt tính sinh học mạnh. Terpenoid phân bố rộng rãi trong thiên nhiên và có nhiều ở cây có tinh dầu.
Ngoài ra terpenoid cũng có mặt trong thực vật bậc thấp như tảo, nấm đến thực vật bậc cao, trong động vật và vi khuẩn. Vào năm 1818 người ta đã tìm được một số hợp chất và xác định được rằng tỉ lệ nguyên tử C:H ở tinh dầu là 5:8. Tiếp thep đó là một số hợp chất hidrocacbon không no, không vòng hoặc có vòng đã được tách ra. Chúng có công chung là (C5H8)n ,(n≥2) và được đặt tên là terpenoid.
Terpenoid được Dumas đặt tên cho tinh dầu có trong dầu turpentine vào Đồ án tốt nghiệp 4 Khoá: 2011 -‐ 2015 Khoa hoá học & CNTP Trường ĐHBRVT năm 1866. Terpenoid phân bố rộng rãi trong tự nhiên và là thành phần dễ bay hơi trong các loại dầu thực vật. Cấu trúc của terpenoid bao gồm các monomer được gọi là isoprene. Isoprenoid là tên gọi khác của terpenoid [1][2][3].
CH3 CH2 H2C Isoprene Myrcene Cấu trúc camphor được xác định bởi Bredt vào năm 1893, Pinene bời Wagner 1894, Citral bởi Tiemann năm 1895, 𝛽-carotene được tách từ carrots năm 1837 bời Wackenrodder và đến năm 1907 cấu trúc chính xác đã được xác định bởi Willstaetter. Tuỳ theo số đơn vị isoprene (n) mà người ta chia terpenoid ra thành nhiều loại khác nhau: Bảng 1.1: Phân loại terpenoid Số n Loại terpenoid Số carbon Nguồn gốc 1 Hemiterpen 5 Tinh dầu 2 Monoterpen 10 Tinh dầu 3 Sesquiterpen 15 Tinh dầu 4 Sesterpen 20 Nhựa dầu 5 Diterpen 25 (hiếm) 6 Triterpen 30 sterol, saponin 8 Tetraterpen 40 caroten >8 Politerpen >40 caosu Theo Ingold, trong các hợp chất terpenoid nói trên, các đơn vị isoprene nối với nhau theo nguyên tắc “đầu – đuôi”. Đồ án tốt nghiệp 5 Khoá: 2011 -‐ 2015 Khoa hoá học & CNTP Trường ĐHBRVT C C C C C 1 2 3 4 Đầu của đơn vị isoprene này nối với đuôi của đơn vị isoprene khác. Quy tắc “đầu – đuôi” này chỉ áp dụng đúng với monoterpen, sesquiterpen, diterpen, sesterpen, còn triterpen và tetraterpen nối C-C ở giữa dây carbon là nối “đuôi – đuôi” [1].
Trong tinh dầu chủ yếu chỉ chứa hai loại terpenoid là monoterpen và sesquiterpen.