phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 5 phần: Phần 1: Thực trạng cơ cấu thương mại Việt Nam Phần 2: Bối cảnh và những vấn đề đặt ra đối với điều chỉnh cơ cấu thương mại Việt Nam. Phần 3: Quan điểm, mục tiêu và phương hướng điều chỉnh chỉnh cơ cấu thương mại Việt Nam Phần 4: Phương án điều chỉnh cơ cấu thương mại Việt Nam Phần 5: Kiến nghị và giải pháp phục vụ điều chỉnh cơ cấu thương mại 3 PHẦN I THỰC TRẠNG CƠ CẤU THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về cơ cấu thương mại và các loại hình cơ cấu thương mại 1. Quan niệm về cơ cấu thương mại Cơ cấu thương mại biểu thị nội dung, tỷ phần về số lượng của các bộ phận cấu thành và mối quan hệ giữa chúng trong tổng thể thương mại.
Cơ cấu thương mại được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau theo các nhóm tiêu chí cụ thể. Các loại hình cơ cấu thương mại Căn cứ vào các nhóm tiêu chí, thương mại bao gồm các loại hình cơ cấu như sau: - Theo đối tượng kinh doanh, cơ cấu thương mại gồm thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ Trong thương mại hàng hóa, có cơ cấu theo ngành hàng, nhóm hàng và chủng loại hàng hóa; Tương tự, đối với thương mại dịch vụ, có cơ cấu theo ngành, phân ngành và dịch vụ cụ thể. - Theo thị trường (hoặc đối tác thương mại), cơ cấu thương mại gồm thương mại trong nước và xuất, nhập khẩu. Trong xuất, nhập khẩu có: cơ cấu xuất khẩu và nhập khẩu; Trong xuất khẩu có cơ cấu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; cơ cấu theo thị trường các quốc gia vùng lãnh thổ, khu vực; cơ cấu về chủng loại ngành hàng, mặt hàng và dịch vụ… Tương tự, trong nhập khẩu có cơ cấu nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ; cơ cấu theo thị trường các quốc gia vùng lãnh thổ, khu vực; cơ cấu về chủng loại ngành hàng, mặt hàng và dịch vụ… Thương mại trong nước có cơ cấu thương mại hàng hóa và dịch vụ, cơ cấu thương mại theo vùng kinh tế, địa phương.
- Theo phương thức kinh doanh, có thương mại bán buôn, bán lẻ, đại lý và nhượng quyền thương mại. 4 - Theo thành phần kinh tế, có thương mại nhà nước, tập thể (hợp tác xã), tư thương, liên doanh, nước ngoài. Cơ cấu thương mại hợp lý Trong điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay, cơ cấu thương mại hợp lý là cơ cấu thương mại: - Phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất, phục vụ tốt cho công cuộc CNH, HĐH đất nước. - Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết song phương và đa phương của Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế, thương mại của khu vực và thế giới.
- Đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường trong và ngoài nước. - Thúc đẩy sự phát triển thương mại theo chiều rộng đồng thời chuyển nhanh sang phát triển theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả thúc đẩy nền kinh tế phát triển của thương mại. - Khai thác tối đa mọi lợi thế và nguồn lực của đất nước để phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh, đồng thời thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp thương mại lớn có mạng lưới kinh doanh rộng, hệ thống phân phối hiện đại, giữ vai trò định hướng phát triển sản xuất và tiêu dùng. Phân tích cơ cấu thương mại Việt Nam thời kỳ 1991 - 2009 Sau một nửa thập kỷ khởi động công cuộc đổi mới và định hình các cơ chế, chính sách để vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thương mại nước ta trong thời kỳ 1991-2009 đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến những thay đổi rất quan trọng về cơ cấu trên tất cả các phương diện.
Cơ cấu thương mại trong nước và xuất, nhập khẩu Xét dưới góc độ đầu ra cuối cùng của nền kinh tế, thương mại bao gồm hai bộ phận chủ yếu là thương mại bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng (TMBLHH & DVTD) trong nước, thể hiện ở tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng và xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (XK HH & DV) ra thị trường thế giới, còn ở phía đầu vào của nền kinh tế là nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (NK HH & DV) từ thị trường thế giới. Sự phát triển của hai đầu ra này cùng với nhập khẩu có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của nền kinh tế. Một cách tổng quát, mặc dù đã có những bước thăng trầm, nhưng cả thương mại trong nước và xuất, nhập khẩu đều đã phát triển rất nhanh trong gần hai thập kỷ qua, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu thương mại. Ở phía đầu ra, XK HH & DV trong 19 năm qua đã tăng bình quân 17,76%/năm, cao gấp 2,39 lần nhịp độ tăng trưởng kinh tế (7,43%/năm), còn 5 TMBLHH & DVTD (cùng tính bằng USD như xuất, nhập khẩu) cũng đã đạt nhịp độ tăng trưởng 16,73%/năm, cao gấp 2,25 lần nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
Mặc dù vậy, trong khi XK HH & DV những năm gần đây đã tăng trưởng chậm lại, TMBLHH & DVTD đã khôi phục được đà tăng trưởng khả quan, nên đã giữ vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cụ thể, XK HH & DV trong 5 năm 1991 - 1995 tăng bình quân 19,32%/năm, 5 năm tiếp theo 1996 - 2000 tiếp tục tăng và đạt đỉnh 20,34%/năm, nhưng trong 5 năm 2001 - 2005 chỉ còn tăng 16,49%/năm và 4 năm gần đây tiếp tục giảm xuống còn 14,30%/năm do bị tác động rất mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính và thế giới. Trong khi đó, theo chiều ngược lại, sau khi tăng kỷ lục 31,37%/năm trong 5 năm 1991 - 1995, TMBLHH & DVTD đã giảm xuống chỉ còn 2,37%/năm trong những năm cuối của thập kỷ này, nên bình quân trong 10 năm này chỉ tăng 15,97%/năm và 5 năm 2001 - 2005 đã bắt đầu bước vào giai đoạn hồi phục, nhưng cũng chỉ đạt được nhịp độ tăng trưởng 14,30%/năm, còn 4 năm gần đây đã đạt được nhịp độ tăng trưởng rất đáng khích lệ 21,84%/năm, cho nên bình quân 9 năm đã đạt được nhịp độ tăng trưởng cao hơn của XK HH & DV (17,59%/năm so với 15,51%/năm) và bình quân 19 năm tăng 16,73%/năm, gần tương đương nhịp độ tăng 17,76%/năm của xuất khẩu. Nhịp độ tăng trưởng bình quân của kim ngạch XK và bán lẻ HHDV (%/năm) 35 30 Xuất khẩu 25 hàng hóa và dịch vụ 20 31.3 và dịch vụ 5 2.37 0 1991-1995 1996-2000 1991-2000 2001-2005 2006-2009 2001-2009 1991-2009 Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam và tính toán của nhóm tác giả Tính chung lại, nhịp độ tăng trưởng bình quân của hai thị trường đầu ra này trong thập kỷ 90 đạt 17,82%/năm, cao gấp 2,35 lần nhịp độ tăng trưởng kinh tế (7,57%/năm), còn trong 9 năm gần đây đã phát triển chậm lại khá rõ, còn 16,54%/năm và nhịp độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm gần tương ứng xuống chỉ còn 7,27%/năm và hệ số giữa hai nhịp độ tăng này cũng giảm chút ít xuống còn 2,27 lần.
Với những động thái như vậy, năm 1991, doanh thu BLHH & DVTD vượt trội so với kim ngạch XK HH & DV (3,469 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 59,49% so với 2,363 tỷ USD và chỉ chiếm 40,51%), đến năm 2000, kim ngạch XK HH & DV đã bắt đầu lớn hơn (kim ngạch XK HH & DV đã đạt 17,175 tỷ USD và 6 chiếm 52,43%, trong khi TMBLHH & DVTD chỉ đạt 15,580 tỷ USD và chỉ còn chiếm 47,57%) và khoảng cách này càng được nới rộng vào năm 2008, khi kim ngạch XK HH & DV đạt tới mức 69,725 tỷ USD và chiếm 54,69%, còn TMBLHH & DVTD chỉ đạt 57,761 tỷ USD và chỉ chiếm 45,31%. Thế nhưng, năm 2009, do phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, XK HH & DV lần đầu tiên đạt nhịp độ tăng trưởng “âm” 9,84% kể từ khi mất hầu như toàn bộ thị trường xuất khẩu truyền thống do sự sụp đổ của phe XHCN năm 1991 và giảm rất mạnh xuống 62,862 tỷ USD, chiếm 48,41%, trong khi doanh thu BLHH & DVTD tuy chỉ tăng 15,97%, nhưng vẫn đạt 66,983 tỷ USD, vươn lên chiếm 51,59% và lớn hơn kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ 4,301 tỷ USD và 6,86%. Hình 2 Cơ cấu XK và bán lẻ năm 1991 Cơ cấu XK và bán lẻ năm 2000 40.5% Tỷ trọng Tỷ trọng của xuất 47.4% của xuất khẩu 59.5% Tỷ trọng Tỷ trọng của bán lẻ của bán lẻ Cơ cấu XK và bán lẻ năm 2008 Cơ cấu XK và bán lẻ năm 2009 45.4% Tỷ trọng của xuất 51.7% khẩu khẩu Tỷ trọng Tỷ trọng của bán của bán lẻ lẻ Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam và tính toán của nhóm tác giả Như vậy, nếu coi thương mại là nguồn động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, thì trong 19 năm qua, vai trò của thị trường xuất khẩu nói chung vẫn ngày càng mạnh lên, trong khi vai trò của thị trường trong nước có những giai đoạn rất mờ nhạt, nhưng khi phải đối mặt với những tác động bất lợi lớn từ thị trường thế giới, xuất khẩu giảm mạnh, thì sự vững mạnh của thị trường trong nước lại giữ vai trò đặc biệt quan trọng. 7 Trong khi XK HH & DV tăng nhanh hơn TMBLHH & DVTD ở hai đầu ra của nền kinh tế, để đáp ứng cho các nhu cầu này, cũng như cho các nhu cầu của nền kinh tế nói chung, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (NK HH & DV) trong 19 năm qua vẫn tăng nhanh, mặc dù đã có xuất phát điểm cao hơn hẳn so với XK.
Cụ thể, tổng kim ngạch NK HH & DV năm 1990 đạt 3,535 tỷ USD, cao hơn 721 triệu USD và 25,62% so với tổng kim ngạch XK HH & DV và gần bằng TMBLHH & DVTD (3,541 tỷ USD) trong năm này. 19 năm qua, NK HH & DV vẫn tăng bình quân 17,59%/năm, xấp xỉ với nhịp độ tăng của XK HH & DV (17,76%/năm) và cao hơn so với của TMBLHH & DVTD (16,73%/năm), nên quy mô NK HH & DV càng ngày càng vượt trội so với quy mô của cả XK HH & DV và TMBLHH & DVTD.